skkn sử dụng hiệu quả phương pháp thảo luận nhóm trong dạy và học môn giáo dục công dân lớp 6 - Pdf 32

MỤC LỤC
NỘI DUNG

TRANG

MỤC LỤC ..............................................................................................................1
A. TÊN SÁNG KIẾN ...............................................................................................................2
B. TÁC GIẢ SÁNG KIẾN. .......................................................................................2
C. NỘI DUNG SÁNG KIẾN.....................................................................................2

I. Đặt vấn đề.
1. Lí do chọn đề tài ...............................................................................................2
2. Cơ sở lý luận .....................................................................................................3
3. Cơ sở thực tiến...................................................................................................4
II. Giải quyết vấn đề.
1. Tính đặc trưng bộ môn. ....................................................................................4
2. Giải pháp cũ thường làm.. ............................................ ...................................5
3. Giải pháp mới cải tiến.......................................................................................7
3.1 Chuẩn bị...........................................................................................................8
3.2 Tiến hành thảo luận nhóm tại lớp ...................................................................9
3.3 Tổ chức báo cáo kết quả thảo luận nhóm......................................................13
4. Kết quả thực hiện.............................................................................................16
5. Bài học kinh nghiệm .......................................................................................17
6. Ý kiến đề xuất..................................................................................................18
III. Hiệu quả kinh tế- xã hội dự kiến đạt được.
1. Hiệu quả kinh tế ............................................................................................. 19
2. Hiệu quả xã hội ...............................................................................................19
IV. Điều kiện và khả năng áp dụng .................................................................19
V. Kết luận ........................................................................................................20
PHẦN PHỤ LỤC.


hóa đất nước, trở thành những người công dân có ích và đáp ứng được các yêu cầu
của một xã hội mới.
Là một giáo viên dạy Giáo dục công dân tôi nhận thấy đây cũng là một
môn học có vai trò quan trọng, giáo dục kĩ năng sống cho học sinh, góp phần
đào tạo học sinh thành những người lao động mới, vừa có tri thức khoa học, vừa
có đạo đức, vừa có năng lực hoạt động thực tiễn, vừa có phẩm chất chính trị- tư
tưởng, biết sống và làm việc theo Hiến pháp và Pháp luật.
Trên tinh thần của Chỉ thị số 30/1998 Bộ GD & ĐT chỉ rõ: “Môn Giáo
dục công dân ở các trường Trung học Phổ thông, Trung học Cơ sở có vị trí
2


hàng đầu trong việc định hướng phát triển nhân cách của học sinh”. Vấn đề
nâng cao chất lượng dạy và học môn Giáo dục công dân trong nhà trường THCS
ngày càng trở nên quan trọng và cấp bách. Nghị quyết Đại hội X Đảng Cộng sản
Việt Nam cũng luôn nhấn mạnh: Cần phải đổi mới chương trình và phương pháp
giảng dạy nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về học tập của học sinh.
Trong thời gian công tác tại trường THCS Đồng Hướng, tôi nhận thấy
trong việc dạy học Giáo dục công dân nói chung và dạy Giáo dục công dân lớp 6
nói riêng, vấn đề đặt ra là cần đổi mới các phương pháp dạy học để tạo cho học
sinh sự hứng thú, niềm say mê, phát huy khả năng tư duy sáng tạo của mình
trong quá trình chiếm lĩnh tri thức mới, đồng thời biết vận dụng linh hoạt những
kiến thức đó để xử lý các tình huống xảy ra trong cuộc sống hàng ngày.
Qua các lớp bồi dưỡng về việc đổi mới phương pháp giảng dạy môn Giáo
dục công dân được triển khai trên quy mô lớn, qua những đợt hội giảng, thi giáo
viên giỏi các cấp, nhiều phương pháp dạy học tích cực được áp dụng, xuất phát
từ tình hình thực tế khi áp dụng những phương pháp này vào giảng dạy, tôi được
cọ sát, học hỏi rất nhiều về những phương pháp, kĩ thật dạy học môn Giáo dục
công dân, nhưng trong đó tôi chú ý hơn cả là phương pháp thảo luận nhóm trong
giờ học. Vì vậy, qua thực tế giảng dạy, tôi mạnh dạn đưa ra vấn đề: Sử dụng

