BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Tên đề tài: Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng bón Kali đến khả năng
chống chịu bệnh hại và năng suất giống nếp cái hạt cau vụ mùa năm 2012 tại
khu thực hành thực tập - trường Đại học Hồng Đức.
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
Cây lúa (Oryza sativa L) là cây lương thực có lịch sử trồng trọt lâu đời và
hiện tại đang được gieo trồng ở nhiều nước trên thế giới. Cây lúa là một trong 3 cây
lương thực chủ yếu trên thế giới: lúa, lúa mì, và ngô, chiếm 26,5% cơ cấu sản xuất
cây lương thực. Lúa gạo cung cấp lương thực cho 1/2 dân số thế giới và ảnh hưởng
đến đời sống của ít nhất 65% dân số toàn cầu. Khoảng 40% dân số thế giới xem lúa
gạo là nguồn lương thực chính hàng ngày và lúa gạo cung cấp khoảng 80% glucoza,
40% nhu cầu protein cho người và nhiều vitamin, vi lượng khác, lúa gạo còn là
nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp thực phẩm chế biến. Ngoài ra sản
phẩm phụ của lúa gạo như rơm rạ, vỏ trấu còn có nhiều tác dụng khác như làm phân
bón, chất đốt, chất độn chuồng, làm thức ăn gia súc hoặc sử dụng cho các ngành
công nghệ nhân cấy sinh học như nấm...Chính vì cây lúa có tầm quan trọng như vậy
mà tổ chức dinh dưỡng quốc tế gọi " Hạt gạo là hạt của sự sống".
Việt Nam có địa hình đa dạng cùng với điều kiện tự nhiên ưu đãi là một trong
những nơi hình thành nền nông nghiệp lúa nước của thế giới. Nước ta là một nước
nông nghiệp trong đó cây trồng chủ yếu là cây lúa nước, nó có ý nghĩa lớn trong
viêc đảm bảo an ninh lương thực và phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Trong các yếu tố thâm canh tăng năng suất, ngoài yếu tố giống là tiền đề thì
phân bón là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu. Phân bón có vai trò cung
cấp chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng để cây trồng có thể sinh trưởng, phát
triển tốt đạt năng suất cao. Các loại phân bón dùng cho cây lúa rất đa dạng, từ các
1
loại phân đa lượng như N, P, K luôn được quan tâm hàng đầu, còn có các yếu tố dinh
dưỡng trung lượng như Ca, Mg, Si, S và các yếu tố vi lượng như Bo, Mo, Zn, Mn,…
năng, chất lượng của giống.
Bệnh hại là nguyên nhân chủ yếu gây ảnh hưởng trực tiếp tới các yếu tố cấu
thành năng suất và năng suất lúa. Hiện nay có nhiều bệnh hại lúa như bệnh: khô vằn,
đạo ôn, bạc lá, thối bẹ, đen lép hạt… đã làm giảm năng suất lúa một cách đáng kể.
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh
hưởng của liều lượng bón Kali đến khả năng chống chịu bệnh hại và năng suất
giống nếp cái hạt cau vụ mùa năm 2012 tại khu thực hành thực tập - trường Đại
học Hồng Đức”.
1.2. Mục đích, yêu cầu của đề tài
1.2.1. Mục đích:
Xác định được liều lượng bón Kali thích hợp giúp cho cây lúa sinh trưởng,
phát triển tốt và có khả năng chống bệnh tốt, đạt năng suất cao.
Đánh giá được hiệu quả kinh tế của việc bón phân Kali cho giống nếp hạt
cau.
1.2.2. Yêu cầu cần đạt:
Xác định được các chỉ tiêu sinh trưởng của giống lúa nếp cái hạt cau.
Đánh giá được ảnh hưởng của liều lượng bón kali đến tình hình phát sinh
phát triển bệnh hại và khả năng chống chịu bệnh hại của giống lúa nếp cái hạt cau.
Đánh giá được ảnh hưởng của liều lượng bón kali khác nhau đến các yếu tố
tạo thành năng suất và năng suất của giống lúa nếp hạt cau.
