Phát huy vai trò văn hóa bản địa đối với sự phát triển kinh tế xã hội ở tỉnh lâm đồng trong giai đoạn hiện nay - Pdf 32

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

NGUYỄN THỊ PHƢƠNG THẢO

PHÁT HUY VAI TRÒ VĂN HÓA BẢN ĐỊA
ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
Ở TỈNH LÂM ĐỒNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số:
60 22 85

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS. TS. DƢƠNG XUÂN NGỌC

HÀ NỘI - 2011


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Văn hoá là sản phẩm của con ngƣời, của cộng đồng ngƣời, gắn liền với
cuộc sống của con ngƣời và sự phát triển của xã hội, đƣợc xác định bao gồm tất
cả các giá trị vật chất và tinh thần, tính cách và lối sống, truyền thống của mỗi
dân tộc, mỗi cộng đồng xã hội. Nó tồn tại qua thời gian và lƣu truyền từ thế hệ
này sang thế hệ khác, thấm sâu vào lối sống của cộng đồng dân cƣ và trở thành
bản sắc riêng của mỗi dân tộc, quốc gia.
Là quốc gia đa dân tộc thống nhất “nền văn hoá Việt Nam là nền văn hóa
thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Hơn 50 dân tộc sống trên đất nƣớc ta đều có những giá trị và sắc thái

các DTTS ở Lâm Đồng do những đặc điểm về điều kiện địa lý, kinh tế - xã hội
và nhiều nhân tố ảnh hƣởng khác nhau, mang những nét đặc trƣng riêng có,
những đặc điểm khác biệt. Những yếu tố văn hóa đặc trƣng của các tộc ngƣời
bản địa trở thành những tiềm năng đặc biệt, những nguồn tài nguyên quan trọng
cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở Lâm Đồng. Đặc biệt là tiềm năng kinh tế, du
lịch từ nguồn tài nguyên văn hóa bản địa. Đó là niềm tự hào của các tộc ngƣời
bản địa ở Nam Tây Nguyên cần đƣợc các nhà khoa học nghiên cứu để phát huy,
phát triển. Tuy vậy, văn hóa bản địa các DTTS bản địa Lâm Đồng trong những
năm qua chƣa đƣợc quan tâm đúng mức, chƣa phát huy đƣợc vai trò động lực
đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều yếu tố văn hóa đang ngày càng mai
một, thậm chí một số loại hình, lĩnh vực có nguy cơ mất hẳn, có những yếu tố đã
trở nên lạc hậu, lỗi thời không còn phù hợp, có những yếu tố mang tính chất hiện
đại. Sự tác động của cơ chế thị trƣờng và ảnh hƣởng của các tôn giáo mới, một
mặt làm cho văn hóa bản địa các dân tộc đang có những biến đổi, đã có những
nét văn hóa riêng bị phai nhạt, bị đồng hóa, mất đi bản sắc riêng, một mặt làm
cho văn hóa bản địa có biểu hiện lai căng, hoặc biến các di sản văn hóa truyền
thống của cƣ dân bản địa Lâm Đồng thành những "sản phẩm lạc hậu", không
phù hợp với cuộc sống hiện tại, cơ cấu xã hội và quan hệ giữa các thành viên
trong buôn làng nay đã có nhiều biến đổi lớn, làm cho sinh hoạt cộng đồng ít gắn
bó hơn, không còn tác dụng nuôi dƣỡng nền văn hóa truyền thống và ảnh hƣởng
đến củng cố khối đoàn kết dân tộc. Do vậy, để thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã
hội, trong xu thế mở cửa, hội nhập kinh tế và giao lƣu văn hóa, cần phát phát huy

3


các giá trị văn hóa với những bản sắc độc đáo của văn hóa các dân tộc để làm
phong phú nền văn hóa chung của cả nƣớc góp phần nâng cao tính thống nhất đa
dạng của văn hóa Việt, đấu tranh chống các khuynh hƣớng lợi dụng văn hóa để
chia rẽ, phá họai khối đại đoàn kết các dân tộc. Lâm Đồng hiện vẫn còn là tỉnh