để hoàn thành nội dung ở sách giáo khoa.
- Sách thiết kế bài giảng trình bày các phương án lên lớp cụ thể hơn nhưng
cũng chủ yếu là một số hình thức dạy học quen thuộc như: hướng dẫn hoạt động
theo cặp đôi hoặc theo nhóm và những câu hỏi phát vấn.
Nếu giáo viên không có sự tìm tòi, sáng tạo, vận dụng linh hoạt các phương
pháp dạy học thì tiết học sẽ dễ nhàm chán, khó khắc sâu kiến thức cho học sinh.
Từ kinh nghiệm dạy học của mình tôi thấy phương pháp thảo luận nhóm
rất phù hợp khi dạy học môn Giáo dục công dân. Khi áp dụng thường xuyên
phương pháp này, không khí lớp học thay đổi hẳn: học sinh rất phấn khởi, hào
hứng và tham gia nhiệt tình, sôi nổi.
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1. Tính đặc trưng bộ môn.
Đối tượng học sinh lớp 6 là lớp đối tượng vừa rời khỏi trường Tiểu học
bước vào bậc THCS với rất nhiều bỡ ngỡ về thầy, về bạn, về các môn học có tên
gọi mới và đặc biệt là cách truyền thụ và tiếp thu kiến thức rất mới mẻ ở tất cả
4


các môn học. Hơn nữa các em chưa có thói quen chủ động tìm hiểu, khám phá
bài học nếu không được giao nhiệm vụ cụ thể.
Đặc trưng của môn Giáo dục công dân ở THCS là cấu trúc chương trình
gồm 2 phần rõ rệt: Phần đạo đức và phần pháp luật. Với những bài học về đạo
đức thường có mô típ chung là nêu khái niệm, biểu hiện trong lời nói và hành vi,
ý nghĩa của đức tính đó trong cuộc sống và sau cùng là đưa ra cách rèn luyện
cho mỗi người. Còn những bài học về pháp luật là khô khan, công thức, mang
tính giáo huấn nên đối với môn học này học sinh tỏ ra không có hứng thú trong
việc học. Hơn nữa việc giảng dạy của giáo viên đôi khi không tránh khỏi
phương pháp cũ, phương pháp truyền thống thiên về: vấn đáp, giảng giải, thuyết
minh,… chứ chưa đi sâu vào việc dạy học lấy học sinh làm trung tâm, chưa phát

ỷ lại, ngại phát biểu cho học sinh dẫn đến các em chán học. Do đó mà kết quả
dạy và học chưa cao.
Kết quả của phương pháp này là: số học sinh chưa hứng thú với bài học
còn nhiều. Điều này thể hiện qua kết quả khảo sát 41 em học sinh lớp 6A và 36
em học sinh lớp 6B trường THCS Đồng Hướng năm 2011-2012.
Bảng 1: Hứng thú học tập của học sinh lớp 6A, 6B đối với môn Giáo dục công
dân:

Lớp

Mức độ

Số học sinh được

Chưa hứng

khảo sát

Hứng thú

Bình thường

6A

41

6

20


toàn

chính

bài

15

23

3

6B
36
13
20
3
Chính mức độ hiểu bài như vậy nên việc vận dụng tri thức môn Giáo dục
công dân vào thực tiễn còn hạn chế, kết quả học tập của các em đối với bộ môn
này chưa cao.
Bảng 3: Kết quả học tập của học sinh sau học kỳ I năm học:
6


