SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG THPT CHUYÊN LÀO CAI
TÊN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Một số kinh nghiệm dạy tiết Trả bài trong phân
môn Làm văn- chương trình Ngữ văn bậc THPT
Họ và tên tác giả: Nguyễn Thị Hạnh
Chức vụ:
Giáo viên
Tổ chuyên môn: Ngữ văn
Đơn vị công tác: Trường THPT Chuyên Lào Cai
Lào Cai, ngày 10 tháng 04 năm 2014
1
MỤC LỤC
A. ĐẶT VẤN ĐỀ……………………………………………………….
I.Lí do chọn đề tài....................................................................................
II.Phạm vi đề tài .....................................................................................
III. Cấu trúc đề tài…………………………………………………......
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ………………………………………..........
I. Cơ sở lý luận của vấn đề………………………………......................
II. Thực trạng của vấn đề..............………………………....................
5
5
6
23
24
2
ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Lí luận dạy học hiện nay coi học sinh là trung tâm của hoạt động dạy học.
Luật giáo dục của nước CHXHCN Việt Nam trong điều 4 (yêu cầu về nội dung
phương pháp giáo dục) cũng chỉ rõ: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích
cực tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo ở người học, bồi dưỡng năng lực tự học,
lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” (Luật Giáo dục - trang 9 - 1998). Trong dạy
học nói chung và dạy Văn nói riêng, làm thế nào để kích thích được khả năng chủ
động, sáng tạo của học sinh là một vấn đề then chốt, góp phần quyết định chất
lượng của hoạt động dạy và học.
Làm văn là một phân môn trong chương trình Ngữ văn ở bậc THPT. Đây là
môn học có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục, bồi dưỡng cũng như phát triến
năng lực và nhân cách học sinh trong nhà trường. Tiết Trả bài là tiết học có ý
nghĩa thực hành cao, trong đó làm thế nào để khơi dậy hứng thú cho học sinh và
mang lại hiệu quả tốt là vấn đề không đơn giản.
Phân môn Làm văn nói chung và tiết Trả bài nói riêng thường được coi là tiết
khô khan, khó dạy với giáo viên và tiết nặng nề với học sinh. Trong thực tế, có
người coi đây là tiết đệm, nên rút ngắn thời gian để đầu tư cho các tiết học hấp dẫn
hơn như Đọc văn, Tiếng Việt.
Trong thực tế hiện nay, việc đổi mới phương pháp dạy Văn trong nhà trường
đã chứng tỏ được hiệu quả của nó. Tuy nhiên, các phân môn khác như Đọc văn,
Tiếng Việt được đầu tư, chú ý nhiều hơn. Trong khi đó, đổi mới việc dạy môn Làm
văn, nhất là những tiết Trả bài chưa được quan tâm nhiều lắm.
II. Thực trạng khó khăn khi dạy tiết Trả bài
III. Các biện pháp đã tiến hành khi dạy tiết Trả bài
IV. Hiệu quả của SKKN
C. Kết luận
5
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Cơ sở lý luận:
Tiết Trả bài về bản chất là tiết học mang nhiều ý nghĩa. Trong cuốn Phương
pháp dạy học văn, giáo sư Phan Trọng Luận cho rằng: “Giờ trả bài là một giờ
học sinh động và có tác dụng nhiều mặt. Đây là giờ học được xây dựng thực sự từ
lao động trực tiếp của học sinh, từ vốn liếng nhiều mặt của học sinh. Và cũng qua
giờ học này, học sinh dễ nhận ra những mặt mạnh và yếu, nhất là những mặt yếu
của mình”.
Trước hết, đó là tiết học sinh được thực hành. Các em không còn bơi trong
thế giới văn chương nữa mà đã thể hiện sự tiếp nhận kiến thức qua một bài làm cụ
thể. Có nghĩa là tiết học mang tính thực hành cao, kiến thức được tiếp nhận, sàng
lọc rồi thể hiện. Đây cũng là tiết học mang tính tổng hợp cao. Cả lí thuyết và kĩ
năng viết bài sẽ cùng thể hiện trong bài làm. Kiến thức học được trong sánh vở và
hiểu biết về nhiều lĩnh vực của cuộc sống cũng có cơ hội để các em bộc lộ. Hơn
nữa, khả năng sáng tạo của học sinh cũng có cơ hội để bộc lộ.
