MỤC LỤC
Đặt vấn đề
Nội dung
1. Cơ sở lí luận
2. Thực trạng công tác quản lý chỉ tiêu chất lượng của giáo viên
3. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Kết luận. Tài liệu tham khảo
1
2
3
4-5
6-12
13
14
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nâng cao chất lượng học sinh không chỉ là mục tiêu, là yêu cầu mà mọi
cán bộ quản lý giáo dục cần thực hiện mà còn là mong muốn của học sinh, của
phụ huynh học sinh và của toàn xã hội. Bài toán nâng cao chất lượng học lực
của học sinh vẫn luôn là bài toán mở để chờ các kết quả tối ưu hơn. Qua thực tế
làm công tác quản lý chất lượng học sinh trường THPT số 2 Mường Khương,
bản thân tôi luôn học hỏi, trau dồi, kết hợp các biện pháp để nâng cao chất lượng
giáo dục của học sinh đặc biệt về học lực. Kết quả, học lực của học sinh tăng
qua các năm (Kết qủa về tỷ lệ học sinh đạt từ trung bình trở lên các năm học
2010-2011, 2011-2012, 2012-2013 lần lượt là: 70.57%, 72.82%, 73.32%). Nhận
thấy chất lượng có tăng theo năm học nhưng còn chậm, chưa đáp ứng được yêu
3
2. Thực trạng công tác quản lý chỉ tiêu chất lượng của giáo viên
(năm học 2012-2013 chưa áp dụng sáng kiến)
2.1. Công tác xây dựng chỉ tiêu kế hoạch
Đầu năm học nhà trường tổ chức khảo sát đầu năm các môn học (khảo sát
kiến thức cơ bản đã học cần có để chuẩn bị cho năm học mới). Căn cứ vào kết
quả khảo sát, giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm, tổ trưởng chuyên môn xây
dựng chỉ tiêu. Cán bộ quản lý chuyên môn phân tích, tổ chức họp và thống nhất
chỉ tiêu kế hoạch
Phân tích: Kết quả khảo sát rất thấp do học sinh của trường ít tự học, tự ôn
trong hè, phần lớn thời gian giúp gia đình lao động sản suất. Học sinh được
kiểm tra khảo sát sau kỳ nghỉ hè, mặc dù được hướng dẫn ôn tập theo đề cương
trước khi khảo sát nhưng phần lớn học sinh quên kiến thức và không có tài liệu
ôn tập (sách giáo khoa mượn của trường, kết thúc năm học trả lại). Do đó kết
quả khảo sát chưa phản ánh đúng năng lực của học sinh. Giáo viên căn cứ kết
quả khảo sát để xây dựng chỉ tiêu, mặc dù chỉ tiêu cao hơn kết quả khảo sát
nhưng đạt được khá dễ dàng, đôi khi chỉ tiêu còn thấp hơn kết quả học sinh đạt
được của năm học trước
Bài học kinh nghiệm:
- Không chỉ căn cứ vào kết quả khảo sát đầu năm để xây dựng chỉ tiêu chất
lượng. Cần kết hợp thêm những thông tin khác để xây dựng chỉ tiêu sát thực và
đúng nghĩa phải phấn đấu để đạt được và có thể đạt được. Cần có hệ thống bảng
biểu để nhìn vào đó dễ thấy và thấy rõ chỉ tiêu có phù hợp không
- Cần có căn cứ xác đáng để giáo viên nhận thấy bản thân cần thay đổi chỉ
tiêu đăng ký (khi đăng ký thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu)
2.2. Công tác quản lý thực hiện chỉ tiêu
Giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm đề ra các biện pháp thực hiện để đạt
cao chất lượng thực của học sinh
3.1.1. Tuyên truyền cho giáo viên
- Đầu năm học, cán bộ phụ trách chuyên môn tuyên truyền các nội dung
sau: Chất lượng của nhà trường tăng theo các năm học, thống kê 3 năm trở lại
đây cho thấy, hàng năm tỷ lệ học sinh có học lực từ trung bình trở lên tăng dần
từ 0.5% đến 2.5%, tỷ lệ tăng là do sự cố gắng, nỗ lực của giáo viên. Tuy nhiên
cứ tăng theo đà như vậy thì không đáp ứng được yêu cầu. Bởi vậy cần có sự
quyết tâm thực hiện của tất cả giáo viên để nâng cao chất lượng thực của học
sinh
- Trong các buổi họp Hội đồng giáo dục định kỳ, dành thời gian cho giáo
viên trao đổi, so sánh kết quả đang thực hiện với chỉ tiêu, nêu những khó khăn,
vướng mắc để giải quyết kịp thời. Đồng thời, tiếp tục tuyên truyền “dạy thật,
học thật, thi thật, chất lượng thực chất”. Chỉ có nâng chất lượng một cách thực
chất như từ trước tới nay mới giữ vững và tiếp tục xây dựng uy tín của nhà
trường. Dù khó khăn đến đâu vẫn kiên trì, kiên định thực hiện.
