BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
-------------------------------
Nguyễn Xuân Huệ
NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH LỚP 9
VỀ GIÁO DỤC GIỚI TÍNH TẠI MỘT
SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ Ở
QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
-------------------------------
Nguyễn Xuân Huệ
NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH LỚP 9
VỀ GIÁO DỤC GIỚI TÍNH TẠI MỘT
SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ Ở
QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH
Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số:603180
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
-
Trường Trung học cơ sở Phú Thọ.
-
Trường Trung học cơ sở Nguyễn Huệ.
-
Trường Trung học cơ sở Lê Anh Xuân.
Giúp đỡ và tạo điều kiện cho tác giả thực hiện đề tài.
MỘT SỐ TỪ VIẾT TẮT TRONG CÁC BẢNG
-
ĐLTC: độ lệch tiêu chuẩn.
-
TB: trung bình cộng.
-
N: số khách thể tham gia nghiên cứu.
3.1 Giáo dục sức khỏe sinh sản tuổi vị thành niên ................................................79
3.2 Phân biệt giữa nam và nữ. ...............................................................................80
3.3 Sự thay đổi của cơ thể tuổi mới lớn. ...............................................................84
3.4 Tình bạn, tình yêu, tình dục ............................................................................90
3.5 Chăm sóc bản thân và làm chủ bản thân. ........................................................95
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.................................................................................105
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Ý kiến của giáo viên về mục đích của giáo dục giới tính trong nhà
trường........................................................................................................................45
Bảng 2.2. Ý kiến của giáo viên về nội dung giáo dục giới tính cần được thực hiện
trong nhà trường.......................................................................................................48
Bảng 2.3. Đánh giá của giáo viên về mức độ tiếp thu nội dung giáo dục giới tính
khi được truyền đạt...................................................................................................51
Bảng 2.4. Đánh giá của giáo viên về mức độ khó của nội dung giáo dục giới tính
đối với học sinh........................................................................................................53
Bảng 2.5. Đánh giá của giáo viên về lý do đúng trong việc giáo dục giới tính cho
học sinh ở độ tuổi Trung học cơ sở..........................................................................55
Bảng 2.6. Nhận thức của học sinh về mục đích giáo dục giới tính trong nhà
trường.......................................................................................................................57
Bảng 2.7. Đánh giá của học sinh về nội dung giáo dục giới tính được thực hiện
trong nhà trường…………………………………………………………….........60
Bảng 2.8. Đánh giá của học sinh về mức độ tiếp thu những nội dung giáo dục giới
tính khi được truyền đạt……………………………………………………............63
Bảng 2.9. Đánh giá của học sinh về mức độ khó của nội dung giáo dục giới tính đối
với các em……………………………………………………………………….....66
Bảng 2.10. Đánh giá của học sinh về mức độ đúng của lý do giáo dục giới tính ở độ
suồng sã, thiếu tế nhị không phù hợp với lứa tuổi. Ở lứa tuổi lớp 9, các em đã có sự
phát triển về sinh lý. Các em thích tìm tòi, học hỏi những gì liên quan đến sự thay
đổi của cơ thể mà kiến thức bên ngòai thì rất nhiều và đa dạng. Hàng ngày các em
tiếp xúc với nhiều điều tốt xen lẫn điều xấu, điều này bất lợi cho các em khi các em
còn hạn chế hay thiếu hiểu biết về kiến thức giới tính. Thực trạng này không hoàn
toàn do lỗi các em khi các em không được trang bị một cách đầy đủ, khoa học và
chính thức các kiến thức về giới tính và giáo dục giới tính một cách phù hợp với lứa
tuổi của mình.