1.3. ý nghĩa khoa học – ý nghĩa thực tiễn
1.3.1. Ý nghĩa về mặt khoa học:
Để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và nâng cao hiệu quả trong
công tác phòng trừ dịch hại thì cần phải nắm vững được tình hình phát sinh, phát
triển và gây hại của các loài dịch hại chính có mặt trên đồng ruộng. Thông qua liều
lượng bón kali, chúng ta nắm được tình hình phát sinh phát triển các loài bệnh hại ở
từng giai đoạn sinh trưởng của cây lúa. Trên cơ sở đó góp phần hoàn thiện quy
trình phòng trừ dịch hại tổng hợp trên lúa.
3
trồng tập trung tại Châu Á.Vùng trồng lúa rộng từ vĩ độ 53 độ Bắc đến 35 độ
Nam. Năm 2011 sản xuất lương thực trên thế giới đạt 2.325 triệu tấn tăng 3,7%
so với năm 2010, trong đó năng suất lúa bình quân thế giới 4,38 tấn/ ha tăng
0,8%, diện tích trồng lúa của thế giới là 164,6 triệu ha tăng 2,2% so với năm
2010. Năng suất bình quân Châu Á đạt 651 triệu tấn/ha, Châu phi có năng suất
là 26 triệu tấn/ ha, Châu Nam Mỹ có năng suất là 29,6 triệu tấn/ ha, Châu Âu 4,6
triệu tấn/ha, Châu Úc đạt 800.000 tấn/ ha.[13].
Châu Á là vùng đông dân cư và là vùng sản xuất lúa gạo tâp trung trên thế giới
( 90% diện tích trồng lúa ở Châu Á ). Diện tích trồng lúa ở Châu Á năm 1990 là
130.974.000 ha, năng suất đạt 36,6 tạ/ ha. Cao nhất là Bắc Triều Tiên 83,3 tạ/ ha,
thấp nhất là CamPuChia 12,2 tạ/ ha. Việt Nam có diện tích trồng lúa đứng thứ 3
Đông Nam Á ( 6.700.000 ha ), năng suất đứng thứ 2 sau Inđônêxia ( 32,1 tạ/ ha )
Đông Nam Á, [13]. Theo tổ chức FAO đánh giá tình hình sản xuất lúa gạo ở Châu
Á năm 2011 đạt 651 triệu tấn lúa hay 435 triệu tấn gạo, tăng 3% hay 24 triệu tấn
năm 2010. Tại Ấn Độ năng suất đạt 154,5 triệu tấn, Trung Quốc đạt 203 tấn lúa,
Thái Lan đạt 32,2 triệu tấn lúa, Việt Nam đạt 42 triệu tấn lúa, [13].
5
Trong những năm qua cuộc cách mạng xanh đã làm cho nhiều nước biến đổi
an ninh lương thực, địa vị kinh tế, chính trị. Những kết quả của nghề trồng lúa rất
to lớn chủ yếu nhờ đầu tư thâm canh, áp dụng giống mới, xây dựng cơ sở vật chất,
hoàn thiện các biện pháp kĩ thuật trồng trọt.
2.2.2. Việt Nam:
Việt Nam là một trong những trung tâm hình thành cây lúa nước. Cây lúa là
cây lương thực chủ yếu, có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Sản xuất
lúa trong những qua có những bước nhảy vọt đáng kể. Diện tích trồng lúa năm
1890 là 5,4 triệu ha, đến năm 1994 diện tích đạt 6.598 triệu ha. Năng suất đạt 33,6
tạ/ ha. Năm 1980 còn phải nhập khẩu 193.000 tấn gạo, đến năm 1994 đã xuất khẩu
không nhỏ đến sinh trưởng và năng suất của lúa. Cây lúa có nguồn gốc nhiệt đới,
nên nói chung nó là cây ưa sáng mẫn cảm với quang chu kỳ (độ dài ngày). Cường
độ ánh sáng thuận lợi cho hoạt động quang hợp của cây lúa là 250- 400 calo/ cm 2/
ngày.