Lớp

Sĩ số

6A
6B


%

4
4

9.8
11.1

3. Giải pháp mới cải tiến.
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để cũng là áp dụng phương pháp thảo luận
nhóm trong giảng dạy môn Giáo dục công dân nhưng tiến hành sao cho hấp dẫn,
lôi cuốn học sinh tham gia vào hoạt động này, phát huy được tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của học sinh để các em chủ động lĩnh hội tri thức, trang bị được
vốn sống cho mình. Vì vậy khi giảng dạy môn Giáo dục công dân, tôi đã áp
dụng phương pháp này theo hướng tích cực hơn, phù hợp với tâm lí của học sinh
và phù hợp với yêu cầu của bài học Giáo dục công dân lớp 6 ở trường THCS
Đồng Hướng trong năm học 2013- 2014 ở lớp 6A với sĩ số 36 em và lớp 6B với
sĩ số 38 em. Khi áp dụng phương pháp thảo luận nhóm vào dạy học ở một bài
học cụ thể, tôi đã chú ý tới những điều sau:
- Mục tiêu của hoạt động nhóm ở bài học này là gì?
- Vấn đề thảo luận trong nhóm là những vấn đề gì?
- Chuẩn bị câu hỏi thảo luận, yêu cầu về thời gian.
- Chia nhóm học sinh phù hợp với tính chất của câu hỏi thảo luận.
- Chuẩn bị về phương tiện, thiết bị cần thiết (giấy A4, bút viết…).
- Phân công nhóm trưởng, thư ký.
- Học sinh thảo luận, giáo viên quan sát, nhắc nhở, giải đáp những vấn đề
nảy sinh, phải dự kiến tình huống xảy ra và cách giải quyết.
- Tổ chức báo cáo kết quả, nhận xét, bổ sung.
- Thống nhất đáp án chung.

Thường thì trong 1 lần thực hiện thảo luận nhóm, tôi đưa ra câu hỏi thảo
luận ở 2 mức độ: từ nhận biết, thông hiểu đến phân tích đánh giá để rèn luyện
học sinh ở cả 2 kĩ năng: Làm thông thạo và làm được.
Ví dụ 1: Khi chuẩn bị bài Tích cực, tự giác trong hoạt động tập thể và
trong hoạt động xã hội, tôi đã dự kiến sau khi đọc câu chuyện “Điều ước của
Trương Quế Chi” trong sách giáo khoa, tôi sẽ chia lớp thành 4 nhóm, yêu cầu
các nhóm thảo luận trong 4 phút theo các câu hỏi sau:
8


Nhóm 1+ 2: Những tình tiết nào chứng tỏ Trương Quế Chi tích cực, tự giác
tham gia giúp đỡ cha mẹ, tham gia hoạt động tập thể và hoạt động xã hội?
Nhóm 3+ 4: Động cơ nào giúp Trương Quế chi tích cực, tự giác như vậy?
Em học tập được gì ở bạn ấy?
Trong phần dự kiến trên tôi xác định rõ: Câu hỏi dành cho nhóm 1+ 2 ở mức
độ nhận biết, thông hiểu, học sinh làm thành thạo. Còn câu hỏi dành cho nhóm
3+ 4 ở mức cao hơn là phân tích, đánh giá, học sinh làm được. Thiết bị cần dùng
cho mỗi nhóm là 1 tờ giấy để ghi kết quả thảo luận, học sinh sử dụng bút của
mình.
Ví dụ 2: Khi chuẩn bị bài 14: Thực hiện trật tự an toàn giao thông, tôi lại
có dự kiến khác: chỉ chia nhóm nhỏ theo bàn (mỗi bàn là 1 nhóm) thảo luận câu
hỏi sau: Những nguyên nhân nào dẫn đến tai nạn giao thông? Trong các nguyên
nhân đó thì nguyên nhân nào là phổ biến?
Thời gian thảo luận là 2 phút, câu hỏi này ở mức nhận biết, thông hiểu chỉ
cần sử dụng phương tiện là sách giáo khoa, không cần sử dụng giấy.
Trên đây là những chuẩn bị của giáo viên, bên cạnh đó học sinh cũng cần
phải chuẩn bị những công việc cụ thể sau:
- Thuộc bài cũ, làm những bài tập của giờ học trước.
- Đọc trước bài mới và trả lời những câu hỏi trong phần gợi ý (sgk).
- Chuẩn bị những yêu cầu cần thiết mà giáo viên đã dặn dò.

