BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
--------------------
Nguyễn Văn Ty
VAI TRÒ CỦA NHÂN DÂN TRONG XÂY
DỰNG VÀ BẢO VỆ CHIẾN KHU Đ
(1954 -1975)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
TP. Hồ Chí Minh – năm 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
--------------------
Nguyễn Văn Ty
VAI TRÒ CỦA NHÂN DÂN TRONG XÂY
DỰNG VÀ BẢO VỆ CHIẾN KHU Đ
(1954 -1975)
Chuyên ngành : Lịch Sử Việt Nam
Mã số
: 60 22 54
Quân khu 7, Trung tâm lưu trữ Quốc gia II, Ban quản lý di tích Trung ương cục miền Nam,
Ban quản lý di tích Khu ủy miền Đông Nam Bộ, Ban tuyên giáo tỉnh Đồng Nai, Ban tuyên
giáo tỉnh Bình Dương, Ban tuyên giáo huyện Tân Uyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi
được tiếp cận đến nguồn tài liệu gốc để nghiên cứu đề tài.
Mặc dù, tôi đã giành nhiều thời gian, có nhiều cố gắng để hoàn thành luận văn bằng tất
cả trách nhiệm và niềm say mê, nhưng do năng lực của bản thân, đề tài sẽ không tránh khỏi
những hạn chế nhất định, rất mong nhận được sự đóng góp quý báu từ quý thầy cô.
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ..................................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu ............................................................................................. 3
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ..................................................................................... 3
4. Nguồn tư liệu........................................................................................................... 5
5. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................................ 6
6. Giới hạn đề tài nghiên cứu ..................................................................................... 6
7. Đóng góp khoa học của luận văn ........................................................................... 6
8. Kết cấu của luận văn ............................................................................................... 7
Chương 1. CÁC YẾU TỐ CHI PHỐI ĐẾN VAI TRÒ CỦA NHÂN DÂN VÙNG CHIẾN
KHU Đ TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ, GIAI ĐOẠN 1954-1975 ............. 8
1.1. Điều kiện địa lý và vị trí chiến lược của vùng đất Chiến khu Đ....................... 8
1.1.1. Địa lý tự nhiên ........................................................................................... 8
1.1.2. Địa lý quân sự.......................................................................................... 10
1.2. Phạm vi và tên gọi của Chiến khu Đ qua các thời kỳ...................................... 13
1.3. Dân cư và truyền thống yêu nước của nhân dân vùng Chiến khu Đ .............. 14
1.4. Chủ trương Đảng ta về vai trò của nhân dân trong chiến tranh giải phóng ... 16
1. Lí do chọn đề tài
Chiến khu Đ là địa bàn “bản lề” chuyển tiếp từ vùng cao nguyên xuống đồng bằng, là
gạch nối giữ vùng rừng núi bạt ngàn Nam Tây Nguyên với Cực Nam Trung Bộ, là cửa ngõ,
là bàn đạp tiến công Sài Gòn từ phía bắc, là đoạn cuối đường mòn Hồ Chí Minh - hành lang
chi viện chiến lược của hậu phương lớn đối với các chiến trường Nam Bộ trong chiến tranh
giải phóng dân tộc.Với địa hình rừng núi hiểm trở, Chiến khu Đ trở thành mật khu căn cứ,
nơi trú dấu lực lượng, kho tàng dự trữ vũ khí, lương thực và phát triển mọi hoạt động của
cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống xâm lược, giải phóng đất nước. Chiến khu Đ
còn được coi như một trung tâm kháng chiến, là nơi ra đời của các lực lượng vũ trang miền
Đông Nam Bộ lập nên những chiến công vang dội, góp phần to lớn vào thắng lợi vẻ vang
của cả nước trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và Mỹ xâm lược, ở từng giai đoạn
lịch sử, Chiến khu Đ có phạm vi rộng hẹp khác nhau. Thời kỳ chống Pháp, lúc đầu có tên
