một số biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động tự học của sinh viên khoa lý trong quá trình giảng dạy môn điện đại cương - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯƠNG ĐÌNH TÒA

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA
SINH VIÊN KHOA LÝ TRONG QUÁ TRÌNH
GIẢNG DẠY MÔN ĐIỆN ĐẠI CƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ VẬT LÝ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2003



LỜI CẢM ƠN:

Là học viên cao học khóa 11, chúng tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc nhất đến:
- Ban giám hiệu trường đại học sư phạm Thành Phố Hồ Chí Minh.
- Phòng Khoa học công nghệ - Sau đại học.
- Ban chủ nhiệm Khoa Vật lý.
Đã tạo điều kiện giúp đỡ cho chúng tôi trong quá trình làm luận văn. Cảm ơn các thầy cô
đã tận tình giảng dạy trong suốt thời gian học tập. Cảm ơn các đồng nghiệp, các em sinh viên
đã góp ý kiến cho luận văn.
Đặc biệt,chúng tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tiến sĩ Phạm Thế Dân đã tận tình
hướng dẫn và giúp đỡ cho chúng tôi hoàn thành luận văn.
Luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi mong được góp ý kiến của các
thầy cô và các bạn đồng nghiệp.
Sau cùng, chúng tôi cảm ơn hội đồng chấm luận văn cao học. Một lần nữa xin kính chúc
sức khỏe đến các thầy cô.

5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.............................................................................................. 10
6.CÁC QUAN ĐIỂM PHƯƠNG PHÁP LUẬN. ................................................................... 10
7.CÁC PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH NGHIÊN CỨU...................................................... 11
7.1.Phương pháp nghiên cứu lý luận: ................................................................................. 11
7.2.Phương pháp quan sát phóng vấn : ............................................................................... 11
7.3.Phương pháp điều tra. ................................................................................................... 11
7.4.Phương pháp tổng kết kinh nghiệm. ............................................................................. 12
7.5.Phương pháp thực nghiệm sư phạm. ............................................................................ 12
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN VÀ
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ
PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH. .................................................................................. 13
1.1.Lịch sử nghiên cứu vấn đề tự học. .................................................................................. 13
1.2.Những cơ sở lý luận về hoạt động tự học và tổ chức hoạt động tự học của sinh viên . 18
1.2.1.Khái niệm và đặc điểm hoạt động tự học của sinh viên ............................................ 18
1.2.2.Tổ chức hoạt động tự học của sinh viên. ................................................................... 19

5


1.2.3.Vị trí, vai trò tự học của sinh viên trong quá trình đào tạo ở trường đại học sư phạm.
............................................................................................................................................ 19
1.2.4.Vai trò của động cơ tự học. ........................................................................................ 21
1.2.5. Kỹ năng tự học là yếu tố cần thiết cho việc tổ chức hoạt động tự học của sinh viên.
............................................................................................................................................ 22
1.2.6. Hoạt động tự học của sinh viên trong trường đại học. ............................................. 24
1.2.6.1.Mối quan hệ giữa người dạy và người học trong quá trình tự học của sinh
viên. ................................................................................................................................. 24
1.3.Thực trạng về hoạt động tự học của sinh viên Trường Đại học sư phạm Thành phố
Hồ Chí Minh. ......................................................................................................................... 31
1.3.1.Nhận thức về vị trí và vai trò của hoạt động tự học: ................................................. 32

môn điện đại cương. ........................................................................................................... 57
2.2.4.Biện pháp thứ tư: Thiết kế hệ thống bài tập vật lý nhằm tố chức hoạt động tự học
cho sinh viên. ...................................................................................................................... 58
2.2.5.Biện pháp thứ năm: Tổ chức cho sinh viên giải quyết nhiệm vụ học tập theo đề tài
xêmina. ............................................................................................................................... 59
2.2.6.Biện pháp thứ 6: Thực hiện kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động tự học của sinh
viên. .................................................................................................................................... 61
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM. ........................................................................... 65
3.1.Khái quát về thực nghiệm sư phạm. ............................................................................... 65
3.1.1.Mục đích và phạm vi thực nghiệm. ........................................................................... 65
3.1.2.Đối tượng thực nghiệm và đối chứng. ....................................................................... 65
3.1.3.Qui trình thực nghiệm................................................................................................ 66
7