2.3.2. Nhu cầu dinh dưỡng:
Theo Nguyễn Đình Giao và cộng sự, (2001)[12] nhu cầu dinh dưỡng của cây lúa
như sau: cây lúa yêu cầu tổng số dinh dưỡng lớn đặc biệt là N, ngoài các nguyên tố đa
lượng là N, P, K lúa còn cần các nguyên tố khoáng, nguyên tố vi lượng như : S, Ca, Mg,
Fe, Mn, Cu, Zn, Si, B, Mo…
* Nhu cầu dinh dưỡng đạm của cây lúa:
Đạm (N) là yếu tố dinh dưỡng hàng đầu đối với cơ thể sống vì đạm là thành
phần cơ bản của prôtêin - chất biểu hiện sự sống tồn tại.
Đạm là thành phần chủ yếu của axit amin, axit nucleotit, nguyên sinh chất và
diệp lục tố. Đạm đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành tế bào rễ, thân, lá…
Nhu cầu đạm của cây lúa có tính chất liên tục từ đầu thời kỳ sinh trưởng cho
đến lúc thu hoạch. Trong suốt quá trình sinh trưởng, phát triển của cây lúa, có hai
thời kỳ mà nhu cầu dinh dưỡng đạm cao nhất đó là thời kỳ đẻ nhánh rộ và thời kỳ
làm đòng. Đạm ảnh hưởng đến các quá trình đẻ nhánh, phân hoá đòng, sự hình
thành số bông số hạt, tỷ lệ hạt chắc,…vì vậy đạm có ảnh hưởng trực tiếp đến năng
7
suất ruộng lúa.
* Nhu cầu dinh dưỡng lân của cây lúa:
Lân (P) là yếu tố dinh dưỡng đa lượng quan trọng đối với sự phát triển và
năng suất cây trồng.
Lân là thành phần chủ yếu của axít nucleic, là chất chủ yếu của nhân tế bào.
Lân có mối quan hệ chặt chẽ với sự hình thành diệp lục, protit và sự vận
chuyển tinh bột.
Lân xúc tiến sự phát triển của rễ, tăng nhanh số nhánh đẻ, làm cho lúa trỗ
chống sâu bệnh hại lúa ,để cây lúa sinh trưởng, phát triển tốt và có năng suất cao
cần coi trọng việc bón kali với liều lượng hợp lý cho cây lúa.
* Nhu cầu dinh dưỡng của các nguyên tố trung và vi lượng:
Ngoài các yếu tố đa lượng cây lúa còn hút các chất dinh dưỡng khoáng trung
và vi lượng như S, Mn, Mg, Si, Mo, Ca, Fe, Bo,…
Mặc dù nhu cầu về các yếu tố này không nhiều, nhưng trong hoạt động sống
của cây các yếu tố này có vai trò xác định không thể thiếu và không thể thay thế
được.
2.4. Thành phần bệnh hại lúa và tác hại của chúng.
Cây lúa là cây lương thực chính ở Việt Nam, trên cây lúa đã phát hiện tới
hơn 50 loại bệnh khác nhau. Lịch sử phát triển nghề trồng lúa ở nước ta đã ghi nhận
nhiều trận dịch bệnh nguy hiểm.
Hiện nay các nguyên nhân gây bệnh trên lúa có thể là do nấm, vi khuẩn, vi
rút,…
* Bệnh do nấm điển hình là các bệnh: Đạo ôn (Pyricularia ozyae), khô vằn
(Rhiooctonia solani), tiêm hạch (Sclerotium ozyae), thối bẹ lúa, tiêm lửa, đen lép
hạt lúa….
* Bệnh vi khuẩn: Bạc lá lúa (Xanthomonas ozyae), đốm sọc vi khuẩn…
* Bệnh virus: vàng lùn và lùn xoắn lá…
Các loại bệnh: đạo ôn, khô vằn, bạc lá,….đã thực sự trở thành hiểm họa lớn
đối với nghề trồng lúa ở nước ta.
Bệnh đốm nâu, tiêm lửa, tiêm hạch,… là những bệnh phát sinh mang tính
mãn tính trên đồng ruộng.
9
2.5. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về bệnh hại chính.