gọi là chiến khu Đất Cuốc hay chiến khu Lạc An, được thành lập vào tháng 2 năm 1946,
gồm 5 xã là: Tân Hòa, Mỹ Lộc, Tân Tịch, Thường Lang, Lạc An, thuộc quận Tân Uyên,
tỉnh Biên Hòa (nay là huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương). Từ năm 1948, Chiến khu Đ được
mở rộng, là nơi đứng chân của cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể, lực lượng vũ trang của
nhiều huyện thuộc tỉnh Biên Hòa, tỉnh Thủ Dầu Một. Trong kháng chiến chống Mỹ, trung
tâm chiến khu được chuyển dần lên phía bắc, đến đầu năm 1975, sau khi tỉnh Phước Long
được giải phóng, Chiến khu Đ được mở rộng nối liền Nam Tây Nguyên và Cực Nam Trung
Bộ với Nam Bộ; là đầu mối giao thông chiến lược quan trọng từ Trung ương vào Nam Bộ,
là nơi đứng chân của các cơ quan Đảng, chính quyền, mặt trận, lực lượng vũ trang từ các
huyện, tỉnh, quân khu ở miền Đông Nam Bộ đến toàn miền. Nhìn tổng quan Chiến khu Đ là
một vùng đất đai rộng lớn, không bị gián đoạn, nằm trên triền đất thoải dần từ cao nguyên
miền Trung chạy về phía Nam, nối liền rừng núi của nam Tây Nguyên và Cực Nam Trung
Bộ xuống giáp với các đô thị lớn như Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Sài Gòn. Trải qua hai cuộc
kháng chiến, diễn biến phạm vi vùng chiến khu có nhiều thay đổi, nhưng danh từ Chiến khu
Đ luôn gắn bó với cán bộ, chiến sĩ và đồng bào ở đây như máu thịt. Đối với nhân dân cả
nước, ngày nay Chiến khu Đ không đơn thuần là một địa danh lịch sử mà còn là một biểu
tượng hào hùng của Việt Nam, một Việt Bắc của Nam Bộ thành đồng Tổ quốc.
vai trò của nhân dân địa phương trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ không chỉ là trách
nhiệm của một công dân mà còn để góp phần làm phong phú thêm về kiến thức của mình
phục vụ cho công tác nghiên cứu giảng dạy lịch sử. Đó cũng chính là lý do tôi chọn đề tài:
“Vai trò của nhân dân trong xây dựng và bảo vệ Chiến khu Đ (1954 -1975)” để làm
luận văn tốt nghiệp.
2. Mục đích nghiên cứu
- Sưu tầm tư liệu (gồm tư liệu thành văn và tư liệu trí nhớ), hệ thống hoá tư liệu phục
vụ cho công tác nghiên cứu, tham khảo các đề tài có liên quan.
- Bước đầu nghiên cứu, đánh giá một cách hệ thống và toàn diện về vai trò của nhân
dân vùng Chiến khu Đ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.
- Từ đó rút ra một số đặc điểm và bài học kinh nghiệm phục vụ cho nhiệm vụ tập hợp
và phát huy vai trò của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
hiện nay trên vùng đất Chiến khu Đ xưa.
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đề tài căn cứ địa, hậu phương trong chiến tranh giải phóng luôn nhận được sự quan
tâm rộng rãi của các cơ quan nghiên cứu và các nhà khoa học. Đã có nhiều công trình khoa
học, luận án, bài viết nghiên cứu có đề cập đến vai trò của nhân dân đối với căn cứ địa nói
chung và Chiến khu Đ nói riêng.
Từ thực tiễn về vấn đề xây dựng hậu phương và căn cứ địa trong 9 năm kháng chiến
chống Pháp, trong tác phẩm “Ngọn cờ giải phóng” (Nxb, Sự thật H.1960), Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã dành một số trang bàn về căn cứ địa, đã đưa ra khái niệm và các nội dung xây dựng
căn cứ địa trong kháng chiến chống xâm lược. Cuộc kháng chiến chống Mỹ đã để lại nhiều
kinh nghiệm quý báu cho vấn đề xây dựng căn cứ và lí luận về căn cứ địa. Trong các tác
phẩm “Thư vào Nam” (Nxb Sự thật, H.1985) và “Về chiến tranh nhân dân Việt Nam” (Nxb
Chính trị quốc gia, H.1993), Tổng bí thư Lê Duẩn đã nêu lên những vấn đề cơ bản về đường
lối cách mạng của Đảng ta về vận động sức mạnh của quần chúng nhân dân tham gia vào
quá trình đấu tranh chống lại kẻ thù xâm lược, phát động nhân dân tham gia giữ gìn và bảo
vệ lực lượng cách mạng, xây dựng căn cứ cách mạng. Trong các tác phẩm;“Mấy vấn đề về
lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội, trong đó có vai trò của nhân dân vùng
Chiến khu Đ.
Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu lịch sử cấp Trung ương và địa phương
có đề cập đến Chiến khu Đ được đăng trong các hội nghị khoa học, các tạp chí chuyên
ngành và trên các trang World Wide Web.
Tựu trung, các công trình nghiên cứu nêu trên đã đề cập đến đề tài căn cứ địa nói
chung, Chiến khu Đ nói riêng. Các tác giả đã lí giải khái niệm căn cứ địa, nội dung xây
dựng căn cứ địa và vai trò của căn cứ địa nói chung và với cuộc kháng chiến chống Mỹ nói
riêng, đã nêu lên những khái quát chung về đóng góp của nhân dân ở từng địa phương trong
cuộc chiến tranh giải phóng…Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu chuyên
khảo một cách có hệ thống và đầy đủ về vai trò của nhân dân địa phương trong xây dựng và
bảo vệ Chiến khu Đ thời kỳ chống Mỹ. Dù vậy, những tác phẩm nêu trên là nguồn tài liệu
phong phú và hết sức quý giá để tôi tham khảo nghiên cứu, kế thừa và phát triển hoàn thành
luận văn của mình.
4. Nguồn tư liệu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi đã tiếp cận các ngồn tài liệu sau đây:
- Tài liệu lí luận về chiến tranh nhân dân, căn cứ địa và hậu phương trong chiến tranh
được đề cập trong các tác phẩm lý luận của C.Mác - V.Lênin, Hồ Chí Minh, các tác phẩm
của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội và một số bài viết của các nhà nghiên
cứu trong và ngoài quân đội nói về chiến tranh, hậu phương của căn cứ địa được lưu tại các
thư viện như: Thư viện trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, thư viện Đại học
khoa học xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, thư viện khoa học Tổng hợp thành
phố Hồ Chí Minh, thư viện tỉnh Đông Nai, thư viện tỉnh Bình Dương, thư viện Tân Uyên.
- Các văn bản, tư liệu gốc, chỉ thị, nghị quyết của Trung ương Đảng, Xử ủy, Trung
ương Cục, tỉnh ủy; các báo cáo tổng kết về tình hình hoạt động của ta, địch về các mặt trong
từng giai đoạn, từng năm, từng quý của B2, Quân khu 7, các tỉnh, huyện, xã; các chuyên đề
về xây dựng căn cứ và vùng giải phóng… Những tài liệu này được lưu trữ tại Ban khoa học
quân sự thuộc Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bình Dương; Phòng lịch sử Đảng, Ban tuyên giáo
được giải phóng (tháng 4 năm 1975).
6.2. Giới hạn nội dung đề tài
Trên cơ sở lịch sử Chiến khu Đ nói chung, luận văn đi sâu nghiên cứ vai trò của nhân
dân địa phương trong vùng được thể hiện chủ yếu trên ba mặt:
- Tham gia xây dựng căn cứ địa.
- Tham gia bảo vệ căn cứ địa.
- Xây dựng, phát triển đời sống mọi mặt (chính trị, quân sự, văn hóa -xã hội).
7. Đóng góp khoa học của luận văn
Trên cơ sở kế thừa thành quả các công trình nghiên cứu của những người đi trước,
luận văn đã góp phần giải quyết một số vấn đề tiếp theo như sau:
- Trình bày một cách toàn diện và có hệ thống vai trò của nhân dân địa phương trong
xây dựng, bảo vệ và hoạt động mọi mặt ở Chiến khu Đ.
- Bước đầu nêu một số đặc điểm về vai trò của nhân dân vùng Chiến khu Đ trong
kháng chiến chống Mỹ; từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm về phát huy vai trò của
quần chúng nhân dân địa phương trên vùng Chiến khu Đ xưa vận dụng vào điều kiện hiện
nay.