Kết quả: Giáo viên bám sát lớp, bám sát học sinh, quyết tâm đạt chỉ tiêu cá
nhân đã đăng ký, tạo khí thế quyết tâm, đồng lòng của toàn trường thực hiện
nhiệm vụ nâng cao chất lượng học lực của học sinh.
3.1.2. Tuyền truyền cho học sinh
- Đầu năm học, trong tiết chào cờ, lãnh đạo trường thông báo đến toàn thể
cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh kết quả đạt được của năm học trước và
chỉ tiêu năm học mới. Cần sự nỗ lực, cố gắng của các thầy cô giáo và các em
học sinh mới đạt được chỉ tiêu nhiệm vụ năm học. Làm cho học sinh thấy rõ
được nhiệm vụ của các em gắn với nhiệm vụ của giáo viên, học sinh thấy rõ
được vai trò, trách nhiệm của mình đối với nhà trường.
- Cuối Học kỳ I, trong buổi sơ kết, lãnh đạo nêu những kết quả đạt được,
phân tích và đề ra giải pháp, nhiệm vụ của Học kỳ II. Lưu ý không truyết trình
đơn thuần mà vấn đáp, trao đổi với học sinh và để các em lắng nghe và tham gia
ý kiến. Cụ thể nhấn mạnh như sau:
6
không? Có dễ dàng so sánh giữa các lớp, các môn, các khối. Cho nên Phụ lục 1
thiết kế:
7
- Các cột: Chất lượng khảo sát đầu năm, chất lượng năm học trước 2012 –
2013 và cột chỉ tiêu năm học 2013 -2014. Giáo viên không thể đăng ký thấp hơn
chất lượng năm học trước với cùng bộ môn và chính giáo viên đó dạy.
- Các môn, các lớp ghi luôn tên giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm
- Trong một trang có đủ các môn của cùng một tổ chuyên môn để tiện khi
tổng hợp và phân tích kết quả
3.2.2. Mẫu 2 – Phụ lục 2 – Biểu thống kê kết quả cuối Học kỳ I
Thiết kế tương tự Phụ lục 1 chỉ thay Cột Chất lượng khảo sát, kết quả năm
học trước bằng cột kết quả cuối Học kỳ I và cột so sánh tăng, giảm so chỉ tiêu,
cột chỉ tiêu giữ nguyên
3.2.3. Mẫu 3 – Phụ lục 3 – Biểu thống kê kết qủa cuối năm
Thiết kê tương tự biểu thống kê kết quả cuối Học kỳ I
3.3. Quản lý việc xây dựng chỉ tiêu của giáo viên
Quy trình thực hiện như sau:
3.3.1. Giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm tự xây dựng chỉ tiêu theo
văn bản hướng dẫn của nhà trường
Cán bộ quản lý chuyên môn ra văn bản hướng dẫn giáo viên bộ môn, giáo
viên chủ nhiệm xây dựng chỉ tiêu theo biểu mẫu Phụ lục 1
3.3.2. Cán bộ quản lý chuyên môn thu nhận kết quả, tổng hợp, gửi cho
toàn bộ cán bộ, giáo viên của trường tự nghiên cứu, phân tích, so sánh
Cán bộ quản lý chuyên môn thu nhận kết quả từ tổ trưởng chuyên môn, tổng
hợp, phân tích, đánh giá (xem chỉ tiêu của giáo viên phù hợp với năng lực học
sinh chưa? Chỉ tiêu đăng ký đã đáp ứng yêu cầu chất lượng cần đạt chưa?)
nhưng chưa công bố mà gửi cho giáo viên tự quan sát, so sánh, tự điều chỉnh
trong buổi họp thống nhất chỉ tiêu
Phân tích:
Việc dự đoán chỉ tiêu của lớp chủ nhiệm dựa vào chỉ tiêu bộ môn chỉ là
tương đối. Nhưng có điều chắc chắn, chỉ tiêu tất cả các môn học tăng sẽ dẫn đến
chỉ tiêu lớp chủ nhiệm tăng. Thế thì có ý kiến cho rằng cần gì đặt chỉ tiêu lớp
chủ nhiệm. Tác giả cho rằng, giáo viên chủ nhiệm có vai trò quan trọng trong
việc tạo động cơ, quyết tâm học tập cho học sinh của lớp mình, đồng thời giáo
viên bộ môn và giáo viên chủ nhiệm có mối liên hệ chặt chẽ, tác động qua lại
ảnh hưởng đến việc học của học sinh dẫn đến ảnh hưởng việc đạt chỉ tiêu của cả
hai bên;
9
Do các giáo viên chủ nhiệm chỉ quan tâm đến chỉ tiêu của lớp mình chứ
không cố tình đăng ký dẫn đến chỉ tiêu của trường giảm so với kết quả đạt được
năm học trước, nên sau khi quan sát, nghe phân tích biểu tổng hợp, giáo viên đã
tự điều chỉnh chỉ tiêu và tìm các biện pháp để đạt chỉ tiêu đưa ra.