Việt Nam” (Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1989) của GS.TS Đỗ Huy, PGS.
Trƣờng Lƣu. “Tìm hiểu giá trị văn hóa truyền thống trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa” (2001) của GS.TS. Nguyễn Trọng Chuẩn - TS. Phạm Văn
Đức - TS. Hồ Sĩ Quý, Nxb Chính trị quốc gia; Chƣơng trình Khoa học - Công
nghệ cấp nhà nƣớc mã số KX-05 “Phát triển văn hoá, con người và nguồn nhân
lực trong thời kì công nghiệp hoá hiện đại hoá” giai đoạn 2001-2005, do GS,VS
Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm gồm 12 đề tài. Các công trình này đã tập trung
làm rõ 3 chủ đề lớn đó là: Văn hoá và văn hoá Việt Nam đầu TK XXI; con ngƣời
và con ngƣời Việt Nam đầu TK XXI; phát triển nguồn nhân lực và nguồn nhân
lực Việt Nam đầu TK XXI. Trong đó đáng chú ý là những phƣơng pháp tiếp cận
mới và những kết quả mới nhất trong nghiên cứu về con ngƣời, nguồn lực con
ngƣời, đời sống văn hoá và xu hƣớng phát triển văn hoá ở các vùng miền khác
nhau, về quan hệ nhân quả phức tạp giữa văn hoá - con ngƣời - nguồn nhân lực.
Ngoài ra còn phải kể đến một số công trình khác nhƣ: “Văn hóa các dân
tộc Việt Nam thống nhất mà đa dạng” (2002), (Nông Quốc Chấn - Huỳnh Khái
Vinh, Nxb Chính trị quốc gia; Phạm Minh Hạc với tác phẩm “Phát triển văn
hóa, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc kết hợp với tinh hóa nhân loại” (1996),
Nxb Khoa học Xã hội; “Sáng tạo và bảo tồn giá trị văn hóa, văn nghệ các dân
tộc thiểu số Việt Nam” (1998), của Hội Văn học - Nghệ thuật các dân tộc thiểu
số Việt Nam, in tại trƣờng Trung học Kỹ thuận In, Hà Nội.
Nhìn chung, các công trình này nghiên cứu văn hóa dƣới góc độ chung và
đã đạt đƣợc những thành công to lớn trong việc nghiên cứu khái niệm, cấu trúc,
giá trị, và hình thức biểu hiện của văn hóa.
Các công trình, bài viết về mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển, về vai
trò của văn hóa trong nền kinh tế thị trƣờng có: Trần Ngọc Hiên, "Văn hóa và
phát triển - từ góc nhìn Việt Nam", Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, (1993); Phạm
Văn Đồng, "Văn hóa và đổi mới", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, (1994); Phạm
Xuân Nam, "Văn hóa vì sự phát triển", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, (1998).

5

Cao Thế Trình (chủ nhiệm), đề tài thuộc Sở KHCN & MT Lâm Đồng. Đề tài này
gộp hai dân tộc Mạ và K‟Ho để nghiên cứu; trọng tâm nghiên cứu là các đặc

6


điểm văn hoá truyền thống nên các tác giả coi trọng cả tƣ liệu cũ, càng xƣa càng
tốt; có nghiên cứu tổ chức gia đình - dòng họ - buôn (bon) làng theo quan niệm
đó là văn hoá xã hội - văn hoá tổ chức cộng đồng.
Đề tài “Điều tra di sản văn hóa Kơho tỉnh Lâm Đồng” (1998) và đề tài
“Điều tra di sản văn hóa Mạ, Churu tỉnh Lâm Đồng” (1999), do Nguyễn Vũ
Hoàng (chủ nhiệm), đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh. Cả hai đề tài đều xác
định vốn di sản văn hóa các nhóm dân tộc bản địa Lâm Đồng. Trên cơ sở điều
tra phân tích, đề tài đã khẳng định giá trị, nét độc đáo của di sản văn hóa K‟Ho,
Mạ, Churu.
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh “Phát huy mặt tích cực của luật tục
trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Lâm Đồng để xây dựng thôn buôn văn
hóa” (2006), do ThS Đặng Trọng Hộ (Chủ nhiệm). Đề tài đã làm rõ tác động của
luật tục và những cơ chế tác động của nó đến đời sống đồng bào các tộc ngƣời
thiểu số trong các thôn văn hóa và những thôn đăng ký xây dựng thôn văn hóa ở
Lâm Đồng và đề xuất những giải pháp để phát huy những mặt tích cực của luật
tục trong xây dựng thôn văn hóa.
Vấn đề văn hóa còn đƣợc nhiều tác giả nghiên cứu tiếp cận dƣới các góc
độ khác nhau đƣợc thể hiện trong các bài viết đã đăng trên các tạp chí nhƣ: “Giữ
gìn và phát huy giá trị văn hoá Tây Nguyên trong quá trình xây dựng đời sống
văn hoá tinh thần ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số”, Trƣơng Minh Dục Tạp chí Sinh hoạt Lý luận, số 1/2003; “Văn hoá các tộc người Tây Nguyên Thành tựu và thực trạng” Tô Ngọc Thanh - Tạp chí Sinh hoạt Lý luận, số
1/2003; “Nâng cao đời sống văn hoá tinh thần vùng núi các tỉnh miền Trung” Hồ Tấn Sáng, Tạp chí Cộng sản số 17 - 10/1997; “Văn hoá dân gian và bản sắc
văn hoá dân tộc” Ngô Đức Thịnh, Tạp chí Cộng sản số 8-02/2001; Đặng Hữu
Toàn, "Vai trò của văn hóa trong sự phát triển lâu bền theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa", Tạp chí Triết học, số 2/1999.