- Sưu tầm, hệ thống hóa, giới thiệu tư liệu từ nhiều nguồn khác nhau phục vụ cho công
tác nghiên cứu, giáo dục truyền thống, và giảng dạy học sinh về lịch sử địa phương hiện
nay.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nôi dung chính của luận
văn được chia thành 3 chương chính sau đây:
Chương 1. Các yếu tố chi phối đến vai trò của nhân dân vùng Chiến khu Đ trong
kháng chiến chống Mĩ, giai đoạn 1954-1975.
Chương 2. Vai trò của nhân dân địa phương trong xây dựng và bảo vệ Chiến khu Đ,
giai đoạn 1954 -1965.
Chương 3. Vai trò của nhân dân địa phương trong xây dựng và bảo vệ Chiến khu Đ,
giai đoạn 1965-1975.
rừng tre lồ ô bạt ngàn dọc triền bắc sông Bé; và nhiều cây thuốc quý như hà thủ ô, bạch
truật, cam thảo, đằng đằng, đằng sâm, sâm đốt trúc, cây cu li, mã tiền. Ngoài ra, còn có
những cây lá, củ, quả ăn được như củ mài, củ nầng, củ chụp, măng tre, cải trời, tàu bay, lá
bép, lá bướm. Có nhiều loại động vật nhiệt đối, từ thú lớn như voi, cọp, gấu, beo, trâu rừng,
nai, tê giác đến các loại thú vừa như hươu, mễn, heo rừng, khỉ, chồn, cheo và hàng ngàn loài
chim muông. Một bộ phận chiếm diện tích không nhỏ ở Chiến khu Đ là rừng cây cao su. Có
nhiều đồn điền cao su được thay thế cho hàng vạn hécta rừng tự nhiên, rừng cao su ra đời từ
đầu thế kỷ 20 và trong thời kỳ 9 năm chống Pháp như; đồn điền Đa Kia, Thuận lợi, Phú
Riềng…
Chiến khu Đ nằm trên lưu vực của hai sông lớn. Sông Đồng Nai bắt nguồn từ cao
nguyên Lâm Viên (Lâm Đồng) dài 635 km, chia làm 2 đoạn chảy qua Chiến khu Đ. Đoạn từ
rừng Cát Tiên đến Vĩnh An dài khoảng 80 km, lòng sông rộng trung bình 90-120 mét, sâu
hàng chục mét. Bờ sông đứng, có nhiều ghềnh thác và đá ngầm hiểm trở. Đoạn từ Vĩnh An
về thị trấn Tân Uyên dài 80 km, chảy qua bậc thềm Trị An, lòng sông sâu, rộng, thuận lợi
cho phương tiên giao thông qua lại trên sông. Một chi lưu quan trọng của sông Đồng Nai là
sông Bé, giáp với sông Đồng Nai từ ngã ba Hiếu Liêm, vươn ngoằn ngoèo lên phía bắc đến
suối Brêlin. Sông Bé dài 360 km, là phụ lưu của sông Đồng Nai, bắt nguồn từ vùng đồi núi
tỉnh ĐarLac do chảy uốn khúc và nhập vào sông Đồng Nai ở Hiếu Liêm. Đoạn sông này dài
60 km, lòng sông rộng trung bình 30 mét, sâu hàng chục mét. Sông, suối ở Chiến khu Đ nổi
tiếng là nhiều cá, sông Đồng Nai có cá sấu, vùng hạ lưu sông Bé có cá sơn đài, mỗi con
nặng từ 20-40 kg. Ngoài ra, sông Đồng Nai và sông Bé có nhiều thác nổi tiếng với tiềm lực
thuỷ điện cao như: Thác Trị An, thác Trời, thác Mơ, Cần Đơm, Róc Đồng, thác Thanh
Niên…Trong lòng chiến khu có nhiều bàu như: Bàu Cá Trê, bàu Ông Yểng, bàu Phụ Nữ,
bàu Sâu…, có nhiều dòng suối nhỏ chảy qua như: suối Đỉa, suối Voi, có những đoạn suối
vào mùa khô chỉ cần bắt cá bằng tay không. Khí hậu ở Chiến khu Đ cũng có chung những
đặc điểm của vùng nhiệt đới Đông Nam Bộ; nóng quanh năm, mưa nhiều, chia làm hai mùa
rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt
độ trung bình từ 26-27 oc, cao nhất từ 29-30 o c, thấp nhất là 12oc. Lượng mưa trung bình từ
Gòn, thành phố Biên Hòa. Chiến khu Đ tiếp giáp với Tây Nguyên ở phía đông, Campuchia
ở phía bắc, Dương Minh Châu ở phía tây, Sài Gòn ở phía nam, là địa bàn tập trung các
đường giao thông chiến lược và quân sự quan trọng. Về đường bộ có quốc lộ 1,20,13,14,
đường xe lửa; đường sông có sông Đồng Nai, Sông Bé; đường hàng không có sân bay Biên
Hòa. Trong lòng Chiến khu Đ có đoạn cuối đường Trường Sơn nối thông hai miền NamBắc, là nơi cung cấp sức người sức của từ hậu phương lớn cho chiến trường B2 đánh Mỹ và
thắng Mỹ xâm lược.