Trả bài cũng là tiết học để giáo viên có cơ sở đánh giá trình độ của học sinh
và hiệu quả giảng dạy của chính mình. Giờ Trả bài tuy một năm học chỉ có khoảng
8 tiết nhưng nó là sự tổng hợp kết quả của các phân môn khác như Đọc văn, Tiếng
Việt. Trước hết, nó thể hiện sự tiếp nhận kiến thức của học sinh. Qua bài viết, giáo
viên có thể đánh giá được học sinh lĩnh hội bài giảng ở mức độ nào. Hơn thế nữa,
nó thể hiện cụ thể năng lực tạo lập văn bản của các em. Cách diễn đạt, cách trình
bày, cách lập ý sẽ được các em bộc lộ cụ thể trong bài viết của mình. Đó là cơ sở
thời cũng là một thách thức với giáo viên. Bởi việc xây dựng một đáp án tối ưu
giữa nhiều đáp án không phải là điều đơn giản. Nhiều khi, đề đã có mà đáp án chưa
hoàn thiện. Cũng có khi giáo viên vừa chấm vừa bổ sung đáp án.
7
Với tiết Trả bài, có nhiều học sinh không hứng thú. Nhiều học sinh quan niệm
giờ Trả bài như một giờ xét xử. Giáo viên là quan toà nghiêm minh mà học sinh trở
thành người “có tội”. Có em bị thày cô chỉ trích nặng nề, thậm chí trở thành trò
cười cho những bạn cùng lớp. Điểm số của bài làm văn thường không cao như bài
kiểm tra các môn khoa học tự nhiên- có thể đây là một vấn đề thuộc về thói quen,
về tâm lí mà giáo viên cần xem lại.Vì vậy, tâm lí các em sợ giờ trả bài không phải
là hiếm.
III. Một số kinh nghiệm dạy tiết Trả bài
1.Ra đề
Ra đề là khâu đầu tiên nhưng có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với tiết Trả
bài. Bởi nếu giáo viên cẩu thả, dễ dãi trong việc soạn đề thì khó có thể có một tiết
Trả bài tốt.
Đề trước tiên phải Đúng. Đúng nghĩa là sát với chương trình các em đã
học. không thể học một đằng, ra đề một nẻo theo kiểu đánh đố. Nhưng đúng còn là
sự chuẩn xác trong câu chữ của đề bài. Không nên ra những vấn đề không xuất xứ,
không giới hạn. Đã có những câu chuyện hài hước về kiểu ra đề tắc trách này.
Trước đây, khi còn học tác phẩm Hòn Đất của Anh Đức, có giáo viên đã ra đề vỏn
vẹn như sau: Phân tích nhân vật chị Sứ. Có người cảm thương thay cho thí sinh đã
viết :
Chị Sứ là chị Sứ nào
Cớ sao thầy lại vận vào văn chương
Em đi tìm khắp bốn phương
Hay là chị Sứ ở phường Lò Chum ?
- Đề 1 : Nhà phê bình văn học Hoài Thanh cho rằng «Xuân Diệu mới nhất trong
các nhà thơ mới »
Qua bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu, anh/ chị hãy bày tỏ ý kiến của mình.
2. Chuẩn bị đáp án
9
Chuẩn bị đáp án phải được hình thành từ khi mới chuẩn bị ra đề. Không nên đưa
những vấn đề mà bản thân người dạy cũng chưa tìm ra cách giải quyết. Tuy nhiên,
bên cạnh đáp án đã chuẩn bị, có thể bổ sung thêm sau khi chấm bài của học sinh.
Trong đáp án nên để những phần mở để các em có cơ hội sáng tạo.
Chúng tôi xin giới thiệu đề và đáp án bài kiểm tra văn phần nghị luận xã hội lớp
11
1. Đề bài
Đây là một câu chuyện được một cảnh sát người Nhật gốc Việt ghi lại sau trận
động đất ở Nhật ngày 11/3/2011:
“Tối hôm qua tôi được phái tới một trường tiểu học phụ giúp hội tự trị ở đó
phân phát thực phẩm cho những người bị nạn. Trong cái hàng rồng rắn những
người xếp hàng tôi chú ý đến một em nhỏ chừng 9 tuổi, trên người chỉ có chiếc áo
thun và quần đùi. Trời rất lạnh mà em lại xếp hàng cuối cùng, tôi sợ đến lượt của
em thì chắc chẳng còn thức ăn nên mới lại hỏi thăm.