3.1.3.1.Tìm hiểu đối tượng: .................................................................................... 66
3.1.3.2.Biên soạn tài liệu gồm: ............................................................................... 66
3.1.3.3.Xác định chuẩn và thang đánh giá:............................................................. 67
3.1.3.4.Tiến hành tác động sư phạm: ...................................................................... 67
3.1.3.5.Đánh giá kết quả tác động sư phạm............................................................ 67
3.2.Kết quả thực nghiệm sư phạm. ....................................................................................... 69
3.2.1.Phân tích kết quả các bài kiểm tra. ............................................................................ 69
3.2.2.Phân tích kết quả bài thi cuối học kì.......................................................................... 75
KẾT LUẬN: ............................................................................................................................... 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO: ....................................................................................................... 82
PHẦN PHỤ LỤC ....................................................................................................................... 85

8




3. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.
- Khách thể nghiên cứu: quá trình tự học của sinh viên năm thứ hai khoa vật lý trường đại
học sư phạm Thành Phố Hồ Chí Minh.
- Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp tổ chức hoạt động tự học của sinh viên khoa vật lý
trường đại học sư phạm Thành Phố Hồ Chí Minh .
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC.
Chất lượng tự học của sinh viên khoa vật lý trường đại học sư phạm có thể được nâng cao
nếu phối hợp một cách khoa học, hợp lý việc giáo dục động cơ học tập, bồi dưỡng kỹ năng tự
học và tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.
- Tìm hiểu cơ sở lý luận của hoạt động tự học nói chung và hoạt động tự học của sinh viên
vật lý trường đại học sư phạm nói riêng.
- Khảo sát hoạt động tự học của sinh viên Trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí
Minh.
- Tìm kiếm và đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng tự học của sinh viên Khoa Vật
lý Trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh trong qúa trình giảng dạy bộ môn điện đại
cương nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo sinh viên.
6.CÁC QUAN ĐIỂM PHƯƠNG PHÁP LUẬN.
Hoạt động tự học của sinh viên là một bộ phận hữu cơ của quá trình dạy học ở đại học và
có vai trò quan trong đối với việc phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của sinh viên và chất
lượng đào tạo của các trường đại học.
Hoạt động tự học của sinh viên, kể cả sinh viên của các trường đại học sư phạm là quá
trình nhận thức tích cực độc lập ở mức độ cao nhưng không tách khỏi hoạt động dạy và vai trò
tổ chức điều khiển và chỉ đạo của giáo viên.
Trong quá trình tự học, sinh viên phải nắm vững và vận dụng linh hoạt hệ thống kỹ năng
tự học nhằm giải quyết hiệu quả các nhiệm vụ học tập.
10



7.4.Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
Phân tích, khái quát hóa các tài liệu lý luận và thực tiễn có liên quan. Trao đổi mạn đàm
với cán bộ, giáo viên, tham dự các buổi sinh hoạt của lớp học về trao đổi kinh nghiệm tự học ...
Qua đó rút ra tài liệu phục vụ cho đề tài.
7.5.Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
Mục đích thực nghiệm: Kiểm tra giả thuyết đã nêu. Nội dung thực nghiệm: Tổ chức các
hoạt động tự học cho sinh viên theo hướng dạy - tự học.
Quy trình thực nghiệm:
- Đề tài nghiên cứu được thực hiện trong điều kiện cụ thể của Khoa Vật lý Trường đại học
sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
- Xác định chuẩn và thang đánh giá.
- Chọn lớp thực nghiệm và lớp đối chứng.
- Tiến hành các tác động sư phạm đối với lớp thực nghiệm.
- Kiểm tra đánh giá các kết quả tác động sư phạm.
- Phân tích kết quả.