Gia đình và nhà trường là nơi quan trọng nhất để dạy cho các em hiểu biết về
những kiến thức giới tính và giáo dục giới tính. Thực tế, các bậc cha mẹ không hẳn
ai cũng có hiểu biết đầy đủ và khoa học về giới tính. Nếu có hiểu biết thì họ cũng
không dễ dàng gì đề cập vấn đề này với con cái. Mặt khác, trong các nhà trường
phổ thông hiện nay giáo dục giới tính chưa được xem là một môn học chính khóa
mà chỉ được thực hiện bằng cách lồng ghép vào một số môn học như: Giáo dục
công dân, Sinh học, Đạo đức, kỹ năng sống, sinh hoạt tập thể và hầu hết sách giáo
khoa đang được sử dụng có rất ít nội dung về giáo dục giới tính hay cả thầy, cô giáo
cũng “ngại” khi đề cập đến vấn đề này. Điều này, các em sẽ hạn chế trong nhận
thức về giới tính, về giáo dục giới tính, hiểu biết lệch lạc mà gây ra không ít hệ quả
đáng tiếc. Vì thế, các em cần được học tập về những nội dung giáo dục giới tính phù
hợp với lứa tuổi để các em hiểu biết về chính bản thân mình, các em có ý thức hơn
về cách nghĩ và hành vi của mình, có quan điểm tích cực về tình dục, có trách
nhiệm về những quyết định của chính mình. Từ đó, các em biết định hướng những
giá trị tốt cho bản thân.
Từ thực tế trên, các trường Trung học nói chung và các trường Trung học cơ
sở nói riêng cần phải dạy và thực hiện đầy đủ hơn cho học sinh những kiến thức về
giới tính, về giáo dục giới tính. Đặc biệt là học sinh lớp 9 để các em nhận thức đúng
về giới tính, về giáo dục giới tính phù hợp với lứa tuổi là vấn đề cần thiết. Vậy, đề
tài nghiên cứu: “Nhận thức của học sinh lớp 9 về giáo dục giới tính tại một số
7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Các phương pháp nghiên cứu sau được sử dụng:
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp thu thập tài liệu, đọc sách, tham khảo các công trình nghiên cứu
có liên quan đến đề tài như: Nhận thức, giới tính, giáo dục giới tính, đặc điểm nhận
thức của học sinh Trung học cơ sở.
7.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu thăm dò ý kiến (là phương pháp chủ
yếu)
Sử dụng phiếu thăm dò ý kiến (phiếu thăm dò ý kiến mở và phiếu thăm dò ý
kiến đóng) đối với học sinh lớp 9, cán bộ quản lý, giáo viên tại 4 trường Trung học
cơ sở Nguyễn Minh Hoàng, trường Trung học cơ sở Nguyễn Huệ, trường Trung học
cơ sở Lê Anh Xuân và trường Trung học cơ sở Phú Thọ tại Quận 11 Thành phố Hồ
Chí Minh.
7.3 Phương pháp phỏng vấn
Gặp gỡ trò chuyện, trao đổi với Ban giám hiệu, giáo viên, học sinh về các vấn
đề liên quan đến đề tài.
7.4 Phương pháp toán thống kê
Dùng phầm mềm thống kê SPSS for win phiên bản 13.0 để xử lý dữ liệu.
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
1.1.1Lịch sử nghiên cứu vấn đề trên thế giới
Giáo dục giới tính là vấn đề được nhiều nước trên thế giới tiến hành nghiên
cứu rất sớm. Từ thế kỉ XX có những công trình nghiên cứu về vấn đề này như: V.V
Phavrơ, D.N Zbancov, P.P Blonxki,…
Năm 1921 Thụy Điển đã nghiên cứu vấn đề giáo dục giới tính và từ đó xem
tình dục là quyền tự do của con người, là quyền bình đẳng nam nữ, là trách nhiệm
đạo đức của công dân đối với xã hội [17, tr.5].
Từ những năm 30 của thế kỉ XX, giáo dục giới tính được nghiên cứu toàn diện
Năm 1966 nhiều nước như: Ba Lan, Hunggary, Tiệp Khắc…đều đã tiến hành
giáo dục giới tính cho học sinh phổ thông bằng những chương trình bắt buộc, còn ở
Anh, Đan Mạnh, Thụy Điển, Mĩ đã tiến hành giáo dục giới tính cho học sinh khá
sớm.