biệt chú ý đến việc này. Nhóm trưởng là người điều khiển hoạt động chung của
nhóm, mời các thành viên phát biểu ý kiến, tổng hợp nhanh ý kiến cần ghi chép
để thư kí ghi lại. Nhóm trưởng cũng là người bao quát các thành viên, phát hiện
kịp thời những thành viên tách nhóm hoặc không tập trung vào công việc, nhắc
nhở kịp thời và đưa thành viên đó trở lại hoạt động. Sau cùng, nhóm trưởng còn
là người trình bày kết quả thảo luận của nhóm mình, đưa ra ý kiến nhận xét sau
khi nhóm khác trình bày. Tuy vậy, cũng nên thay đổi nhóm trưởng, thư ký và
thời gian thảo luận để học sinh có thể thích ứng được với các sự thay đổi.
Ví dụ: Ở bài 3: Tiết kiệm có thể chia lớp làm 4 nhóm, thời gian thảo luận là
3 phút và phân công nhóm trưởng, thư ký nhưng đến bài sau: Bài 4: Lễ độ giáo
viên có thể thay đổi thời gian thảo luận là 4 phút và phân công các em học sinh
khác làm nhóm trưởng và thư ký để tất cả các học sinh trong lớp đều được thay
phiên nhau đảm nhiệm vai trò này. Có như vậy mới tạo được sự tự tin, hình
10


thành kĩ năng làm việc của người lãnh đạo và thành viên bình thường trong
nhóm cho học sinh, dần dần trở thành thói quen, học sinh sẽ tự chủ ở mọi vai trò
trong việc lĩnh hội tri thức.
Hoạt động nhóm là quá trình cá nhân tự kiến tạo kiến thức cho mình, đó là
những kiến thức thông qua tương tác với các cá nhân khác, với xã hội và thực
tiễn mà có. Hoạt động này nhằm tổ chức và hướng dẫn học sinh để học sinh tự
khám phá và thực hiện nhiệm vụ học tập, tránh lối học thụ động trên lớp, giáo
viên thường đưa ra những câu hỏi thảo luận để kích thích khả năng tư duy, tìm
tòi và sáng tạo của học sinh, từ đó các em tích lũy được vốn sống, chủ động
trước những hành động của mình.
Ví dụ: Khi dạy bài: Bài 3. Tiết kiệm, tôi chia lớp thành 4 nhóm và đưa ra
câu hỏi thảo luận nhóm như sau:
Nhóm 1+ 2. Nêu những việc làm thể hiện tiết kiệm trong gia đình?
Nhóm 3+ 4. Em làm gì để thể hiện tiết kiệm ở trường, lớp và ngoài xã hội?

tường.

ngập.

Đưa ra được những việc làm cụ thể đó cũng đồng nghĩa với việc học sinh
tích lũy được vốn sống cho mình, biết thực hành tiết kiệm bằng những hành
động cụ thể ở nhà, ở trường lớp và ở ngoài xã hội.
Theo tôi trong giảng dạy Giáo dục công dân, thảo luận nhóm là phương
pháp rất có hiệu quả, hơn nữa thành công của bài học phụ thuộc vào sự nhiệt
tình tham gia của mỗi thành viên. Vì vậy phương pháp này còn được gọi là
phương pháp cùng tham gia. Đây như một phương pháp trung gian giữa sự làm
11


việc độc lập của từng học sinh với sự việc chung của lớp, để thu hút sự tham gia
của học sinh, để tất cả các em đều được hoạt động, suy nghĩ, tìm tòi rồi sau đó
trình bày kết quả, đối chiếu với nhóm khác, cùng nhau nhận xét, sau đó là đối
chiếu với đáp án của thầy cô giáo. Từ đó thấy được năng lực làm việc nhóm của
mình để rút kinh nghiện cho lần làm việc nhóm tiếp theo.
Ví dụ: Khi dạy Bài 11: Mục đích học tập của học sinh, trong khi tìm
hiểu nội dung bài học tôi đã dẫn dắt để đưa ra câu hỏi thảo luận trong phần a
như sau: Vậy xác định mục đích học tập đúng đắn và học tập tốt sẽ mang lại lợi
ích gì cho bản thân, gia đình và xã hội, cô mời các em cùng tham gia thảo luận
(Tôi chia lớp thành 4 nhóm, cử ra nhóm trưởng, thư ký, phân công vị trí thảo
luận, thời gian thảo luận là 3 phút).
Nhóm 1+ 2: Nêu những lợi ích của việc học tập đối với bản thân và gia
đình?
Nhóm 3+4: Việc học tập đem lại những lợi ích gì đối với xã hội?
Sau thời gian 3 phút, giáo viên cho học sinh ổn định trật tự, ngồi đúng vị
trí. Nhóm trưởng của nhóm 1 trình bày kết quả thảo luận, các em ở nhóm 1 mới