2.5.1. Bệnh đạo ôn (Pyricularia orzyzae Cav. et. Bri).
Bệnh đạo ôn là một trong những bệnh phổ biến và có ý nghĩa kinh tế lớn
nhất ở các vùng trồng lúa trong nước và trên thế giới.
bạc, hạt bị lép và thường gây hiện tượng gãy cổ bông.
Vết bệnh ở hạt không định hình, có màu xám hoặc nâu đen. Nấm kí sinh ở vỏ
trấu và có thể ở bên trong hạt. Hạt giống bị bệnh là nguồn bệnh truyền từ vụ này
sang vụ khác [3].
b. Nguyên nhân gây bệnh đạo ôn.
Bệnh đạo ôn do nấm Pyricularia orzyzae Cav. et. Bri gây ra. Nấm
Pyricularia orzyzae Cav. et. Bri thuộc Moniliacea bộ Moniliales – lớp Nấm Bất
Toàn. Nấm đạo ôn sinh trưởng thích hợp ở nhiệt độ 20 – 28 0C và ẩm độ không khí
thích hợp 93% trở lên, phạm vi nhiệt độ nấm sinh sản bào tử 10 – 30 0C. Ở 280C
cường độ sinh sản bào tử nhanh và mạnh nhưng sức sinh sản giảm dần sau 9 ngày,
trong khi đó ở 160C, 200C, 240C sự sinh sản tăng và kéo dài tới 15 ngày sau đó mới
giảm xuống.
Trong điều kiện ẩm độ cao, số bào tử mọc ra rất nhiều. Trong điều kiện
phòng thí nghiệm một vết bệnh đặc trưng có thể sản sinh được 4000 – 5000 bào tử
trong một đem và có thể kéo dài như vậy từ 10 – 15 ngày. Bào tử phát tán nhờ gió,
nhờ có những giọt nước, giọt sương bào tử nảy mầm và chui vào mô ký chủ, sau đó
4 – 5 ngày lại thấy xuất hiện vết bệnh mới. Bào tử nảy mầm tốt nhất ở nhiệt độ 28 0
và có giọt nước.
Quá trình xâm nhập của nấm vào cây phụ thuộc rất nhiều vào nhiệt độ, ẩm
độ không khí và ánh sáng. Ở điều kiện bóng tối, nhiệt độ 24 0C và độ ẩm bão hòa là
thuận lợi nhất cho nấm xâm nhập vào cây.
c. Đặc điểm phát sinh, phát triển bệnh.
Bệnh đạo ôn phát sinh, phát triển không theo một quy luật nhất định nào.
- Phụ thuộc vào sự tích lũy nguồn bệnh trên đồng ruộng: Nguồn bệnh tích
lũy trên các kí chủ phụ (hạt kê, mì, cỏ lồng vực, cỏ tranh, cỏ trác, cỏ mật, cỏ
đuôi phụng…) ngoài ra còn tồn tại trên tàn dư cây bệnh rơi rụng dưới dạng sợi
nấm.
11
Theo thống kê của cục BVTV [5] năm 2004 cả nước có khoảng 225.870 ha
bị nhiễm đạo ôn lá, trong đó diện tích nhiễm nặng là 1,866 ha.
Vùng khu 4, năm 2005 tổng diện tích bị nhiễm đạo ôn lá là 15.108 ha, (năm
2004 là 11.207 ha), trong đó diện tích bị nhiễm nặng là 1.306 ha (năm 2004 là 874
ha), và 19 ha bị giảm 70% năng suất [2]. Riêng vụ đông xuân 2005 vừa qua đạo ôn
cổ bông toàn vùng bị nhiễm 4650 ha, trong đó diện tích bị nhiễm nặng là 316 ha.
Thanh Hóa, năm 2005 tổng diện tích bị nhiễm bệnh đạo ôn lá là 6.859 ha
(năm 2004 là 2.048 ha), trong số diện tích nhiễm nặng là 604 ha (năm 2004 là 184
ha) [8].
Theo Padamabhan (1965), [7] khi lúa bị đạo ôn cổ bông 1% thì năng suất có
thể giảm từ 0,7 – 17,4% tùy thuộc vào các yếu tố có liên quan khác. Ở Ấn Độ năm
1985 – 1988 có trên 45% vùng hoạt động của đất cấy bệnh đạo ôn là nguyên nhân
chính làm thất thu hơn 50 kg thóc mỗi năm/ha trồng lúa [9].