Em kể khi đang học ở trường trong giờ thể dục thì động đất và sóng thần đến, cha
của em làm việc gần đó đã chạy đến trường, từ ban công lầu 3 của trường em nhìn
thấy chiếc xe và cha bị nước cuốn trôi, nhiều khả năng đã chết.
Hỏi mẹ đâu, em nói nhà em nằm ngay bờ biển, mẹ và em em chắc cũng không
chạy kịp. Thằng nhỏ quay người lau vội dòng nước mắt khi nghe hỏi đến thân
nhân.
Nhìn thấy em nhỏ lạnh, tôi mới cởi cái áo khoác cảnh sát trùm lên người em nhỏ.
Vô tình bao lương khô khẩu phần ăn tối của tôi bị rơi ra ngoài, tôi nhặt lên đưa
cho em và nói: "Đợi tới phiên của con chắc hết thức ăn, khẩu phần của chú đó, chú
ít giaó viên là quá. Chúng ta chỉ phê những ý hỏng, câu sai, tù không đúng, lỗi
chính tả và phê “ Bài sơ sài, ý nhạt nhẽo” hoặc “Tạm được”, “Khá”. Những ý
kiến nhận xét ấy không có tác dụng cổ xuý và vạch hướng khắc phục cho trẻ. Nó
chỉ làm cho trẻ chấp nhận và buồn phiền mà không tự gỡ được những “cái tóc
vướng vào đôi chân gà bé bỏng của mình”. Lời phê cần chỉ rõ ưu và nhược điểm
của bài viết, nhưng quan trọng hơn là cần có một thái độ trân trọng, nâng niu công
12
sức của học sinh. Nếu là nhược điểm, sau khi chỉ ra, nên phê “ Nếu em khắc phục
được nhược điểm này, kết quả bài viết sẽ khá hơn”. Nếu học sinh có tiến bộ so với
bài viết trước, hãy khuyến khích các em bằng lời phê như “ Có nhiều cố gắng.
Mong em tiếp tục phát huy !” Nhìn chung lời phê cần thể hiện cả trí tuệ lẫn tình
cảm của giáo viên.
4.Trả bài
Tiết Trả bài có rất nhiều bước. Chúng tôi xin mạnh dạn giới thiệu những bước đã
làm trong một tiết Trả bài kiểm tra 90 phút.
4.1. Tìm hiểu đề :
Công việc đầu tiên của giờ Trả bài là cho học sinh tiếp xúc lại với đề bài.
Cần yêu cầu các em đọc kĩ lại đề, gạch chân những từ ngữ quan trọng, phân tích
yêu cầu đề và lập dàn ý.
4.2. Công bố đáp án:
Tất nhiên, giáo viên phải chuẩn bị trước đáp án cho thật kĩ lưỡng và chuẩn xác.
Các ý phải được trình bày một cách mạch lạc, lôgíc. Cũng cần lưu ý tới những ý
kiến mới của học sinh nếu hợp lí. Giáo viên có thể bổ sung ngay vào đáp án. Đừng
quá cứng nhắc, chỉ chấp nhận một đáp án duy nhất mà mình đã chuẩn bị. Bởi thực
ra, dạy cũng là học lần hai. Trong học sinh, sẽ có những em xuất sắc, nổi trội, có
thể có những kiến giải độc đáo.
4.3.Nhận xét chung :
Trước khi trả bài cho từng học sinh, nên có một nhận xét tổng thể về tình hình
viên.
IV. Thực nghiệm
14
1. Những vấn đề chung
1.1. Mục đích của việc thực nghiệm
- Xác định tính khả thi của những kinh nghiệm dạy tiết Trả bài trong phân
môn Làm văn ở bậc THPT
- Bước đầu đánh giá được hiệu quả của việc tiến hành các thao tác trong tiết
Trả bài
- Tự rút kinh nghiệm cho bản thân và tiếp tục rèn luyện kĩ năng dạy tiết Trả
bài để đạt hiệu quả cao hơn.
1.2. Thời gian và đối tượng thực nghiệm
- Thời gian : năm học 2013-2014
- Đối tượng : học sinh lớp 11
2. Thiết kế bài soạn thực nghiệm
Tiết 97 - Lớp 11
TRẢ BÀI SỐ 5
A. Mục tiêu, nhiệm vụ bài học:
1. Nhận thức
- Kiểm tra kiến thức và kĩ năng của HS về phân tích một vấn đề văn học, cụ thể là
về quan điểm sáng tác của Vũ Trọng Phụng qua đoạn trích Hạnh phúc của một tang
gia.