nước
Nhóm 3: Đồng ý với ý kiến của nhóm 4
Giáo viên hỏi ý kiến của một vài học sinh khác, nếu cũng đồng ý như vậy
thì nhận xét và đưa ra đáp án.
Nhóm 3+ 4. Lợi ích cho xã hội:
- Thành người lao động chân chính,
- Tự lập nghiệp, góp phần xây dựng quê hương, đất nước, bảo vệ Tổ quốc.
- Phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
- Mang lại vinh dự cho nhà trường, vinh quang cho đất nước …
Như vậy nhờ có sự bổ sung cho nhau mà các nhóm đã tự nhận ra được lợi
ích to lớn của việc học tập, từ đó xác định được cho mình mục đích học tập đúng
đắn trong hiện tại và tương lai là:
- Học sinh phải nỗ lực học tập để:
+ Trở thành: Con ngoan, trò giỏi, cháu ngoan Bác Hồ, người công dân tốt.
+ Trở thành con người chân chính.
+ Tự lập nghiệp.
+ Xây dựng quê hương,đất nước.
13


+ Bảo vệ Tổ quốc.
Ở phương pháp này, người giáo viên phải biết tổ chức cho học sinh hoạt
động để kích thích được sự nỗ lực hoạt động, suy nghĩ, tìm tòi, tự khai thác
thông tin, tự kiến tạo tri thức và các em tham gia nhiệt tình, hào hứng vào hoạt
động. Tất cả các bài học học sinh tiếp thu được sẽ phản ánh khá rõ nét trong
cuộc sống hàng ngày của các em. Từ đó sẽ đánh giá kết quả giảng dạy của người
giáo viên đòi hỏi giáo viên phải tổ chức tốt lớp học và đưa ra những câu hỏi thảo
luận phù hợp với lứa tuổi và khả năng của học sinh
Tất cả các hoạt động của học sinh đều nằm trong sự quản lý của giáo viên:
Khi học sinh tiến hành thảo luận, giáo viên chuyển từ vị trí người hướng dẫn

sinh trình bày mỗi học sinh một đoạn nối tiếp nhau.
Ví dụ: Bài 18 Quyền được bảo đảm an toàn và bí mật thư tín, điện
thoại, điện tín.
Để giúp học sinh nắm vững kiến thức phần nội dung bài học, giáo viên có
thể tổ chức cho học sinh thảo luận những câu hỏi sau:
Nhóm 1+ 2: Theo em những hành vi nào là vi phạm pháp luật về bí mật
thư tín và an toàn thư tín, điện thoại, điện tín?
Nhóm 3+ 4: Người vi phạm pháp luật về an toàn và bí mật thư tín, điện
thoại, điện tín sẽ bị pháp luật xử lí như thế nào?
- Các nhóm thảo luận, ghi kết quả thảo luận ra giấy A4.
- Đại diện nhóm 1 đứng dậy trình bày trước lớp.
- Nhóm 2 có ý kiến nhận xét, nếu đồng nhất ý kiến thì thôi còn nếu có
thêm ý kiến bổ sung thì trình bày.
- Các nhóm còn lại nêu ý kiến. Cả lớp thảo luận đưa ra ý kiến chung.
Giáo viên nhận xét, bổ sung, đưa ra đáp án và kết luận chung.
- Học sinh ghi nội dung bài học vào vở.
Ví dụ: Ở Bài 3. Tiết kiệm, câu hỏi thảo luận dành cho các nhóm là:
Nhóm 1+ 2. Nêu những việc làm thể hiện tiết kiệm trong gia đình?
Nhóm 3+ 4. Em làm gì để thể hiện tiết kiệm ở trường, lớp và ngoài xã
hội?
Sau khi 4 nhóm thảo luận ghi kết quả ra giấy khổ to bằng bút dạ, đại diện
nhóm sẽ dán kết quả đó lên bảng để các nhóm và giáo viên cùng nhận xét.
Sau khi thảo luận theo nhóm các em đưa ra ý kiến, giáo viên tập hợp lại như sau:
15