Đường lối quân sự của Đảng ta là chiến lược tiến công và dùng địa bàn rừng núi để
làm bàn đạp xuất phát tiêu diệt kẻ thù. Do đó, Chiến khu Đ là một trong những căn cứ chiến
lược quan trọng nằm phía đông bắc áp sát với các cơ quan đầu não Mỹ-ngụy ở Sài Gòn. Hệ
thống căn cứ liên hoàn ở miền Đông mà Chiến khu Đ có được coi là cốt lõi, là hậu phương
tại chỗ, trực tiếp của chiến trường Nam Bộ, từ Chiến khu Đ có thể phân phát hàng hóa, vũ
khí, đạn dược từ miền Bắc chi viện ra các vùng căn cứ khác của chiến trường B2 để đánh
Mỹ. Ngoài ra, Chiến khu Đ là cái kho chứa đựng các phương tiện vật chất bảo đảm cho hai
cuộc kháng chiến, hàng hóa chuyển từ miền Bắc vào theo đường Trường Sơn đến, từ
Campuchia sang, từ hướng biển Xuyên Mộc vận chuyển lên được cất giấu tại đây, từ đó
phân phát cho toàn Miền. Nhìn chung, Chiến khu Đ là nơi đầu mối tiếp nhận, cất giấu, phân
phát cơ sở vật chất, kỹ thuật cho chiến trường miền Nam và cho cả chiến trường
Campuchia. Vì vậy, mà Chiến khu Đ đã trở thành hậu cứ, bàn đạp lớn có vị trí chiến lược
quân sự với tầm cỡ cả nước, nơi đây vừa là căn cứ của miền Đông, B2, căn cứ của Bộ tổng
tư lệnh, một trong những hướng tiến công trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Chính tại
Chiến khu Đ, Bộ chỉ huy lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đi đến thắng lợi
trên toàn miền Nam.
Điều quan trọng có được ở đây là giá trị của rừng về mặt quân sự. Trong hai cuộc
kháng chiến, lực lượng vũ trang đã sống và chiến đấu trong rừng, lớn lên với rừng và từ bàn
đạp rừng tiến công đánh bại cả quân Pháp và Mỹ. Rừng là nơi đặt các xưởng quân giới sản
xuất vũ khí của quân khu, là nơi lý tưởng cho chiến tranh du kích phát triển, là địa bàn hoạt
động tác chiến thuận lợi của bộ đội chủ lực. Sự rậm rạp của cây rừng là yếu tố quan trọng
giúp che chở an toàn cho các khu vực hoạt động hoặc di chuyển cho các lực lượng của ta
với Chiến khu Đ, năm 1974, đồng chí Lê Duẩn đã viết: “Vùng giải phóng miền Đông Nam
Bộ nối liền với vùng rừng núi khu 6 hình thành một căn cứ chiến lược thường xuyên uy hiếp
Sài Gòn; từ căn cứ này, quân chủ lực ta sẽ tiến đánh Sài Gòn, thắng địch tại đây và trên
toàn chiến trường Nam Bộ. Như vậy, miền rừng núi Đông Nam Bộ và Khu 6 đối với Sài Gòn
và đồng bằng sông Cửu Long có vị trí tương tự như khu căn cứ Việt Bắc đối với Hà Nội và
đồng bằng Bắc Bộ trước đây trong kháng chiến chống Pháp”[57,348].