* Phạm vi nghiên cứu:
Văn hóa là một lĩnh vực hết sức rộng lớn, đa dạng và phong phú, đề tài
nghiên cứu, làm rõ vai trò của văn hóa bản địa Lâm Đồng đối với sự phát triển
kinh tế - xã hội những không đi vào nghiên cứu toàn bộ các vấn đề thuộc về văn
hóa bản địa, mà chỉ tập trung ở vai trò của văn hoá bản địa các DTTS Lâm Đồng
trên các phƣơng diện: phƣơng thức sinh hoạt - kinh tế, kiến trúc, tri thức bản địa,

8


nghề truyền thống, ý thức cộng đồng, thiết chế xã hội, luật tục, lễ hội, tín ngƣỡng
và tôn giáo, nhằm kế thừa, bảo tồn và phát huy nó. Đặc biệt chú trọng ở văn hoá
tinh thần.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phƣơng pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận và thực tiến của đề tài:
Việc nghiên cứu và trình bày của luận văn dựa trên cơ sở lý luận và các
nguyên tắc phƣơng pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh
và các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam có liên quan đến đề tài. Tham
khảo một số công trình nghiên cứu của các tác giả đã đƣợc công bố, có nội dung
liên quan tới vấn đề mà luận văn đề cập.
Đề tài đƣợc tiếp cận theo quan điểm lịch sử cụ thể và phƣơng pháp cấu
trúc hệ thống về văn hóa và vai trò của văn hóa bản địa đối với sự phát triển kinh
tế - xã hội. Nghiên cứu vốn văn hoá nền cùng với những tập quán sản xuất, sinh
hoạt cộng đồng của đồng bào các tộc ngƣời bản địa trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng.
* Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng các phƣơng pháp chung của chủ nghĩa duy vật biện chứng,
chủ nghĩa duy vật lịch sử để phân tích, lý giải, làm rõ các vấn đề; đồng thời kết
hợp nhuần nhuyễn các phƣơng pháp: Điều tra; lịch sử và lôgíc; phân tích và tổng
hợp; quy nạp và diễn dịch;… nhằm đạt tới mục đích đề tài đã đề ra.
6. Đóng góp mới của luận văn

địa các dân tộc thiểu số đối với phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Lâm Đồng
trong giai đoạn hiện nay.

10


Chƣơng 1
VAI TRÒ CỦA VĂN HOÁ BẢN ĐỊA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
Ở TỈNH LÂM ĐỒNG ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
- XÃ HỘI - CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Văn hóa đối với phát triển kinh tế - xã hội
1.1.1. Quan niệm về văn hóa
Văn hóa, là thuật ngữ đa nghĩa, thƣờng đƣợc xem xét từ nhiều khía cạnh
khác nhau. Cho đế nay ngƣời ta đã thống kê có hơn 400 định nghĩa về văn hóa.
Điều đó có nghĩa là sự xác định khái niệm văn hóa không đơn giản bởi mỗi học
giả đều xuất phát từ những cứ liệu riêng, góc độ riêng, mục đích riêng phù hợp
với vấn đề mình cần nghiên cứu.
Trong lịch sử, khái niệm văn hóa xuất hiện rất sớm ở cả phƣơng Đông
cũng nhƣ ở phƣơng Tây. Ở phƣơng Đông, trong thời kỳ Cổ đại ở Trung Quốc,
văn hóa đƣợc hiểu là cách thức điều hành xã hội của tầng lớp thống trị dùng
“văn hóa” và “giáo hóa”, dùng cái hay, cái đẹp để giáo dục và cảm hóa con
ngƣời. Ở nƣớc ta gần 600 năm trƣớc, Nguyễn Trãi cũng đã mơ ƣớc một xã hội
văn trị, lấy nền tảng văn hiến cao, lấy trình độ học vấn và trình độ tu thân của
mỗi ngƣời làm cơ sở cho sự phát triển hài hòa của xã hội.
Ở phƣơng Tây, từ văn hóa bắt nguồn từ tiếng La tinh, (Cullture) nghĩa là
cày cấy, vun trồng - gắn liền với hoạt động nông nghiệp. Sau này, nội dung đó phát
triển thành ý nghĩa hoạt động vun trồng, bù đắp... tinh thần của con ngƣời, gắn chặt
với lao động sáng tạo ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của con ngƣời.
Trong Tiếng Việt, văn hóa đƣợc dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học
thức (trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa); theo nghĩa chuyên biệt để