12


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH
VIÊN VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.
1.1.Lịch sử nghiên cứu vấn đề tự học.
1.1.1.Tư tưởng về vấn đề tự học của người học đã có từ lâu trong lịch sử giáo dục học.
Ngay từ thời kỳ cổ đại nhiều nhà giáo dục học cũng đã nhận thấy vai trò quan trọng của tự học.
Khổng Tử ( 551 - 479 trước công nguyên ), nhà giáo dục học kiệt xuất của Trung Hoa cổ đại đã
từng nói với học trò của mình là: “Không tức giận vì không muốn biết thì không gợi mở cho,
không bực tức vì không rõ thì không bày vẽ cho. Vật có bốn góc, bảo cho biết một góc mà
không suy ra được ba góc kia thì không dạy nữa”. Ông đòi hỏi học trò phải biết kết hợp nghe
giảng của thầy và tự nghiên cứu tìm tòi để hiểu biết, phải biết phát huy tính năng động chủ

là đã thu hẹp khoảng cách giữa giáo viên và học sinh và tách rời giữa dạy học với giáo dục.
Vào đầu những năm 50, của thế kỷ XX, ở các nước Âu, Mỹ, các nhà giáo dục đã quan
tâm tìm kiếm phương pháp giáo dục mới dựa vào tư tưởng “Lấy học sinh làm nhân vật trung
tâm” (Learner centred approach) do J. Dewey đề xướng [ 8 ] và đã đưa vào thực nghiêm như
“phương pháp tích cực” (Methodes actives), “phương pháp hợp tác” (Methodes
coopeưatives)... Theo phương pháp tích cực hóa, người học không lĩnh hội tri thức bằng nghe
thầy giảng giải mà tự học, tìm tòi qua đó lĩnh hội tri thức và giáo viên gợi sự chú ý ,kích thích,
thúc đẩy cho học sinh tự hoạt động [21]. Như vậy, “Thầy trở thành người trọng tài,đạo diễn,
thiết kế tổ chức việc làm, giúp đỡ học sinh biết cách làm, biết cách học”[ 22 - tr. 37]. Còn theo
phương pháp hợp tác , hoạt động của mỗi cá nhân có mục đích và nhiệm vụ riêng, nhưng do họ
được phối hợp thống nhất với nhau để đạt được mục tiêu chung. Người học hợp tác với nhau để
lĩnh hội tri thức, việc tự học của cá nhân trong tập thể là hoạt động chủ yếu [18 ]. Các phương
pháp theo tư tưởng này đòi hỏi rất cao và chủ yếu dựa vào hoạt động tự học của người học. Tuy
nhiên các phương pháp trên cũng có hạn chế là không thể áp dụng cho mọi loại tri thức, đồng
thời các phương pháp trên đòi hỏi nhiều thời gian, trình độ tổ chức, thiết kế chương trình của
giáo viên, năng lực và tính tự giác của người học...
1.1.3.Ở châu Á cũng có nhiều nhà giáo dục đã quan tâm, chú ý đến hoạt động tự học của
học sinh.
14


Ngay từ những năm 30 của thế kỷ này, nhà sư phạm người Nhật bản là Makiguchi đã có
tác phẩm “giáo dục vì cuộc sống sáng tạo”.Với quan niệm cho rằng: “giáo dục xét như quá
trình hướng dẫn tự học” [ 26 - tr. 19] mà động lực của nó là kích thích người học sáng tạo ra giá
trí để đạt tới hạnh phúc của bản thân và của cộng đồng.
Năm 1986, hai nhà giáo dục Ấn Độ là S.D. Sharma và Shakti R. Ahmed đã có tác phẩm
“Phương pháp dạy học ở đại học”. Trong đó hoạt động tự học được trình bày như là một hình
thức dạy học có hiệu quả cao. Thông qua thực hiện các nhiệm vụ nhận thức được thiết kế để
hoàn thành mục đích, nhiệm vụ dạy học đã được xác định. Đó là quá trình điều khiển hoạt động
tự học của sinh viên một cách gián tiếp [ 35 - tr. 79-123].