Địa hình tại Chiến khu Đ tương đối thuận tiện cho bộ đội sản xuất lương thực và khai
thác nguồn thiên nhiên để tự túc; ngay từ 1956, lực lượng Bình Xuyên ly khai đã về vùng
Suối Linh tổ chức được bốn trại sản xuất. Ngoài việc làm rẫy, ruộng trồng tỉa lúa, ngô,
khoai, sắn, các đơn vị còn tích cực khai thác nguồn thiên nhiên rất phong phú của miền
Đông như săn bắt thú rừng, đánh bắt cá, khai thác các loại củ như củ chụp, củ nần, các loại
trái cây, lá rừng, mật ong, dầu chai (dầu rái), mây tre…phần lớn sản phẩm khai thác được,
các đơn vị đều dùng để ăn, còn lại đem bán để có tiền mua gạo, muối và các vật dụng cần
thiết khác.Với những mặt thuận lợi có được tại Chiến khu Đ để ta khai thác và biến vùng đất
này trở thành nơi để xây dựng căn cứ chiến đấu trường kỳ cho đến ngày toàn thắng. Đóng
góp của Chiến khu Đ vào thắng lợi trong chiến tranh giải phóng đã thể hiện rõ năng lực
khắc phục rất cao những mặt khó khăn, phát huy những ưu điểm thuận lợi của những yếu tố
điều kiện tự nhiên, của quân và dân trong vùng, tạo nên một chiến khu nổi tiếng ngang tầm
với lịch sử của nó.
1.2. Phạm vi và tên gọi của Chiến khu Đ qua các thời kỳ
Trong kháng chiến chống Pháp, Chiến khu Đ chỉ đóng khung trong vòng cung từ
Phước Hòa theo tỉnh lộ 16 đến huyện lỵ Tân Uyên, ở phía tây là sông Bé, phía đông là sông
Đồng Nai. Chiến khu Đ ra đời tháng 2-1946, vị trí lúc này nằm trong xã Tân Hòa, Mỹ Lộc,
Tân Tịch, Thường Lang. Trung tâm là vùng Đất Cuốc. Từ đầu năm 1946-1948; Chiến khu
Đ trở thành căn cứ của khu 7, phạm vi được mở rộng thêm 8 xã nữa, trong đó có các xã như
Tân Long, Lạc An.Trung tâm chuyển về vùng Tân Lợi, khu rừng ấp Phước Hưng là nơi làm
việc của đồng chí Nguyễn Bình. Từ 1948-1950, Chiến khu Đ là căn cứ của khu 7 và tỉnh
Biên Hòa, phạm vi được mở rộng lên Hàng Bài, Cây Bâu, Dình, Tân Long, Chòi Ớt, Hốc
gọi là chiến khu B, Chiến khu Bưng Ô Xã ở Thủ Đức gọi là chiến khu C. Năm 1946, một
chiến khu ra đời kế các chiến khu trên ở vùng Tân Uyên gọi là Chiến khu Đ”[39,3]. Sang
thời kỳ chống Mỹ, do nhu cầu phát triển và xây dựng căn cứ phục vụ cho cuộc kháng chiến
nên việc mở rộng căn cứ cũng được chú trọng, ở miền Đông Nam Bộ đã hình thành nhiều
căn cứ lớn. Lúc này, Chiến khu Đ được mở rộng lên giáp biên giới Việt Nam-Campuchia
được gọi là Khu A. Vùng căn cứ Tây Bắc gồm chiến khu Dương Minh Châu và rừng núi
Tây Ninh được gọi là Khu B. Khu căn cứ Thị Tính, Long Nguyên (Bến Cát) gọi là Khu C.
Các căn cứ núi Mây Tàu, Hắc Dịch, rừng Sác sông La Ngà gọi là Khu E. Mỗi tên gọi trong
từng thời kỳ đều có một cách lý giải khác nhau, nhưng đều đã phản ánh một nội dung
chung, đó là đã có một chiến khu cách mạng vô cùng quan trọng của tỉnh Biên Hòa, ở miền
Đông Nam Bộ và cả của Nam Bộ, tồn tại liên tục, và đã có nhiều đóng góp quan trọng cho
quân và dân ta đánh bại kẻ thù xâm lược suốt trong hai cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc.