Kết qủa cụ thể, các môn, các lớp đã thay đổi chỉ tiêu như sau:
Môn/Lớp
Tỷ lệ % từ trung bình trở lên Tỷ lệ % từ trung bình trở
Ngữ văn 10A1
Ngữ văn 10A1
Lịch sử 10A1234
GDQP 10A1
Ngữ văn 11A234
GDQP 11A1234
Tiếng Anh 12A12
QDQP 12A3
Lớp chủ nhiệm
tập của học sinh để có tác động phù hợp
- Giáo viên đã đăng ký dạy Phụ đạo học sinh yếu, kém, lãnh đạo duyệt, Thư
ký trường sắp lịch
3.4.2. Phân tích chất lượng cuối học kỳ I, giao nhiệm vụ học kỳ II
Từ Phụ lục 2 (a, b, c, d) cho thấy:
- Đa số các môn có chất lượng vượt chỉ tiêu đăng ký từ 2 đến 30% nên kết
quả cuối kỳ có tỷ lệ từ trung bình trở lên tăng 11% so với cùng kỳ năm học
trước
- Một số môn, lớp chưa đạt chỉ tiêu hoặc thấp hơn nhiều so với chỉ tiêu như:
Môn/lớp
Số % giảm so với
Vật lý 10A4;
chỉ tiêu lần lượt là
17.6; 2; 3.7
11A24
Sinh học 10A124; 10.2; 43.8; 17.6;
10
Môn/lớp
Số % giảm so với
Ngoại ngữ 10A2,
chỉ tiêu lần lượt là
14.5; 20.6; 25.1;
17.8; 20.6; 13.2;
Tin học 11A23
Toán 12A34
Sinh 12A234
28.9; 22.5
42; 9.4
14; 22.5
5.2; 32.2; 32.3
Hóa 12A34
Địa 12A34
Lớp chủ nhiệm
26; 6.4
22; 26
22.1; 5.9; 1.5; 3.1;
10A2; 11A1234;
3.7; 5.9; 16.6;
12A134
25.8
Như vậy nếu các môn thống kê trên đạt hoặc gần đạt chỉ tiêu thì chất lượng
lớp chủ nhiệm sẽ tăng mạnh cuối năm
Cán bộ chuyên môn nhận xét trong cuộc họp:
- Giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn thông báo đến học sinh những yếu
kém, hạn chế về việc thực hiện chỉ tiêu của môn học và của lớp chủ nhiệm, làm
tra đồng loạt. Các giáo viên bộ môn ra đề gấp ba lần số đề sử dụng, cán bộ
chuyên môn lựa chọn đề cho mỗi đợt kiểm tra. Các đề kiểm tra đảm bảo không
hạ chuẩn để đạt chỉ tiêu chất lượng
- Tích cực dự giờ để phần nào kiểm soát được việc đánh giá bằng điểm kiểm
tra miệng của học sinh (chỉ dự giờ mới thấy được vì không có hồ sơ lưu lại)
- Chấm xác suất một số bài kiểm tra của định kỳ của học sinh để kiểm tra
việc thực hiện của giáo viên bộ môn
- Hàng tháng, kiểm tra sổ điểm lớn, xem có môn học nào ở lớp nào có tính
bất thường không để tìm nguyên nhân và có giải pháp, chỉ đạo phù hợp, kịp thời.
12
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
4.1. Đề tài đã có những biện pháp cụ thể giải quyết được những khó khăn
gặp phải trong năm học trước đã nêu trong phần thực trạng
4.2. Chất lượng tăng lên rõ rệt
- Chất lượng cuối Học kỳ I: Tỷ lệ học sinh có Học lực từ trung bình trở lên
tăng 11% so với cùng kỳ năm học trước
- Chất lượng cuối năm học: Tỷ lệ học sinh có Học lực từ trung bình trở lên
tăng 15% so với năm học trước và vượt chỉ tiêu 9%
13
KẾT LUẬN
Đối với mỗi nhà trường, tất cả các hoạt động cuối cùng đều nhằm mục
tiêu nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện học sinh, trong đó nâng cao chất
lượng học lực là một nhiệm vụ quan trọng, khó khăn. Trong phạm vi đề tài này,
tôi đưa ra một vài kinh nghiệm của bản thân trong việc quản lý chỉ tiêu chất