ra từ tự nhiên, không thể tách khỏi tự nhiên để tồn tại và phát triển. Văn hóa trƣớc
hết là sự thích nghi chủ động và có ý thức của con ngƣời với tự nhiên, đồng thời lại
là sự phát triển của sự thích nghi ấy.Với tính cách là một sinh vật, con ngƣời có
một bản chất thứ nhất, đó là bản chất tự nhiên, nhƣng với tính cách là một sinh
vật có ý thức và sống thành xã hội thì con ngƣời lại có bản chất thứ hai đó là bản
chất văn hóa, vƣợt ra khỏi tự nhiên. Nhƣ vậy, văn hóa đƣợc hình thành và phát
triển trong quan hệ thích nghi giữa con ngƣời với thiên nhiên, giữa con ngƣời
với con ngƣời. Trải qua hàng ngàn năm thích nghi và cải tạo thế giới, những
kinh nghiệm mà con ngƣời tích lũy đƣợc đã trở thành nền tảng cơ bản cho sự

12


phát triển của văn hóa. Văn hóa không chỉ bó hẹp trong quan hệ cá nhân gia đình
và cộng đồng mà còn mở rộng trong mối quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc trên
thế giới. Văn hóa hình thành trong quá trình tiếp xúc, giao lƣu, sàng lọc, cải biến
giữa văn hóa bản địa với những nền văn hóa khác. Do đó, văn hóa bao giờ cũng
thể hiện sự đa dạng, phong phú nhƣng luôn mang những nét độc đáo của dân tộc,
đồng thời bao hàm tiềm ẩn những giá trị chung của nhân loại. Bản chất cốt lõi và
cơ bản của văn hóa là sự sáng tạo vƣơn tới các giá trị nhân văn của con ngƣời
qua trƣờng kỳ lịch sử. Khi bàn về văn hóa Hồ Chí Minh viết:
Vì lẽ sinh tồn cũng nhƣ mục đích của cuộc sống, loài ngƣời mới sáng tạo
và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn
học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các
phƣơng thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.
Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phƣơng thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của
nó mà loài ngƣời đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi
hỏi của sự sinh tồn [52, tr.431].
Quan niệm văn hóa của Hồ CHí Minh là một cách tiếp cận văn hóa từ ý
nghĩa khái quát, đặc trƣng nhất của nó, một định nghĩa cô đọng và chính xác về

ngƣời trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chƣơng, những lối sống,
những quyền cơ bản của con ngƣời, những hệ thống các giá trị, những tập tục và
những tín ngƣỡng [42, tr.23].
GS. Phạm Minh Hạc cho rằng: “Văn hóa là hệ thống các giá trị vật chất và
tinh thần, do con ngƣời, cộng đồng, dân tộc, loài ngƣời sáng tạo ra” [38, tr.56].
Nhƣ vậy, văn hóa bao gồm cả lĩnh vực văn hóa vật chất và văn hóa tinh
thần thể hiện năng lực sáng tạo độc đáo, riêng biệt của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc
trong qúa trình vận động và phát triển của mình. Đó là tổng thể sống động các
hoạt động sáng tạo của các cá nhân và các cộng đồng trong quá khứ và hiện tại.
Qua các thế hệ, hoạt động sang tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các
truyền thống và thị hiếu- những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc,
với các biểu hiện chính là: giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Văn hóa là sự phát
triển năng lực của con ngƣời trong quá trình không ngừng nâng cao trình độ làm
chủ của mình đối với tự nhiên, xã hội và bản thân, nhằm thỏa mãn nhu cầu về
tinh thần và vật chất trong hoạt động thực tiễn hƣớng tới các giá trị nhân văn.
Chính lịch sử phát triển của xã hội loài ngƣời đã chứng minh điều đó. Trên hành
tinh này không có gì quý hơn con ngƣời. Con ngƣời vừa là chủ thể, vừa là sản
phẩm của văn hóa. Điều đó đƣợc phản ánh rõ nét qua những đặc trƣng và chức
năng của văn hóa, gồm:

14


- Một là , văn hóa có tiń h h ệ thống . Nhờ có tiń h hê ̣ thố ng chúng ta hiểu
đƣợc văn hóa không phải là tập hợp , là phép cộng đơn thuần những hiện tƣợng
văn hóa mà văn hóa tồn tại với tƣ cách là mô ̣t thƣ̣c thể bao trùm mo ̣i hoa ̣t đô ̣ng
của xã hội, thƣ̣c hiê ̣n đƣơ ̣c chức năng tổ chức xã hội. Chính văn hóa làm tăng độ
ổn định của xã hội, cung cấp cho xã hội mọi phƣơng tiện cần thiết để đối phó với
môi trƣờng tự nhiên và xã hội của mình.
- Hai là, văn hóa có tính giá trị, nhƣng là những giá trị kết tinh lao động

trong đó có cả bản thân cách thức sáng tạo ra các giá trị mà qua kinh nghiệm
ngàn đời, con ngƣời đã tích lũy đƣợc. Theo nghĩa này, văn hóa có thể đƣợc xem
nhƣ một dạng hoạt động. Tuy nhiên sự phân biệt này chỉ có tính chất tƣơng đối,
bởi ngay trong sản phẩm vật chất cũng luôn bao hàm trong đó cả những giá trị
tinh thần.
Đồng thời, dựa vào tính giá trị chúng ta còn có thể phân biệt văn hóa với
hậu quả của nó hoặc những hiện tƣợng phi văn hóa, loại ra những cách hiểu quá
rộng, quy về văn hóa mọi hoạt động của con ngƣời. Theo thời gian có thể phân
biệt các giá trị vĩnh cửu và giá trị nhất thời. Trong các giá trị nhất thời lại có thể
phân biệt giá trị đã lỗi thời, giá trị hiện hành và giá trị đang hình thành. Nhờ
thƣờng xuyên xem xét các giá trị mà văn hóa thực hiện đƣợc chức năng quan
trọng thứ hai của mình là chức năng điều chỉnh xã hội, giúp cho xã hội duy trì
đƣợc trạng thái cân bằng động của mình, không ngừng tự hoàn thiện và thích ứng
với những biến đổi của môi trƣờng nhằm tự bảo vệ để tồn tại và phát triển. Từ
việc điều chỉnh xã hội, văn hóa còn có chức năng bộ phận là định hướng các
chuẩn mực, điều chỉnh các ứng xử của con người và chức năng phái sinh là động
lực cho sự phát triển của xã hội. Không phải ngẫu nhiên mà UNESCO nhấn mạnh
rằng văn hóa chiếm vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết của phát triển.
- Ba là, hình thành trong một quá trình và đƣợc tích lũy qua nhiều thế hệ,
nên văn hóa có tính lịch sử. Tính lịch sử tạo cho văn hóa một bề dày, một chiều
sâu và chính nó buộc văn hóa thƣờng xuyên tự điều chỉnh, tiến hành phân loại và
phân bố lại các giá trị.
Tính lịch sử của văn hóa đƣợc duy trì bằng truyền thống văn hóa, đó là
những giá trị tƣơng đối ổn định (những kinh nghiệm tập thể) thể hiện dƣới
những khuôn mẫu xã hội đƣợc tích lũy và tái tạo trong cộng đồng ngƣời qua
không gian và thời gian và đƣợc cố định hóa dƣới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập
quán, nghi lễ, luật pháp, dƣ luận… Truyền thống văn hóa tồn tại đƣợc nhờ giáo

16


Vai trò của văn hóa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, biểu hiện ở vai
trò của tất cả các yếu tố cấu thành văn hóa: khoa học, giáo dục - đào tạo, đạo đức