- Dưới thời Pháp thuộc, cùng với chính sách xâm lược, khai thác bóc lột nước ta, thực dân
Pháp đã dùng chính sách “ngu dân” để cai trị. Vì vậy chúng ta chỉ được hưởng một nền giáo
dục hạn chế. Mọi động lực kích thích con người độc lập sáng tạo đều bị bóp nghẹt. Hoạt đông
tự học của người học không được chú ý tới. Như Georger Dumontier - tên cáo già thực dân đã
thừa nhận: “Viêc truyền bá một nền học vấn đầy đủ cho người bản xứ là hết sức dại dột [8 tr.10]. Đại đa số người dân mất nước Việt Nam lúc đó đều mù chữ.
- Dưới thời Mỹ - ngụy ở miền Nam, một số nhà giáo dục có tư tưởng tiến bộ đã quan tâm
đến vấn đề tự học như: Thiêm Giang Trần Kim Bảng [4], Nguyễn Duy Cần [8], Nguyễn Hiến
Lê [24],.. Tuy nhiên các tác giả chưa đi sâu vào nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện
hoạt động tự học, nhất là tự học của sinh viên đại học. Họ chỉ mới nêu lên một số phương pháp
tự học mang tính kinh nghiệm cá nhân nhằm giúp người học tự trau dồi học vấn ngoài sự đào
tạo ở nhà trường.
Nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có những bước tiến bộ và đạt được những thành tựu đáng
kể trên nhiều lĩnh vực khác nhau của khoa học giáo dục, trong đó hoạt động tự học của người
học đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm chú ý tới.
- Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những tác phẩm và những bài nói chuyện của người, nhất
là trong lĩnh vực giáo dục đã đề cập rất sâu sắc về vấn đề học tập và tự học của học sinh, của
người cán bộ cách mạng. Chính cuộc đời và sự nghiệp của người là tấm gương sáng ngời về ý
chí quyết tâm trong học tập và rèn luyện để đạt tới đỉnh cao của tài năng và đạo đức. Người
nói: “Phải tự nguyện, tự giác xem công việc học tập là nhiệm vụ của người cách mạng, phải cố
16


gắng hoàn thành cho được, do đó mà tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập” [33tr.187].
- Trong tài liệu hướng dẫn cán bộ giảng dạy trẻ, tác giả Đặng Bá Lãm [18] đã đề xuất các
biện pháp sư phạm của giáo viên để nâng cao chất lượng tự học của sinh viên là: Hướng dẫn
phương pháp tự học, hình thành thói quen đọc sách, có kế hoạch kiểm tra việc tự học của sinh
viên.
Những năm 80 của thế kỷ XX, giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn cùng với một nhóm nhà
nghiên cứu khoa học đã thực hiện đề tài nghiên cứu về hệ đại học vừa học vừa làm để đào tạo
giáo viên và đã đào tạo được nhiều khóa giáo viên phổ thông bằng phương pháp tự học có