Ở Trung Quốc năm 1990 – 1992 có 20% diện tích đất trồng lúa bị đạo ôn gây
hại, làm thất thu hơn 30kg thóc mỗi năm/ha trồng lúa. Các nhà nghiên cứu đã khỏa
nghiệm trên 5.465 giống lúa và đã có kết luận rằng những giống bị nhiễm bệnh nhẹ
với tỉ lệ bệnh 0,5 – 5% chiếm 0,77% tổng số giống nghiên cứu; những giống có
TLB % là 51% trở lên thì chiếm 45% tổng số giống nghiên cứu.
Ở Nhật Bản, năm 1987 – 1990 có 45% diện tích đất trồng lúa bị đạo ôn gây hại,
làm thất thu hơn 55 kg thóc mỗi năm/ha trồng lúa. Và đạo ôn được coi là một trong
những loài dịch hại nguy hiểm nhất đối với người trồng lúa ở Nhật Bản [9].
2.5.2. Bệnh khô vằn (Rhiooctonia Solani).
Bệnh khô vằn được phát hiện ở Nhật Bản và một số nước khác. Địa bàn phân
bố của bệnh khá rộng ở tất cả các vùng trồng lúa ở Châu Á và các châu lục khác
như các nước Braxin, Venezuela, U.S.A…. ở nước ta năm 1961 bệnh khô vằn đã
phát sinh, phát triển mạnh ở một số giống lúa mùa cũ huyện Mỹ Đức – Hà Tây.
Bệnh phổ biến ở hầu hết khắp các vùng trồng lúa trong nước và trên thế giới,
đặc biệt là ở Nhật Bản, Trung Quốc, Philippin, Ấn Độ…
muộn thì tỷ lệ hạt lép cao.
Trên vết bệnh ở các vị trí gây hại, ở cuối giai đoạn ở bẹ lá, lá cổ bông xuất
hiện các sợi nấm đan kết với nhau tạo thành hạch nấm màu nâu, hình tròn dẹt hoặc
14
bầu dục nằm rải rác hoặc tạo thành từng đám nhỏ bám dính trên vết bệnh. Những
hạch nấm này rất dễ rơi rụng ra ngoài vết bệnh xuống ruộng và tiếp tục lây lan sang
cây khác.
b. Nguyên nhân gây bệnh.
- Theo Baruch và CTV 1998 [17] bệnh khô vằn do nấm Rhizoctonia solani
gây ra.
- Theo Lê Lương Tề, Vũ Triệu Mân (2001) [3] ở Nhật Bản trong nhiều
năm trước đây nấm gây bệnh khô vằn được được xác định là Hypochnus
sasakii Shirai (SHOU, 1972) [2]. Nhiều năm sau nấm được đặt tên là
Rhizoctonia solani.
Nấm khô vằn thuộc họ Thelephociaceac lớp nấm bất toàn.
Nấm sinh trưởng thuận lợi ở nhiệt độ cao, ẩm độ cao, phạm vi nhiệt độ là 10
– 380C, nhiệt độ tối ưu là 28 – 38 0C. Khi nhiệt độ quá thấp (<12 0C và >400C) nấm
không hình thành hạch. Nấm gây bệnh khô vằn có phổ sinh rộng và là loài bán kí
sinh có tính chuyên hóa rộng, phạm vi kí chủ bao gồm trên 180 loài cây trồng khác
nhau như lúa, đại mạch, đậu tương, ngô, mía, đậu đỗ…
c. Đặc điểm phát sinh, phát triển bệnh.
- Bệnh khô vằn phát sinh, phát triển mạnh trong điều kiện nhiệt độ cao, ẩm
độ cao. Nhiệt độ khoảng 24 – 320C và ẩm độ bão hòa hoặc lượng mưa cao thì bệnh
phát sinh, phát triển mạnh, tốc độ lây lan nhanh. Bệnh thường phát sinh trước tiên ở
các bẹ lá và các lá già sát mặt nước hoặc ở dưới gốc. Tốc độ lây lan lên các lá phía
trên phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết mưa nhiều, lượng nước trên đồng ruộng quá
cao, đặc biệt là vùng cấy dày (SHOU), 1983 [2].