Năm 1968, Đại hội đồng Liên hiệp quốc bắt đầu có những hoạt động về giáo
dục dân số trong từng khu vực và cũng làm nảy sinh yêu cầu giáo dục giới tính
trong giáo dục dân số.
“Từ những năm 1970, 1980 việc đưa giáo dục giới tính vào trường học bắt đầu
được quan tâm thật sự và có bốn khuynh hướng về giáo dục giới tính xuất hiện đó
là:
- Bắt buộc thực hiện ở các trường phổ thông như: Đan Mạnh, Thụy Điển,
Đức, Tiệp Khắc…
- Hoan nghênh và bước đầu công nhận hợp pháp hóa như: Ba Lan, Thụy Sĩ,
Pháp…
- Tán thành nhưng không hợp thức hóa về luật pháp như: Anh, Hà Lan…
- Không ngăn cấm nhưng cũng không phát triển như: Hy Lạp, Thổ Nhỉ
Kỳ…Như vậy, giáo dục giới tính bắt đầu được một số nước đưa vào trường học.”.
Năm 1981 Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô (cũ) đã ra chỉ thị cho tất cả các trường
học trong cả nước thực hiện chương trình giáo dục giới tính cho học sinh các cấp
học [26, tr.10].
Riêng tại các nước Châu Á giáo dục giới tính cũng được thừa nhận là cần thiết
và cũng được thực hiện trong trường học ở các nước như: Trung Quốc, Nhật,
Xingapo, Đài Loan, Philipin. Riêng Philipin, giáo dục giới tính đã được đưa vào
chương trình nội khóa của trường phổ thông cơ sở và trường Trung học phổ thông
qua các giờ chính khóa, các hoạt động ngoại khóa theo mức độ khác nhau ở các lứa
tuổi khác nhau. Hoạt động giáo dục giới tính được nghiên cứu các hình thức tổ chức
dạy học, những phương pháp và những phương tiện dạy học về giới tính rất được
quan tâm, cuốn hút học sinh và đạt hiệu quả cao [21, tr.15].
Ở Việt Nam, nhiều thập kỉ trước đây vấn đề giáo dục giới tính vẫn còn hạn chế
bởi các phong tục, tập quán và được xem là điều “Cấm kỵ” do đó người ta cảm thấy
khó nói về vấn đề tình dục, giới tính, giáo dục giới tính, nên việc nghiên cứu giáo
dục giới tính hầu như “né tránh” và chưa được phổ biến.
Từ những năm 1980, công tác giáo dục giới tính ở nước ta bắt đầu được quan
tâm và được nghiên cứu trong một số các báo cáo khoa học giáo dục, các chuyên
đề, các bài nghiên cứu…
Trong chỉ thị số 176A ngày 24/12/1974 do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng
Phạm Văn Đồng ký đã nêu rõ: “Bộ giáo dục, Bộ Đại học và Trung học chuyên
nghiệp, Tổng cục dạy nghề phối hợp với các tổ chức có liên quan, xây dựng chương
trình chính khóa và ngoại khóa nhằm bồi dưỡng cho học sinh những kiến thức về
khoa học giới tính, về hôn nhân và gia đình và nuôi dạy con cái”.
Từ năm 1985 những công trình nghiên cứu của các tác giả về giới tính, tình
yêu, hôn nhân gia đình đã bắt đầu được công bố như: Các tác giả Đặng Xuân Hoài,
Trần Trọng Thủy, Phạm Hoàng Gia, Nguyễn Thị Đoan, Nguyễn Thị Nho, Bùi Ngọc
Oánh, Lê Nguyên, Phạm Ngọc, Minh Đức…đã nghiên cứu nhiều vấn đề, nhiều khía
cạnh chi tiết của giới tính và giáo dục giới tính. Nhiều công trình nghiên cứu bước
đầu làm cơ sở cho việc giáo dục giới tính cho thanh niên và học sinh. Những công
trình này nêu lên rất nhiều vấn đề phong phú đa dạng về vấn đề giới tính và giáo
dục giới tính ở Việt Nam [21, tr.15].