- Đánh giá, sửa lỗi cho HS
2. Kĩ năng
- Rèn kĩ năng viết bài.
3. Giáo dục:
- Có thái độ đúng với những biểu hiện phi đạo đức trong xã hội
Thao tác 2: Trình bày đáp
án
Theo em, đề yêu cầu phải
vận dụng những thao tác
nào?
Em hiểu thế nào về khái
niệm tiểu thuyết mà Vũ
Trọng Phụng dùng trong
đoạn văn?
trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia
( trích tiểu thuyết “Số đỏ” ).
2. Đáp án
I.Yêu cầu về kĩ năng
- Giải thích được ý kiến của Vũ Trọng Phụng.
- Biết vận dụng vào việc phân tích đoạn trích
Hạnh phúc của một tang gia
- Bố cục bài viết rõ ràng, mạch lạc, dẫn chứng
chính xác, tiêu biểu.
II. Yêu cầu về kiến thức
1. Giải thích :( 3 điểm)
- Tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết : văn chương là thế
giới của tưởng tượng, của những mơ ước chủ
quan ở người nghệ sĩ. Thế giới ấy thường thi vị,
đẹp đẽ nhưng nhiều khi xa rời, thậm chí hoàn
toàn đối lập với thực tế cuộc sống.
- Tiểu thuyết là sự thực ở đời : văn chương phải
phản ánh trung thực bản chất đời sống, không
được lừa dối độc giả.
thuật nào?
một nghệ thuật trào phúng đặc sắc (4điểm)
+ Tình huống trào phúng : cái chết của cụ cố Tổ
văn phản ánh qua đoạn trích
đã làm cho nhiều người sung sướng, nhất là đám
con cháu bất hiếu trong nhà.
+ Chân dung trào phúng : cố Hồng, Văn Minh, tú
Tân, Tuyết, Phán mọc sừng, Min Đơ, Min Toa,
các quan khách đến dự đám tang... mỗi người
một vẻ nhưng đều sung sướng hả hê vì thoả mãn
nguyện vọng của mình, đều là những kẻ mất
nhân tính. Ngay đám tang cụ cố Tổ cũng là một
Chỉ ra và phân tích hành vi
hình tượng trào phúng vì nó lố bịch, kệch cỡm và
trào phúng đặc sắc nhất trong giả dối.(Cần phân tích cụ thể từng hình tượng
đoạn trích ?
Qua những yếu tố trào
phúng ấy, nhà văn muốn nói
với chúng ta điều gì?
nhân vật ).
+ Hành vi trào phúng : hành vi đặc sắc nhất
chương truyện này là hành vi Phán mọc sừng
thanh toán tiền công( 5 đồng) cho Xuân Tóc Đỏ
văn viết sáng rõ, có hình ảnh, có cảm xúc, dẫn
chứng tiêu biểu, xác đáng. Khuyến khích những
bài làm sáng tạo.
*Điểm 7-8: Đáp ứng phần lớn những yêu cầu của
Thao tác 4: Chữa lỗi
Hưóng dẫn HS phát hiện chỗ
sai và chữa
đề, phân tích chưa thật sâu, còn mắc lỗi diễn đạt.
*Điểm 5-6: Bài viết có ý nhưng sơ lược, chưa
làm nổi bật vấn đề, còn mắc lỗi diễn đạt.
*Điểm 3-4: Chưa hiểu đề, viết lan man, diễn đạt
yếu.
* Điểm 1-2: Lạc đề.
*Điểm 0: Bỏ giấy trắng.
3.Nhận xét chung về bài làm của HS
-Ưu điểm :
+ Nắm được kiến thức cơ bản về tác phẩm, về
nhân vật
+ Hiểu đề, dàn ý tương đối rõ
18
+ Một số bài viết phân tích kĩ lưỡng, chi tiết
-Nhược điểm
+ Chưa giải thích thấu đáo nhận định
+ Dàn ý chưa phù hợp
+ Bố cục không cân đối
+ Lỗi chính tả, lỗi diễn đạt còn nhiều
« Hứt !..Hứt !...Hứt !... »
- Lỗi : dùng từ xây dựng không chuẩn.