4. Kết quả thực hiện.
Cụ thể đối với việc áp dụng thường xuyên phương pháp này tôi thấy nổi
bật lên những ưu điểm sau đây:
- Cung cấp cho học sinh những hiểu biết thực tế về những vấn đề đang

0
0

6B
Số lượng
32
6
0

%)
84
16
0

Bảng 2: Mức độ hiểu bài của học sinh trong một giờ Giáo dục công dân:
Mức độ hiểu bài của học sinh trong

Mức độ

một giờ Giáo dục Công dân (%)
6A
6B
Số lượng
%)
Số lượng

%)

16


Khá

Trung bình

Yếu

6A

36

40%

35 %

25 %

0%

6B

38

33 %

41 %

26 %

0%


- Về phía học sinh phải nhiệt tình, tích cực, tự giác tìm tòi, phát hiện, trau
dồi, lĩnh hội tri thức, bằng nhiều cách; phải vận dụng những điều được học vào
thực tế cuộc sống.
- Để bồi dưỡng niềm say mê và hứng thú học môn Giáo dục công dân,
làm giàu vốn sống, vốn hiểu biết xã hội cho các em học sinh lớp 6 nói riêng,
chúng tôi còn có mong muốn: Trước hết giáo viên Giáo dục công dân trong
cùng khối phải ra những bài tập nhằm vận dụng kiến thức vào thực tế, tập hợp
thành những cuốn tư liệu gọi là Tình huống Giáo dục công dân ở các khối lớp
để lưu giữ trong tủ sách nhà trường. Nhà trường cũng cung cấp thêm những tài
liệu về đổi mới phương pháp dạy học Giáo dục công dân cho học sinh THCS để
làm giàu cho tủ sách. Học sinh cũng tự giác sưu tầm những tư liệu, hình ảnh,
những câu chuyện về những tấm gương tiêu biểu có giá trị, phô tô 2 bản, giữ 1
bản để học, 1 bản nộp tủ sách nhà trường. Sau đó nhà trường thường xuyên tổ
chức phong trào “thi đua đọc tư liệu từ tủ sách nhà trường”. Hoạt động này sẽ
cho điểm xếp loại cho cá nhân và lớp.
- Đề nghị các tổ chuyên môn trong nhà trường tích cực tổ chức các
chuyên đề, cần lưu ý đến vấn đề đổi mới phương pháp dạy học trong đó đặc biệt
chú trọng đến việc tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm trong giờ học sao cho
có hiệu quả
- Đề nghị Ban giám hiệu các trường THCS cần mua thêm sách, các trang
thiết bị dạy học hiện đại để việc dạy học trên lớp đạt hiệu quả cao lại tiết kiệm
được thời gian khi học sinh báo cáo kết quả thảo luận. Ban giám hiệu cũng cần
kiểm tra thường xuyên việc giảng dạy trên lớp của giáo viên để các phương
pháp mới được áp dụng thường xuyên và có hiệu quả cao nhất.
18


IV. HIỆU QUẢ KINH TẾ- XÃ HỘI DỰ KIẾN ĐẠT ĐƯỢC.

1. Hiệu quả kinh tế.

19


mê nhiệt tình với công tác giảng dạy mà còn phải tìm tòi hướng đi hiệu quả
nhất.
Trên đây là một vài kinh nghiệm của tôi khi giảng dạy Giáo dục công dân
lớp 6 trong trường THCS nhằm giúp tổ chức hoạt động nhóm được tiến hành
một cách hiệu quả, đem lại hứng thú học tập cho học sinh. Sáng kiến kinh
nghiệm của tôi chắc chắn còn nhiều thiếu sót, rất mong được sự quan tâm, đóng
góp ý kiến của các cấp, các ngành và các bạn đồng nghiệp để vấn đề tôi trình
bày được đầy đủ hơn và ngày càng được áp dụng thường xuyên hơn khi giảng
dạy.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Kim Sơn, ngày 15 tháng 4 năm 2015
Người viết