Trong năm 1985 Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp phối hợp với Công
đoàn ngành Đại học tổ chức hội thảo về giáo dục giới tính cho sinh viên các trường
Đại học, tổ chức hai lớp tập huấn cho một số cán bộ Đoàn, cán bộ tuyên huấn ở các
trường Đại học và Trung học chuyên nghiệp ở các Tỉnh phía Nam tại Thành phố Hồ
Chí Minh về vấn đề giáo dục giới tính, trong đó khẳng định sự cần thiết của giáo
dục giới tính cho thanh niên và học sinh. Tuy nhiên nội dung giáo dục giới tính vẫn
chưa thực sự thỏa mãn nhu cầu của nhiều người.
Trung ương Hội liên hiệp Phụ nữ đã triển khai phong trào giáo dục “Ba triệu
Năm 1998, Lê Ngọc Lan đã nghiên cứu “nhận thức của sinh viên về tình yêu
và giới tính” đã công bố ở tạp chí Tâm lý học số 3/1998 đã có kết luận nhận thức
của sinh viên về tình yêu.
Năm 1999, Huỳnh Văn Sơn đã nghiên cứu “Thực trạng nhận thức và thái độ
của học sinh phổ thông trung học ở một số trường nội thành Thành phố Hồ Chí
Minh đối với nội dung giáo dục giới tính”.
Năm 1999, Võ Tường Vy đã nghiên cứu “ Nhận thức về các vấn đề giới tính
của sinh viên Cao đẳng Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh”.
Năm 1999, Nguyễn Bích Điểm đã nghiên cứu “Một số suy nghĩ về quan niệm
tình dục của vị thành niên hiện nay đối với vấn đề tình dục”.
Năm 2002, Đào Việt Cường đã nghiên cứu “Thực trạng và các biện pháp giáo
dục giới tính cho học sinh trong một số trường trung học phổ thông ở Quận 2 Thành
phố Hồ Chí Minh”.
Năm 2007, Đỗ Hà Thế Bình đã nghiên cứu “Thực trạng việc quản lý giáo dục
giới tính cho học sinh ở các trường Trung học cơ sở tại Huyện Thuận An, Tỉnh Bình
Dương và một số giải pháp”.
Các vấn đề nghiên cứu trên về giáo dục giới tính chỉ dừng lại ở một khía cạnh
nào đó. Hiện nay, chúng tôi nghiên cứu nhận thức của học sinh lớp 9 về giáo dục
giới tính và vấn đề này là cần thiết, góp phần trong công tác giáo dục giới tính nói
riêng và giáo dục nhân cách các em học sinh nói chung.
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
* Nhận thức
Theo Tự điển Bách khoa toàn thư: “Nhận thức là quá trình biện chứng của sự
phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và
không ngừng tiến đến gần khách thể. Sự nhận thức đi từ trực quan sinh động đến tư
duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn. Con đường nhận thức đó được
thực hiện qua các giai đoạn từ thấp đến cao như sau:
-
Những đặc điểm sinh lý cơ thể thường bao gồm những đặc điểm di truyền,
những hệ cơ quan sinh lý cơ thể, điển hình và quan trọng nhất là hệ cơ quan sinh
dục. Ở con người có hai loại hệ cơ quan sinh dục chính là hệ cơ quan sinh dục nam
và hệ cơ quan sinh dục nữ, vì vậy lòai người có hai giới là giới nam và giới nữ.
- Giới có thể được hiểu theo gốc độ xã hội, là những đặc điểm mà xã hội đã
tạo nên ở người nam và người nữ là những đặc trưng xã hội ở nam và nữ [21, tr.23].
Giới xã hội thường bao gồm nhiều vấn đề như vai trò, vị trí của mỗi giới, đặc
điểm và nhiệm vụ của mỗi giới trong xã hội.