- Chữa lại : Cuối đoạn trích, Vũ Trọng Phụng đã
miêu tả nhân vật Phán Mọc sừng với tiếng khóc
có một không hai :« Hứt !...Hứt !...Hứt !... »
4.3. Lỗi về lập ý :
- Có HS bỏ qua phần giải thích
- Một số HS không phân tích đầy đủ những yếu
19
tố nghệ thuật trào phúng của đoạn trích, cá biệt
còn có HS bỏ qua ý hành vi trào phúng có ý
nghĩa quan trọng nhất trong đoạn trích (hành vi
thanh toán tiền công của Phán mọc sừng)
- Một số bài sắp xếp ý và dẫn chứng lộn xộn
5. Đọc bài tốt
6. Học sinh về nhà chữa lỗi
Củng cố : Yêu cầu HS về xem lại bài đã chấm
Kết quả thực nghiệm
Trong giờ Trả bài, học sinh chăm chú nghe giảng. Nhiều học sinh hăng hái
phát biểu.
Điều quan trọng là chúng tôi thấy giờ Trả bài đã bớt đi không khí căng
thẳng. Giao tiếp giữa thầy và trò thân thiện hơn. đặc biệt là nhiều học sinh nhận ra
điểm yếu cua mình và tích cực sửa chữa.
Sau giờ học, giáo viên phát phiếu điều tra để đánh giá kết quả học tập
Kết quả:
Hiểu bài
Có hứng
thú
Không có
hứng thú
18%
0%
IV. HIỆU QUẢ SKKN
Việc áp dụng sáng kiến kinh nghiệm vào trong các tiết trả bài đã đem lại những
hiệu quả tích cực. Những hiệu quả tích cực được thể hiện trong bảng so sánh kết
quả học tập cũng như kết quả bộ môn Văn trong các kỳ thi.
Năm học
2012-2013
2013-2014
Kết quả học tập
môn Ngu văn
Giỏi ( >=8.0)
10/34 (29.4 %)
15/34 (44.1%)
Khá (6.5 – 7.9)
giác ngại và sợ giờ học này nữa. Ở những bài viết sau, các em có tiến bộ rõ rệt.
Chúng tôi cho rằng đề tài này có tính khả thi cao, có thể áp dụng cho cả giờ Trả
bài ở phân môn Tập làm văn bậc THCS.
Để có thể mang lại một kết quả tốt đẹp như mong muốn, chúng tôi xin có
một vài khuyến nghị sau:
1. Với giáo viên, cần thấy rõ tầm quan trọng và hiệu quả thiết thực của giờ
Trả bài để có sự đầu tư thời gian và công sức xứng đáng để có những giờ Trả bài có
chất lượng cao. Hãy coi việc chấm bài và Trả bài như một cuộc giao tiếp với học
sinh, cần trân trọng những cố gắng của các em.
2. Với học sinh, cần giúp các em hiểu rằng, việc nhận ra điểm mạnh, điểm
yếu của mình qua mỗi bài văn là cần thiết. Các em sẽ trưởng thành hơn sau mỗi bài
văn và cũng là bài học của cuộc sống.
3. Với Tổ chuyên môn và nhà trường: nên có những giờ Trả bài mẫu mực để
giáo viên thảo luận, học tập. Cần ghi nhận và khuyến khích công việc lao động vất
vả và thầm lặng này của giáo viên. Chúng tôi cũng mong muốn sách giáo khoa
soạn được nhiều dạng đề hay hơn nữa để gây hứng thú cho học sinh.
Nghiên cứu đề tài Một số kinh nghiệm dạy tiết Trả bài trong phân môn
Làm văn- chương trình Ngữ văn bậc THPT, chúng tôi mong muốn tìm thêm một
biện pháp để nâng cao hiệu quả giảng dạy môn Văn trong nhà trường phổ
thông.Tuy nhiên, đây là một vấn đề còn mới mẻ, khả năng cá nhân của người thực
hiện còn hạn chế, chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót. Chúng tôi mong đề tài này
sẽ có dịp được triển khai kĩ lưỡng và hiệu quả hơn nữa.
22
TƯ LIỆU THAM KHẢO
1. M.Arnauđôp- Tâm lí học sáng tạo văn học, NXB Văn học, Hà nội, 1978
2. Phạm Văn Đồng- Dạy Văn là một quá trình rèn luyện toàn diện, Tạp chí Nghiên
cứu Giáo dục số 2, 1973
3. Đỗ Kim Hồi- Về điểm số Tập làm văn- Tạp chí nghiên cứu giáo dục, số 2/ 1985