- Sự phát triển của bệnh khô vằn ở thời kì đầu từ cây mẹ đến đẻ nhánh mức
Ở Trung Quốc (1985 – 1990) trên 47% vùng hoạt động của lúa cấy thì bệnh
khô vằn vẫn là nguyên nhân chính làm thất thoát hơn 24 kg thóc mỗi năm/ha ở các
vùng trồng lúa.
Ở Malaysia 15 – 20% toàn vùng đất canh tác bị ảnh hưởng bởi bệnh khô vằn.
Năm 1993 bệnh khô vằn trở thành đối tượng ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất của
80% diện tích. Sử dụng Nitơ làm cho đất đai màu mỡ cũng góp phần làm tăng mức
16
độ bệnh. Tỷ lệ bệnh khô vằn ở Thái Lan rất cao vào năm 1998 do thời tiết mưa
nhiều.
2.5.3. Bệnh bạc lá (Xanthomonas campestris p. v oyrzae Dowson).
Bệnh bạc lá được phát hiện đầu tiên vào khoảng năm 1884 – 1885 trên
cánh đồng vùng trồng lúa Fukuoka ở Nhật Bản. Bệnh phổ biến ở hầu khắp các
vùng trồng lúa trong nước và trên thế giới, đặc biệt ở Nhật Bản, Trung Quốc,
Ấn Độ…
Ở Việt Nam bệnh bạc lá được phát hiện từ lâu trên các giống lúa mùa cũ, đặc
biệt từ năm 1965 – 1966 trở lại đây, bệnh thường xuyên phá hoại một cách nghiêm
trọng ở các vùng trồng lúa trên các giống nhập nội năng suất cao cấy trong vụ
chiêm xuân và đặc biệt ở vụ mùa.
a. Triệu chứng bệnh:
Bệnh bạc lá phát sinh phá hại suốt thời kì mạ đến khi lúa chín, nhưng có triệu
chứng điển hình là thời kì cấy trên ruộng từ sau khi lúa đẻ nhánh - trỗ - chín sữa.
- Trên mạ: Triệu chứng không thể hiện đặc trưng như trên lúa, do đó dễ
nhầm với các hiện tượng khô đầu lá do bệnh sinh lý. Vi khuẩn hại cây mạ gây ra
triệu chứng ở mép lá, mút lá với những vệt có độ dài ngắn khác nhau, có màu xanh
vàng, nâu bạc rồi khô xác.
- Trên lúa: Triệu chứng bệnh thể hiện đặc trưng, từ mép lá, mút lá lan dần
vào trong phiến lá hoặc kéo dài theo gân chính, nhưng cũng có khi vết bệnh từ giữa
nào mà nhiệt độ không khí vào khoảng từ 26 – 30 0C ẩm độ không khí > 90% có
mưa rải đều thì bệnh sẽ phát sinh, phát triển mạnh.
Điều kiện ngoại cảnh bao gồm nhiệt độ, ẩm độ, lượng mưa, mực nước ruộng
là yếu tố có tác động đồng thời đến sự phát sinh, phát triển của bệnh. Chính vì vậy
liên hệ điều kiện thực tế cho thấy rằng: bệnh phát triển nặng trong vụ mùa và mùa
sớm bị hại nặng hơn vụ mùa muộn, trong vụ xuân những năm thời tiết ấm áp bệnh
thường phát sinh và gây hại nặng.
Các chân đất khác nhau thì gây hại khác nhau, các ổ bệnh thường phát sinh ở
những chân đất trũng, nhiều mùn.
d. Những thiệt hại do bệnh bạc lá gây ra.
18
Mức độ tác hại của bệnh phụ thuộc vào giống, thời kì bệnh của cây sớm hay
muộn và mức độ bị bệnh nặng hay nhẹ. Tác hại chủ yếu của bệnh là làm cho lá lúa,
đặc biệt là lá đòng sớm tàn, nhanh chóng khô chết, bộ lá sơ xác, ảnh hưởng lớn đến
quang hợp hạt, tỷ lệ hạt lép cao, năng suất giảm sút rõ rệt.