diễn ra dưới sự điều khiển gián tiếp của giáo viên, khi đó sinh viên là chủ thể nhận thức tích
cực, phải huy động mọi phẩm chất tâm lý cá nhân tiến hành các hành động học tập để lĩnh hội
tri thức theo sự hướng dẫn của giáo viên.
Khi không có giáo viên điều khiển trực tiếp, sinh viên tự mình sắp xếp kế hoạch, sử dụng
các điều kiện vật chất và nhất là huy động năng lực bản thân để ôn tập, củng cố, đào sâu, mở
rộng và hoàn chỉnh tri thức, hoàn thành nhiệm vụ học tập do giáo viên giao cho. Đồng thời lĩnh
hội tri thức mới. Như vậy là sinh viên tự học dưới sự điều khiển gián tiếp của giáo viên nhằm
hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ dạy học và chương trình đào tạo của nhà trường.
Trong quá trình học tập, ngoài những hoạt động học tập được tiến hành dưới sự tổ chức
và điều khiển của giáo viên, sinh viên còn tiến hành hoạt động tự học nhằm đáp ứng nhu cầu
hiểu biết riêng, bổ sung và mở rộng tri thức ngoài chương trình đào.tạo đã quy định của nhà
trường.
Do mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chỉ xem xét hoạt động tự học
của sinh viên ngoài thời gian lên lớp trong quá tành dạy học và luôn đặt dưới sự tổ chức, điều
khiển gián tiếp của giáo viên nhằm đạt được mục đích dạy học. Hoạt động tự học như vậy là
một hình thức tổ chức dạy học trong mối quan hệ chặt chẽ với các hình thức tổ chức dạy học
khác của quá trình dạy học. Vì vậy, hoạt động tự học được nói tới ở đây là quá trình độc lập, nỗ
lực tìm tòi khám phá tri thức của sinh viên dưới sự tổ chức và điều khiển gián tiếp của giáo
viên nhằm cũng cố, mở rộng, đào sâu những tri thức đã lĩnh hội được. Sự chức, điều khiển của
giáo viên trong trường hợp này được tiến hành thông qua việc giao các nhiệm vụ tự học, các
18


bài tập nhận thức được thiết kế nhằm mục đích giảng dạy và hướng dẫn sinh viên hoàn thành
các nhiệm vụ đó. Sinh viên độc lập thực hiện các hành động tự học do chính nhiệm vụ học tập
đặt ra, nhưng không tách khỏi sự tổ chức điều khiển và kiểm tra của giáo viên. Điều đó thể hiện
rõ môi quan hệ bản chất giữa giáo viên và sinh viên, giữa hoạt động dạy và hoạt động học trong
quá trình dạy học.
1.2.2.Tổ chức hoạt động tự học của sinh viên.
Tổ chức hoạt động tự học của sinh viên bao gồm cả sự tổ chức, điều khiển của giáo viên

dạy và hoạt động học của người học. Người dạy đóng vai trò tổ chức, lãnh đạo, điều khiển và
định hướng hoạt động cho người học. Người học vừa là đối tượng tác động của dạy học, vừa là
chủ thể của quá trình đó. Trong khi các dạng hoạt động khác của con người hướng vào việc làm
thay đổi đối tượng, khách thể của hoạt động thì hoạt động học tập, rèn luyện làm cho chính chủ
thể hoạt động thay đổi. Bằng hoạt động tự học, mỗi học sinh tự hình thành và phát triển nhân
cách của mình, không ai có thể làm thay mặc dù trong dạy học và giáo dục luôn có sự định
hướng của giáo viên. Tác động của người dạy - giáo viên (ngoại lực) chỉ có thể được phát huy
thông qua hoạt động tích cực, tự lực, chủ động sáng tạo của người học - tự học (nội lực). Như
vậy trong quá trình dạy học và đào tạo, tự học có vai trò quan trọng và được biểu hiện ở chỗ:
- Tự học là hoạt động giúp sinh viên lĩnh hội vững chắc hệ thông những tri thức, kỹ năng,
kỹ xảo. Các nhà tâm lý học và giáo dục học trên thế giới vẫn thường nhấn mạnh đến vai trò của
chủ thể trong nhận thức hiện thực khách quan, họ đề cao nguyên lý học và công việc của từng
cá thể. Thực chất của quá trình thu nhận tri thức phải là quá trình tư duy bên trong của bản thân
chủ thể như Anhstanh đã từng nói: “Kiến thức chỉ có được do tư duy của con người” [10]. Quá
trình tự học khác hẳn với quá trình học tập thụ động nhồi nhét, áp đặt theo phương thức thông
tin - tiếp thụ. Quá trình tự học diễn ra đúng quy luật của hoạt động nhận thức, đó là hoạt động
đòi hỏi cá nhân phải phát huy cao độ những phẩm chất và năng lực của mình để phản ánh thế
giới khách quan, đặc biệt là năng lực tư duy trừu tượng. Kiến thức tự học là kết quả của hứng
thú, của tìm tòi, của lựa chọn, của định hướng, ứng dụng. Chính vì vậy mà kiến thức tự học bao
giờ cũng vững chắc, bền lâu, thiết thực và sáng tạo .
Tự học là hoạt động giúp sinh viên rèn luyện để phát triển năng lực nhận thức, hình thành
và phát triển các phẩm chất trí tuệ. Tự học không chỉ giúp cho sinh viên tích lũy được vốn tri
thức, kỹ năng, kỹ xảo mà trong quá trình độc lập giải quyết các thao tác trí tuệ của sinh viên
20