17


xã hội, thiết chế xã hội, phong tục, tín ngƣỡng, tri thức… và những kinh nghiệm
đƣợc tích lũy trong quá trình lao động sản xuất. Tất cả những yếu tố đó, có ảnh
hƣởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội.
Là sản phẩm sáng tạo của con ngƣời, nhƣng văn hóa lại chi phối toàn bộ
hoạt động của con ngƣời. Văn hóa là “hoạt động sản xuất nhằm cung cấp năng
lƣợng tinh thần cho con ngƣời, làm cho con ngƣời ngày càng hoàn thiện, xa rời
trạng thái nguyên sơ ban đầu khi từ con vật phát triển thành con ngƣời. Con
ngƣời tồn tại, không chỉ cần những sản phẩm vật chất mà còn có nhu cầu hƣởng
thụ sản phẩm văn hóa tinh thần, con ngƣời và xã hội loài ngƣời càng phát triển
thì nhu cầu văn hóa tinh thần đòi hỏi ngày càng cao. Đáp ứng nhu cầu văn hóa
tinh thần đó chính là đảm bảo sự phát triển ngày càng nhiều của cải vật chất cho
con ngƣời và xã hội” [2].
Dù ở thời kỳ nào, ở quốc gia nào còn ngƣời cũng đều đóng vai trò quyết
đinh
̣ đôi với quá trình sản xuấ t , mà con ngƣời trƣớc hế t la ̣i là mô ̣t thƣ̣c thể văn
hóa. Thƣ̣c tiế n đã chƣ́ng minh , sƣ̣ phát triể n của mỗi quố c gia không phải chỉ ở
tài nguyên thiên nhiên giàu có, đa da ̣ng mà quyế t đinh
̣ là ở sƣ̣ sáng ta ̣o, trí tuệ, tài
năng, đa ̣o đƣ́c của con ngƣời , ở trong hàm lƣợng và sự phân bố tài nguyên tri
thƣ́c trong cơ cấ u sản xuấ t . Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu
cuối cùng là văn hoá . Trong mỗi chính sách kinh tế - xã hội luôn bao hàm nội
dung và mục tiêu văn hoá. Văn hoá có khả năng khơi dậy tiềm năng sáng tạo của
con ngƣời - nguồn nhân lực quyết định sự phát triển xã hội . Điề u đó cho thấ y ,
văn hóa và kinh tế có quan hệ biện chứng với nhau . Trong đó , kinh tế vƣ̀a đảm

tr.110]. Hội nghị lần thứ 10, BCHTW Đảng khóa IX tiếp tục khẳng định: “Bảo
đảm gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng, chỉnh đốn
Đảng là then chốt với không ngừng nâng cao văn hóa - nền tảng tinh thần của
XH; tạo nên sự phát triển đồng bộ của ba lĩnh vực trên chính là điều kiện quyết
định bảo đảm cho sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nƣớc” [23]. Phát
huy vai trò nền tảng tinh thần xã hội của văn hóa là phải “làm cho văn hóa thấm
sâu vào từng khu dân cƣ, từng gia đình, từng ngƣời, hoàn thiện hệ giá trị mới của
con ngƣời Việt Nam, kế thừa các giá trị truyền thống của dân tộc, và tiếp thu tinh
hoa văn hóa của loài ngƣời, tăng sức đề kháng chống văn hóa đồi trụy, độc hại.
Nâng cao tính văn hóa trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và sinh hoạt
của nhân dân” [24, tr.213].
Văn hóa “biểu hiện sức sống, sức sáng tạo, sức phát triển, sức mạnh tiềm
tàng và bản lĩnh, cốt cách của dân tộc đƣợc thể hiện qua truyền thống văn hóa
dân tộc và hệ giá trị văn hóa” [6], là sự hiểu biết , là tri thức , kinh nghiê ̣m và sƣ̣
khôn ngoan tić h lũy đƣơ ̣c trong quá triǹ h ho ̣c tâ ̣p , lao đô ̣ng, đấ u tranh để duy trì ,

19


phát triển cuộc sống của con ngƣời; đó là hệ giá trị và chuẩn mực xã hội truyền
thống, đã đƣợc đúc kết từ trong lịch sử dân tộc, quốc gia, tạo nên bản sắc văn
hoá, là những nét riêng để phân biệt với các dân tộc khác, quốc gia khác. Bản sắc
dân tộc đó hình thành nên bản lĩnh tinh thần của cộng đồng dân tộc, của mỗi
quốc gia và hình thành nên niềm tin, lý tƣởng chung của cộng đồng, đƣợc chắt
lọc kế thừa phát huy và phát triển qua các thế hệ. Đƣợc vật chất hóa trong cấu
trúc thiết chế chính trị - xã hội và trong hoạt động sống để dân tộc đó, quốc gia
đó hƣớng tới. Điều đó cho thấy, khả năng phát triển của dân tộc không đơn thuần
chỉ dựa vào cơ sở vật chất mà cơ bản và chủ yếu là ở khả năng phát huy nguồn
lực của con ngƣời. Quan hệ giữa kinh tế và văn hóa đƣợc chỉ rõ trong Nghị
quyết Trung ƣơng V khóa VIII: “Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục

phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của nhân tố chủ quan và khách
quan, của các điều kiện bên trong và bên ngoài, thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội ổn định, bền vững. Trong việc phát triển nguồn lực khoa học công nghệ,
không chỉ là quá trình phát triển KHKT công nghệ mà cái chính là quá trình
chuyển đổi tƣ duy của cả một cộng đồng dân tộc, nâng cao tầm văn hoá và trình
độ văn hoá của dân tộc, là quá trình làm thay đổi lối sống, nếp sống của xã hội
cho phù hợp với sự phát triển của thời đại công nghiệp.
Con ngƣời là vốn quý nhất, song văn hoá lại có ý nghĩa làm cho tốt đẹp hơn
về đạo lý, đạo đức của con ngƣời. Con ngƣời làm ra văn hoá, nhƣng văn hoá hóa
con ngƣời, văn hoá phải làm tốt vai trò hình thành nhân cách - yếu tố cốt lõi trong
nguồn lực con ngƣời. Con ngƣời là nguồn lực vô hạn, nhƣng phải là con ngƣời có
văn hoá. Đúng nhƣ khẳng định của ĐCSVN: “Mọi hoạt động văn hoá nhằm xây
dựng con ngƣời Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tƣ tƣởng, đạo đức, thể
chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái khoan dung, tôn trọng
nghĩa tình, lối sống có văn hoá, quan hệ hài hoà trong gia đình, cộng đồng và
ngoài xã hội. Văn hoá trở thành nhân tố thúc đẩy con ngƣời tự hoàn thiện nhân
cách, kế thừa truyền thống cách mạng của dân tộc, phát huy tinh thần yêu nƣớc, ý
chí tự lực tự cƣờng, xây dựng và bảo vệ tổ quốc” [15, tr.114]. Với chức năng điều
tiết của mình, văn hoá phải luôn luôn làm cho con ngƣời sống tốt hơn, sống có đạo
lý, phẩm giá. Văn hoá làm cho con ngƣời bao giờ cũng sống cùng, sống với, sống
vì mọi ngƣời. Do vậy, văn hóa không chỉ phát huy mặt tích cực mà còn khắc phục
mặt hạn chế của các điều kiện chủ quan, khách quan, cũng nhƣ các điều kiện bên

21


trong và bên ngoài đảm bảo cho sự phát triển hài hòa, ổn định bền vững của xã
hội, đặc biệt trong nền kinh tế thị trƣờng hiện nay.
Nhƣ vậy, văn hóa không thể thiế u vắng trong đô ̣ng lƣ̣c thúc đẩ y sƣ̣ phát
triể n kinh tế - xã hội. “Văn hoá, với sự thẩm thấu lẫn nhau cả vật chất lẫn tinh
thần, cả quá khứ - hiện tại và tƣơng lai, cả truyền thống và hiện đại, cả tinh thần,