Theo Nguyễn Văn Đĩnh (2004) [11] trung bình trong 5 năm 1999 – 2003 cả
nước bị bệnh bạc lá lúa gây hại là 108.691,4 ha (trong đó miền Bắc là 86.429,2 ha),
bị hại nặng là 15.676 ha và mất trắng 80 ha.
Tại Ấn Độ, hàng năm có tới hàng triệu ha bị bệnh nặng, năng suất giảm từ 6
– 60% [18]. Ở Nhật Bản, trong những năm gần đây, hàng năm có từ 300.000 –
400.000 ha lúa bị bệnh nặng, với năng suất giảm từ 20 – 30%, có nơi năng suất
giảm tới 50% [22]. Năm 1996 tại Australia bệnh bạc lá làm năng suất giảm tới 30 –
50%, trung bình giảm 3,5 tấn/ha, với biểu hiện hạt lép lửng nhiều hơn là giảm trọng
lượng hạt [18]. Còn ở Philippin và Malaysia thiệt hại do bệnh bạc lá gây ra cao hơn
so với Nhật Bản.
2.5.4. Bệnh đen lép hạt (Grain discoloration).
Đây là loại bệnh xuất hiện và gây hại khá phổ biến ở các vùng trồng lúa của
Các loại phân bón sử dụng: Đạm dùng phân Urê 46%, phân supe lân 16%,
kaliclorua 56%.
3.2. Nội dung nghiên cứu.
Theo dõi thời tiết vụ mùa năm 2012.
Ảnh hưởng của liều lượng bón kali khác nhau đến khả năng sinh trưởng, phát
triển của giống lúa nếp hạt cau.
Ảnh hưởng của liều lượng bón kali khác nhau đến khả năng chống chịu các
loại bệnh hại chính của giống lúa nếp hạt cau.
Ảnh hưởng của liều lượng bón phân kali khác nhau đến các yếu tố tạo thành
năng suất và năng suất của giống lúa nếp hạt cau.
Đánh giá hiệu quả kinh tế của bón kali cho giống lúa nếp hạt cau.
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Thời gian, địa điểm nghiên cứu:
Thời gian: từ tháng 6 – 11 / 2012
Gieo mạ ngày 12/06/2012, cấy ngày 13/07/2012.
Địa điểm: tại khu thực hành thực tập trường Đại học Hồng Đức
3.2.2. Phương pháp bố trí thí nghiệm:
3.2.2.1. Loại thí nghiệm:
Thí nghiệm đồng ruộng.
3.2.2.2. Thi công thí nghiệm.
21
* Công thức thí nghiệm:
STT
1
2
3
4
Bảo vệ
III 1
II 2
III 3
I1
III 2
IV 3
II 1
V2
I3
I2
V3
IV 2
II 3
Mương
Bảng 1: lượng phân bón cho các ô thí nghiệm.
Loại Phân
Phân chuồng
Đạm Urê
Supe Lân
Kaliclorua
Lượng phân
Hàm
Diện tích
Lượng
Tổng lượng
nguyên chất
lượng
ô thí
phân bón
phân cho
( Kg )
5,6
0,104
0,376
0,064
0,088
0,104
0,128
(Kg)
84
1,56
5,64
0,192
0,264
0,312
0,384
46 %N
16% P2O5
56% K2O
* Phương pháp bón phân:
- Bón lót : 100% phân chuồng + 100% phân lân + 30% đạm + 50% kali
- Bón thúc lần 1: khi lúa đẻ nhánh (sau cấy 10 – 15 ngày) bón 50% đạm.
- Bón thúc lần 2: khi cây lúa chuyển sang đứng cái làm đòng (bón đón đòng)
bón lượng đạm và kali còn lại.
* Chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh.
3.3.3. Chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi các chỉ tiêu:
3.3.3.1. Chỉ tiêu theo dõi:
Bắt đầu đẻ nhánh
Kết thúc đẻ nhánh
Bắt đầu trỗ bông
Kết thúc trỗ bông
Khi thu hoạch
25