Vậy giới là một tập hợp người trong xã hội có những đặc điểm sinh học cơ bản
giống nhau [21, tr.23].
* Khái niệm về giới tính
+ Giới tính có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau và thường bị sử dụng
lẫn lộn với nhiều thuật ngữ khác nhau như: Giới, tính dục, tình dục, sinh dục. Nhiều
người thường có quan niệm giới tính đồng nghĩa với tình dục hoặc tính dục. Đó là
quan niệm chưa thực sự đầy đủ, chỉ hiểu một cách đơn giản hoặc hiểu về một mặt
nào đó của giới tính. Giới tính cần được hiểu một cách toàn diện hơn.
Theo từ ngữ, giới tính có thể được hiểu là những đặc điểm của giới. Những
đặc điểm này có thể rất phong phú và đa dạng vì giới vừa bao gồm những thuộc tính
về sinh học và những thuộc tính về tâm lý xã hội, nên giới tính cũng bao gồm
những đặc điểm về sinh lý cơ thể và tâm lý xã hội.
Giới tính cũng có thể được hiểu là những đặc điểm tạo nên những đặc trưng
của giới, giúp ta phân biệt giới này và giới kia.
Những đặc điểm sinh lý giới tính có thể là những đặc điểm sinh lý cơ thể như
cấu trúc và chức năng của các bộ phận cơ thể, những trạng thái bệnh lý của các bộ
phận sinh lý cơ thể ở nam và ở nữ và do mối quan hệ nam nữ tạo ra.
Những đặc điểm giới tính cũng có thể là những đặc điểm về tâm lý, tính
cách…
sự giao tiếp nam nữ…
* Nguồn gốc giới tính :
Sự khác biệt những đặc điểm giới tính giữa nam và nữ xuất phát từ hai nguồn
gốc sau:
+ Nguồn gốc sinh học
Giới tính con người là do tế bào sinh sản quyết định. Tế bào sinh sản nam
(tinh trùng) có 2 loại nhiễm sắc thể X và Y. Nhiễm sắc thể X quy định giới tính nữ,
nhiễm sắc thể Y quy định giới tính nam. Tế bào trứng của nữ chỉ chứa một nhiễm
sắc thể X. Nếu tinh trùng mang nhiễm sắc thể X thụ tinh với trứng thì em bé sinh ra
sẽ là nữ (X+X). Nếu tinh trùng mang nhiễm sắc thể Y thụ tinh với trứng thì em bé
sinh ra sẽ là nam (X+Y). Như vậy trong những điều kiện thông thường sự thụ tinh
như vậy sẽ làm cho thai nhi có cấu tạo đặc trưng của cơ thể nam hoặc nữ trong quá
trình phát triển của nó. Do cấu tạo khác nhau nên hoạt động sinh lý mỗi giới có
những đặc điểm khác nhau. Các tuyến sinh dục và các hormone tiết ra từ các tuyến
này sẽ quy định những đặc điểm sinh lý cơ thể riêng biệt và các thành phần tạo nên
những nét tính cách đặc trưng cho mỗi giới.
Trong quá trình phát triển của cơ thể, đặc biệt sự trưởng thành về sinh lý tạo
nên những đặc điểm giới tính nhất định và đến một độ tuổi nhất định, tuyến sinh
dục sẽ hoạt động và ngày càng hoạt động mạnh hơn cho đến thời kỳ trưởng thành
(thời kỳ chín muồi tình dục) sẽ tạo nên những chức năng sinh lý đặc biệt của cơ thể
như sự dậy thì, hoạt động tình dục, sinh sản…tuyến sinh dục ở người hình thành từ
tuần thứ 8 trong đời sống ở tử cung nhưng mãi đến tuổi dậy thì (nam: 15 – 16 tuổi,
nữ: 13 – 14 tuổi) thì mới hoạt động. Đây là (tuổi chín muồi sinh dục), đánh dấu thời
kỳ bắt đầu khả năng sinh sản. Như vậy tuyến sinh dục có vai trò rất lớn đối với việc
tạo nên giới tính và cũng chính các tuyến sinh dục (buồng trứng, tinh hoàn) tạo nên
“giới tính đích thực” của con người vì chính nó phản ánh đặc trưng khả năng của
tuyến sinh dục sản sinh ra tinh trùng hay trứng, cũng đồng thời tạo ra những
hormone giới tính đặc thù và chính những hormone này ảnh hưởng quyết định đến
- Bề dày lớp mỡ dưới da của nữ giới bao giờ cũng ngắn hơn nam giới trong
mọi lứa tuổi, da của nữ mỏng và mịn màng hơn nam giới.