1.3. Dân cư và truyền thống yêu nước của nhân dân vùng Chiến khu Đ
Chiến khu Đ là địa bàn đa dân tộc, ngoài người Kinh chiếm đa số còn có đồng bào các
dân tộc anh em. Họ là những người chủ của vùng rừng rậm và vùng đất đỏ phì nhiêu này.
Qua các hiện vật khai quật được tại các di chỉ Vương Dũ, Dốc Chùa, Gò Đá, Suối Linh,
Hiếu Liêm, lòng hồ Trị An… Các nhà khoa học đã xác định; cách đây khoảng 2.500-3.000
năm (thời đại đồng thau phát triển) trên địa bàn Chiến khu Đ đã có con người cư trú. Cùng
với nghề trồng lúa nước của một nền nông nghiệp phát triển, cư dân ở đây đã biết những
nghề thủ công như khai thác đá, đồ gốm, dệt vải, đúc đồng… Cư dân bản địa sống trên vùng
Chiến khu Đ chủ yếu là dân tộc Stiêng, Chơro thuộc ngữ hệ Môn Khơmer. Những dân tộc ít
người hơn là Mơ Nông, Mạ, Tà Mưng, Khơmer... Đến thế kỷ 17, trên vùng đất này đã xuất
hiện những lớp cư dân mới, đó là đồng bào người Kinh từ miền Bắc, miền Trung di cư vào
Nam lập nghiệp. Cuộc nội chiến giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh-Nguyễn kéo dài từ
(1627-1672), họ đã kéo nhau vào Nam để sinh sống, trong đó có những vùng đất như Biên
Hòa, Gia Định, lên vùng Tân Uyên và lan ra cả tỉnh Sông Bé. Năm 1698, Nguyễn Phúc Chu
cử đại thần Nguyễn Hữu Kính đi kinh lược vùng đất mới ở phía Nam. Kính lấy đất Đồng
Phổ (Biên Hòa) lập dinh Trấn Biên, lấy xứ Lộc Đã (Đồng Nai) làm huyện Phước Long, lấy
cao su Phú Riềng, Dầu Tiếng, Lộc Ninh, các lò gốm, thợ thủ công ở thị xã Thủ Dầu Một và
nhân dân nhiều xã ở Tân Uyên liên tục tổ chức đấu tranh, năm 1937, hàng trăm nông dân ở
các xã Mỹ Lộc, Thường Lang, Tân Hòa huyện Tân Uyên biểu tình trước dinh huyện đòi
giảm thuế, hoãn tô…, vùng này về sau trở thành trung tâm của Chiến khu Đ.
Đầu 1945, Xứ ủy cử một số cán bộ về Tân Uyên chọn địa điểm làm tiền trạm xây
dựng căn cứ.Tại Đất Cuốc, công việc xây dựng căn cứ bắt đầu triển khai thì ngày 9-3-1945,
Nhật đảo chính Pháp, việc xây dựng căn cứ ngưng lại. Sau cách mạng tháng Tám, trong khi
nhân dân vùng Chiến khu Đ đang bước vào xây dựng chế độ xã hội mới thì ngày 23-9-1945,
quân Pháp đã tiến hành đánh chiếm trụ sở hành chính Nam Bộ, mở đường cho cuộc chiến
tranh xâm lược trở lại nước ta. Nhân dân vùng Chiến khu Đ lại bước vào 9 năm kháng chiến
chống Pháp, cũng là ngày mở đầu cho cuộc đấu tranh kéo dài 30 năm đồng bào Chiến khu
Đ và cả nước. Chiến khu Đ trở thành nơi xây dựng căn cứ địa cách mạng đầu tiên trong
kháng chiến chống thực dân Pháp và cả trong kháng chiến chống Mỹ, thúc đẩy cuộc đấu
tranh đi đến thắng lợi cuối cùng.