Lê Thị Kim Cúc

20


PHẦN PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1
Minh chứng sử dụng phương pháp thảo luận nhóm trong giáo án cụ thể.
Tiết 11.
BÀI 9: LỊCH SỰ, TẾ NHỊ.
A. Mục tiêu bài học:
1. Về kiến thức



thầy Hùng vào lớp, thái độ của lớp 6A như thế
nào?
- Cả lớp đứng nghiêm chào thầy.
GV. Trước sự lễ phép của học sinh, thầy
Hùng mời cả lớp ngồi xuống rồi chúc mừng
các bạn nhân ngày 8-3.
? Không khí trong lớp lúc này ra sao.
- Cả lớp chú ý lắng nghe thầy chúc mừng.

+ Cả lớp đang chú ý nghe thầy chúc
mừng.

22


Hoạt động của GV & HS
? Đột nhiên xảy ra sự việc gì
+ Đột nhiên các bạn vào muộn chạy ào vào:
- Bạn thì không chào thầy,

Nội dung
+ Các bạn vào muộn chạy ào vào:
- Bạn không chào thầy,
- Bạn chào thật to.

- Bạn lại chào rất to.
? Hành vi của các bạn ấy thể hiện điều gì.
- Các bạn đi học muộn là vi phạm nội qui của
trường, của lớp.

khác nhau.
? Em đồng ý với cách cư xử của bạn nào
trong tình huống trên? Vì sao?

23


Hoạt động của GV & HS
- Đồng ý với cách cư xử của bạn Tuyết.

Nội dung
-> Rất tôn trọng thầy, lễ phép,

Vì bạn ấy rất tôn trọng thầy, lễ phép, khiêm

khiêm tốn, khéo léo

tốn, biết khéo léo nhận lỗi
? Qua tình huống trên em thấy bạn Tuyết là
người như thế nào.
→ Bạn là người lịch sự, tế nhị.

-> Lịch sự, tế nhị.

? Em dự đoán xem thầy Hùng sẽ xử sự như
thế nào sau khi các bạn vào lớp.
HS: Thảo luận nhóm theo bàn để chọn ý kiến
trả lời.
Dự kiến trả lời:
- Thầy sẽ: khen bạn Tuyết về cách xử sự khéo

- Lịch sự: là những cử chỉ, hành vi dùng trong xử phù hợp với yêu cầu xã hội, thể
giao tiếp ứng xử phù hợp với yêu cầu xã hội, hiện truyền thống đạo đức
thê hiện truyền thống đạo đức của dân tộc.
GV. Các qui định, các yêu cầu của xã hội, đôi
khi không được thể hiện bằng văn bản nhưng
nó vẫn được thực hiện để đảm bảo cho mối
quan hệ giữa con người trở nên tốt đẹp hơn.
- Còn truyền thống đạo đức của dân tộc là
những tư tưởng, đức tính, cách ứng xử tốt
đẹp… hình thành trong qúa trình lịch sử lâu
dài của dân tộc được truyền từ thế hệ này
sang thế hệ khác. VD:
+ Yêu nước, yêu hòa bình.
+ Hiếu thảo, kính thày, mến bạn, kính trên
nhường dưới....
Phần này các em sẽ được học trong chương
trình GDCD lớp 9
Trên đây là khái niệm lịch sự.

b. Tế nhị:

? Vậy, tế nhị trong giao tiếp, ứng xử là gì.

Là khéo léo sử dụng cử chỉ, ngôn

- Tế nhị là sự khéo léo sử dụng những cử chỉ, ngữ
ngôn ngữ trong giao tiếp, ứng xử.
Vậy trong cuộc sống, trong ứng xử hàng ngày
ta đã thật sự khéo léo hay chưa, mời các em
thực hiện bài tập b- sgk


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status