làm cho các thao tác trí tuệ của sinh viên cũng trỏ nến thành thạo và vững chắc, giúp sinh viên
không ngừng phát huy tính tích cực, chủ động trong nhận thức. Từ đó hình thành các phẩm
chất hoạt động trí tuệ cần thiết như: tính định hướng, tính bề rộng, tính chiều sâu, tính linh
hoạt, tính mềm dẻo, tính độc lập, tính phê phán, tính khái quát… Không những vậy, tự học còn

tượng của hoạt động chính là nơi hiện thân của động cơ hoạt động ấy [14].
Mọi động cơ đều có nguồn gốc từ bên ngoài, được hình thành từ những tác động bên
ngoài và được cá nhân hóa thành hứng thú, tâm thế, niềm tin của mỗi cá nhân. Hình thành động
cơ hoạt động cho cá nhân phải bắt đầu từ xây dựng các điều kiện bên ngoài cho phù hợp với
nhận thức tình cảm của cá nhân. Đó chính là quá trình chuyển vào trong của các điều kiện,
những yêu cầu có nguồn gốc từ bên ngoài thành động cơ hoạt động của cá nhân.
Sự nảy sinh động cơ tự học lúc đầu xuất phát từ ý thức trách nhiệm bắt buộc phải hoàn
thành các nhiệm vụ học tập đã thúc đẩy động cơ tự học của sinh viên. Chính trong quá trình tự
học, chính nội dung tri thức khoa học làm nảy sinh trong sinh viên lòng khát khao hiểu biết sâu
sắc, ham muốn và say mê tự nghiên cứu thỏa mãn nhu cầu hiểu biết của mình. Động cơ tự học
không thể áp đặt từ bên ngoài mà phải được hình thành bên trong mỗi cá nhân và trong chính
quá trình sinh viên lĩnh hội tri thức trong học tập. Những động cơ có thứ bậc ngày càng cao sẽ
thúc đẩy mạnh mẽ tính tích cực nhận thức của sinh viên trong tự học.
Như vậy, động cơ tự học của sinh viên quyết định kết quả tự học của họ trong quá trình
đào tạo. Động cơ học tập để có nghề nghiệp bền vững sẽ là cơ sở phát triển động cơ tự học của
sinh viên. Hứng thú nhận thức và nhu cầu phát triển nghề thầy giáo tương lai tạo nên ở sinh
viên sự mong muốn khát khao chiếm lĩnh những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và rèn luyện nghề
nghiệp trong suốt quá trình đào tạo.
1.2.5. Kỹ năng tự học là yếu tố cần thiết cho việc tổ chức hoạt động tự học của sinh viên.
Theo các nhà tâm lý học, kỹ năng tự học là hệ thông những thủ thuật, những thao tác, đảm
bảo cho con người sãn sàng và có năng lực hoàn thành công việc một cách có ý thức, độc lập
với chất lượng cần thiết trong thời gian tương ứng với những điều kiện mới. Nói cách khác kỹ
năng là những phương thức thể hiện hành động thích hợp tương ứng với mục đích và những
điều kiện hoạt động hình thành những thói quen tốt, hạn chế những thói quen xấu trong hoạt
động nói chung và hoạt động tự học của sinh viên nói riêng. Các nhà giáo dục học đã coi kỹ
22