22


Các DTTS bản địa Lâm Đồng tuy có sự khác nhau về nguồn gốc và ngôn
ngữ, song ngay từ khi lựa chọn mảnh đất nam Tây Nguyên này làm địa bàn cƣ
trú, thì trong quá trình sinh sống chung trên cùng lãnh thổ , vừa có sự cộng cƣ
vừa có sự giao lƣu về văn hóa , họ cũng đồng thời tƣ̀ng bƣớc tạo dựng nên một
nền văn hóa đậm đà sắc thái bản địa, phù hợp với những điều kiện môi trƣờng
sinh thái mà họ cƣ trú cũng nhƣ trình độ nhận thức và các điều kiện kinh tế - xã
hội mà họ đạt đƣợc. Đó là hệ thống các giá trị văn hóa vật chất và tinh thần, biểu
hiện kết tinh của những hoạt động về sản xuất, về tƣ duy, về ứng xử xã hội và
ứng xử với tự nhiên trong không gian sinh tồn của các cƣ dân bản địa đƣợc lƣu
truyền và phát triển qua bao thế hệ.
1.2.1. Văn hóa vật chất và vai trò của nó
Để thích nghi với điều kiện môi trƣờng sống, đặc biệt là núi rừng trùng
điệp, sự chia cắt khắc nghiệt và với một số dân ít ỏi, thƣa thớt, văn hoá vật chất
của đồng bào các DTTS bản địa Lâm Đồng có những nét độc đáo riêng biệt, biểu
hiện ở:
Vai trò của phƣơng thức sản xuất nƣơng rẫy và tri thức kinh nghiệm.
Với nền nông nghiệp nƣơng rẫy, phƣơng thức sản xuất truyền thống của
đồng bào bản địa Lâm Đồng là trồng trọt, chăn nuôi và chiếm đoạt sản phẩm của
tự nhiên. Cƣ trú lâu đời trên vùng rừng núi cao, đa số trong các tộc ngƣời bản
địa, dựa vào rừng núi vây quanh để làm rẫy lúa theo thời vụ của nông lịch dân
gian: phát, đốt, chọc, trỉa… Canh tác nƣơng rẫy theo kiểu luân canh nhƣ vậy đòi
hỏi một không gian sinh tồn rộng, nên thói quen trong cuộc sống và sinh hoạt
của các DTTS bản địa Lâm Đồng là chuyển dịch thƣờng xuyên. Do vậy, nếp
sống của họ khá tạm bợ, sơ sài, ít nhiều hình thành nên thói quen tùy tiện và có
tập quán du canh, du cƣ. Tuy nhiên nét đặc trƣng lại là khả năng thích nghi
nhanh với cái mới và sự thay đổi. Cũng có một số nhóm ngƣời ở các tộc ngƣời

song. Có thể nói công cụ lao động của ngƣời dân các DTTS bản địa Lâm Đồng
tuy thô sơ song đó là những công cụ đa năng và có vai trò quan trọng trong đời
sống của đồng bào. Nó không chỉ sử dụng trong sản xuất mà còn đƣợc sử dụng
trong sinh hoạt gia đình, thời kỳ kháng chiến chống thực dân, đế quốc những
công cụ lao động thô sơ đó lại chính là vũ khí chống lại kẻ thù.
Nghề thủ công của các tộc ngƣời bản địa rất ít chủ yếu là: đan lát, dệt thổ
cẩm, kim hoàn, rèn sắt... thƣờng chỉ hoạt động trong những dịp nông nhàn, nhằm
tự cấp, tự túc cho cá nhân, gia đình. Sản phẩm của các nghề truyền thống mặc dù
cũng co trao đổi nhƣng không nhiều. Trong các nghề thủ công của các DTTS
Trong tộc ngƣời K‟Ho thì nhóm ngƣời Srê, ngƣời Lạt…phƣơng thúc canh tác chính là ruộng nƣớc
[34].

24


bản địa, nghề dệt thổ cẩm rất đa dạng, độc đáo, gây ấn tƣợng bởi cách phối màu
và đƣờng nét hoa văn. Ở mỗi tấm vải dệt không chỉ có giá trị về mặt vật chất, mà
sự dày công còn gắn với những giá trị tinh thần: dệt tặng cha mẹ, dệt tấm đắp
tặng chồng,... cũng nhƣ phát huy đƣợc truyền thống hiếu thuận, thủy chung của
ngƣời Việt. Đồng thời mối tấm thổ cẩm còn là sự phản ánh quan hệ giữa con
ngƣời với thiên nhiên ở cái mềm mại trong cách phối màu, vừa chứa đựng vẻ
hoang vu của rừng núi, lại vừa thể hiện sự sinh động của cuộc sống. Nghề ủ rƣợu
cần, một thức uống gắn bó từ lâu đời với ngƣời dân bản địa nơi đây, không còn
nằm trong khuôn khổ là một thức uống bình thƣờng, mà đã trở thành phƣơng
thức ứng xử văn hóa độc đáo đặc trƣng nhất của các dân tộc thiểu số Tây
Nguyên nói chung, dân tộc bản địa Lâm Đồng nói riêng (nhất là trong dịp lễ
hội). Rƣợu cần - một nghệ thuật ẩm thực đã trở thành yếu tố văn hóa đặc sắc
trong truyền thống văn hóa Lâm Đồng…
Có thể nói, nền nông nghiệp của các tộc ngƣời bản địa lâm Đồng là nền
nông nghiệp sơ khai, lệ thuộc vào thiên nhiên, lấy rừng và đất rừng làm đối


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status