- Hầu hết kích thước của mặt ở nữ giới thường nhỏ hơn nam giới.
- Sức cơ bắp của nam giới mạnh hơn nữ giới và khi về già tế bào não nam giới
chết nhanh hơn là của nữ giới.
- Tim của nam giới có khả năng bị vỡ động mạch vành gấp 2 lần tim của nữ
giới, mạch máu của phụ nữ mềm mại hơn, dẻo dai hơn giúp cho phụ nữ có khả năng
sống lâu hơn nam giới từ 3 đến 5 tuổi.
- Cấu tạo và chức năng của hệ sinh dục nam giới hoàn toàn khác biệt với cấu
tạo và chức năng của hệ sinh dục nữ giới. Nguồn gốc của sự khác biệt này do nhiễm
sắc thể khác nhau trong sự cấu thành của những tế bào sinh sản nên hoạt động tính
dục của mỗi giới cũng khác nhau. Các hormone sinh dục nam và nữ sẽ quy định
tính cách đặc trưng của mỗi giới. Đây chính là đặc điểm khác biệt quan trọng nhất
quy định sự tồn tại riêng của mỗi giới.
+ Sự khác biệt về tâm lý giữa nam và nữ
Những nét khác biệt tâm lý giới tính thường thấy:
- Vào tuổi dậy thì khuynh hướng vươn lên làm người lớn ở các em trai và các
em gái có khác nhau như:
Các em trai thường hướng tới sự tự khẳng định mình bằng sức mạnh, sự dũng
cảm, sức dẻo dai chịu đựng, sự tự kiềm chế cảm xúc…
Các em gái tự khẳng định mình bằng sự trang điểm, làm dáng để trở nên hấp
dẫn với người khác giới.
- Bản chất của nam giới thường muốn tỏ ra dũng cảm, cường tráng, muốn tỏ rõ
năng lực của mình so với người khác. Vì thế con trai, đàn ông thường thích dấn thân
vào chỗ nguy hiểm để tìm thấy sự thích thú của thành công. Ngược lại, đàn bà, con
gái thường tránh xa chỗ nguy hiểm và lo sợ, đa cảm dễ xúc động, khả năng tự kiềm
chế cảm xúc ít hơn nam giới.
- Phong cách sống của nữ giới bị ảnh hưởng bởi yếu tố gia đình, thiên chức
Theo A.G. Khrivcova, D.V.Kolexev, “ Giáo dục giới tính là một quá trình
hướng vào việc vạch ra những nét, những phẩm chất, những đặc trưng cũng như
khuynh hướng phát triển của nhân cách, xác định thái độ xã hội cần thiết của con
người đối với người khác” [21, tr.142].
Định nghĩa này thể hiện rõ mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung của giáo dục giới
tính. Cho thấy phạm vi của giáo dục giới tính không chỉ bó hẹp ở việc giáo dục mối
quan hệ giữa nam và nữ mà bao gồm cả việc giáo dục những mối quan hệ nam nữ
trong đời sống cũng như học tập, lao động, nghỉ ngơi, giải trí…Giáo dục cho con
người biết rèn luyện những phẩm chất giới tính nhằm phát huy thế mạnh của giới
tính.
Theo Bách khoa toàn thư Y học phổ thông – Pêtrôpxki chủ biên “Giáo dục
giới tính là hệ thống các biện pháp Y khoa và Sư phạm nhằm giáo dục cho nhi