năng học tập của sinh viên là một loại kỹ năng chuyên biệt của hệ thốhg các kỹ năng sư phạm,
sử dụng để lĩnh hội tri thức nói riêng, phát triển trí tuệ nói chung trong quá trình học tập [34].

động này chính là những hành động được tổ chức lại và trở thành phương thức chiếm lĩnh,
hoàn thành các nhiệm vụ tự học khác. Nhờ kỹ năng này mà sinh viên không thụ động tư duy
theo sự dẫn dắt trực tiếp của thầy, không sao chép máy móc những kết luận, những khái niệm,
những định luật, định lý mà họ chiếm lĩnh chúng bằng các hoạt động tự khám phá theo phương
thức riêng của mình. Như vậy, trong quá trình tự học sinh viên luôn tìm được những cách học
phù hợp với điều kiện riêng của mình, vận dụng chúng một cách linh hoạt, sáng tạo trong
những trường hợp cụ thể, những điều kiện cụ thể. Do đó trong hoạt động tự học luôn đòi hỏi ở
sinh viên tính chủ động, tính sáng tạo trong cách học hơn là những tri thức thu lượm được. về
vấn đề này, các nhà tâm lý học đã khẳng định: Mục đích của tự chủ trí tuệ không phải là biết
nhắc lại hay bảo tồn các chân lý đã có, mà phải là học cách chiếm lĩnh các chân lý bằng chính
bản thân mình. Trong giáo dục trí tuệ phải dẫn dắt học sinh tự xây dựng cho mình những công
cụ để làm biến đổi cái chất bên trong, nghĩa là biến đổi thực sự chứ không phải là hình thức bên
ngoài [34].
Vì vậy, để sinh viên thực hiện có kết quả hoạt động tự học, điều quan trọng là sinh viên
phải có đựơc hệ thống các kỹ năng tự học. Chính những kỹ năng tự học giúp cho sinh viên
hoàn thành những nhiệm vụ học tập của mình và làm thỏa mãn những nhu cầu nhận thức của
chính bản thân mình. Và đến lượt nó, chính những nhiệm vụ học tập được sinh viên ý thức đầy
đủ, cùng với sự khao khát tìm tòi chiếm lĩnh tri thức mới lại đặt sinh viên vào tình huống phải
tìm ra những phương thức chiếm lĩnh mới. Như vậy, kỹ năng tự học luôn được hoàn thiện để
giúp sinh viên biến động cơ học tập thành kết quả cụ thể làm cho sinh viên vững vàng hơn, tự
tin hơn trong học tập. Kỹ năng tự học là điều kiện vật chất bên trong tạo ra kết quả học tập.
1.2.6. Hoạt động tự học của sinh viên trong trường đại học.
1.2.6.1.Mối quan hệ giữa người dạy và người học trong quá trình tự học của sinh viên.
Quá trình dạy học ở đại học bao gồm hai hoạt động thông nhất biện chứng với nhau: hoạt
động dạy và hoạt động học. Hoạt động dạy của người thầy giáo nhằm lãnh đạo, tổ chức, điều
khiển quá trình nắm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và nghiên cứu khoa học của người học trong các
lĩnh vực khoa học. Hoạt động của người học là sự tự giác , tích cực huy động mọi chức năng
tâm lý từ cảm giác, tri giác, trí nhớ, tưởng tượng, tư duy đến tình cảm, ý chí hành động nhằm
24





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status