1.4. Chủ trương Đảng ta về vai trò của nhân dân trong chiến tranh giải phóng
Cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta do Đảng ta lãnh đạo để giải phóng dân tộc,
giành độc lập, mở đường đưa Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội, là sự kế tục cuộc đấu
tranh oanh liệt của dân tộc ta trong suốt mấy ngàn năm giữ nước và dựng nước. Đường lối
đó không thể tách rời sự tham gia đóng góp của nhân dân.Trong quá trình đấu tranh lâu dài
dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã tích lũy được kinh nghiệm chiến đấu phong phú
về nhiều mặt; về hình thức chiến tranh xâm lược, phương thức đấu tranh là sử dụng bạo lực
cách mạng để giành và giữ chính quyền, giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc; về điều
kiện, hoàn cảnh lịch sử bên trong và bên ngoài. Từ những điều nói trên, có thể nên lên
những chủ trương cơ bản của cuộc chiến tranh mà nhân dân ta tiến hành dưới sự lãnh đạo
của Đảng như sau:
Trước hết, Chủ trương của Đảng ta về chiến tranh nhân dân đó là chiến tranh chính
nghĩa, chiến tranh giải phóng dân tộc hoặc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, thực hiện đường lối
chính trị của Đảng. Thực hiện những mục tiêu của cách mạng, vì lợi ích của nhân dân, của
cách mạng kiểu mới phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của nước ta, là thể hiện sự quán triệt
quan điểm bạo lực của quần chúng trong vấn đề xây dựng lực lượng chiến tranh cách mạng.
Nó được kế thừa và phát triển lên một trình độ mới truyền thống cả nước đánh giặc, “trăm
họ ai cũng là binh”,“giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” vốn có từ lâu đời trong lịch sử chiến
tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước oanh liệt của dân tộc ta. Lênin nói:“Để tiến hành
chiến tranh, phải động viên toàn bộ mọi lực lượng trong nhân dân. Phải biến cả nước thành
một dinh lũy cách mạng.Tất cả hãy chi viện cho chiến tranh” [114,35]. Động viên và tổ
chức toàn dân tham gia khởi nghĩa và chiến đấu là một quá trình giáo dục, tổ chức quần
chúng sâu rộng và liên tục của Đảng ta từ thấp đến cao theo một đường lối cách mạng đúng
đắn. Lực lượng chính trị là cơ sở để hình thành và phát triển các lực lượng vũ trang cách
mạng của nhân dân. Để bảo đảm cho lực lượng vũ trang ta ngày càng đánh càng mạnh và
càng thắng to trong một cuộc chiến tranh lâu dài và quyết liệt, chúng ta thực hiện phương
châm vừa chiến đấu vừa xây dựng và phát triển lực lượng. Nhằm động viên cả dân tộc trở
thành một khối vững chắc, một tập thể gang thép được phân công chiến đấu một cách liên
tục tiến công địch và đánh thắng mọi đội quân xâm lược dù cho chúng tàn bạo, có quân
đông và trang bị hiện đại.
Thứ ba, Chủ trương của Đảng ta là xây dựng cơ sở chính trị, xây dựng căn cứ địa và
hậu phương vững mạnh của chiến tranh nhân dân. Hậu phương là nhân tố thường xuyên
của thắng lợi, vì hậu phương là nguồn cung cấp sức người, sức của cho chiến tranh, là
nguồn động viên, cổ vũ về chính trị-tinh thần cho tuyền tiến. Không có một hậu phương
vững mạnh thì tuyền tiến không thể đánh thắng giặc. Đó là quy luật chung của mọi cuộc
chiến tranh. Để cho công tác xây dựng cơ sở chính trị, xây dựng căn cứ địa và hậu phương
ngày càng vững mạng. Đảng ta chủ trường, triệt để dựa vào nhân dân, đi từ xây dựng cơ sở
chính trị của quần chúng đến xây dựng căn cứ địa và hậu phương từ không đến có, từ nhỏ
đến lớn, từ chưa hoàn chỉnh đến ngày càng hoàn chỉnh. Dựa vào lực lượng cách mạng cả ở
nông thôn và thành thị, xây dựng căn cứ địa và hậu phương vững chắc ở nông thôn. Đồng
thời xây dựng cơ sở cách mạng ở thành thị, kết hợp hậu hương tại chỗ ở khắp nơi với hậu
phương chung của cả nước, phát huy mạnh mẽ tinh thần tích cực tiến công, ra sức củng cố
căn cứ địa và hậu phương một cách toàn diện, tích cực chiến đấu để bảo vệ hậu phương ta
trên cả ba vùng chiến lược với những hình thức thích hợp. Đây là một nội dung quan trọng
trong phương thức tiến hành chiến tranh cách mạng của ta. Kết hợp việc tiêu diệt địch với