TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA LỊCH SỬ
=== ===
PHẠM THỊ LÝ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Yªn L¹c trong c«ng cuéc ®æi
míi tõ 1996 - 2010
CHUYÊN NGÀNH LỊCH SỬ VIỆT NAM
VINH - 2011
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA LỊCH SỬ
=== ===
PHẠM THỊ LÝ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Yªn L¹c trong c«ng cuéc ®æi
míi tõ 1996 - 2010
CHUYÊN NGÀNH LỊCH SỬ VIỆT NAM
Lớp 48B1 - Sử (2007 - 2011)
Giáo viên hướng dẫn: ThS. NGUYỄN KHẮC THẮNG
VINH - 2011
5. Bố cục đề tài.......................................................................................................................9
B. NỘI DUNG......................................................................................................................10
Chương 1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI YÊN LẠC TRƯỚC KHI TÁI
LẬP (TRƯỚC 1996)............................................................................................................10
1.1. Đặc điểm tự nhiên và lịch sử - xã hội............................................................................10
1.1.1. Đặc điểm tự nhiên......................................................................................................10
1.1.2. Đặc điểm lịch sử - xã hội............................................................................................11
1.2. Tình hình kinh tế - xã hội của Yên Lạc trước khi tái lập (trước 1996).........................15
Chương 2 YÊN LẠC TRONG NHỮNG NĂM ĐẨY MẠNH CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI
(1996 - 2010)........................................................................................................................19
2.1. Yên Lạc trong giai đoạn 1996 - 2000............................................................................19
2.1.1. Huyện Yên Lạc tái lập và nhiệm vụ đặt ra.................................................................19
2.1.2. Thành tựu và hạn chế.................................................................................................20
2.1.2.1. Kinh tế.....................................................................................................................21
2.2. Yên Lạc giai đoạn 2000 - 2005.....................................................................................32
2.2.1. Điều kiện lịch sử.........................................................................................................32
2.2.2. Thành tựu và hạn chế.................................................................................................34
2.3. Yên Lạc giai đoạn 2005 - 2010.....................................................................................53
2.3.1. Tình hình và nhiệm vụ................................................................................................53
2.3.2. Thành tựu và hạn chế.................................................................................................56
Chương 3 BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP.....................................72
3.1. Một số bài học kinh nghiệm..........................................................................................72
3.2. Một số giải pháp............................................................................................................74
KẾT LUẬN..........................................................................................................................79
TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................................................83
PHỤ LỤC........................................................................................................
DANH MỤC VIẾT TẮT
Khoa học kỹ thuật
NQ - CP:
Nghị quyết Chính phủ
NQ/TW:
Nghị quyết Trung ương
QĐ - BNV:
Quyết định Bộ Nội vụ
TƯ:
Trung ương
TW:
Trung ương
UBND:
Uỷ ban nhân dân
VAC:
Vườn ao chuồng
đạt được là rất đáng tự hào. Bên cạnh đó còn một số hạn chế đã làm ảnh
hưởng đến việc đẩy mạnh quá trình CNH - HĐH NNNT của quê hương.
Nhằm góp phần tìm hiểu quá trình đổi mới ở địa phương trong những
năm 1996 - 2010 tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Yên Lạc trong công cuộc đổi
mới từ 1996 - 2010” làm khoá luận tốt nghiệp của mình. Với hy vọng góp
7
phần nhỏ bé của mình vào việc nghiên cứu, tổng kết, đánh giá những thành
tựu của công cuộc đổi mới của đất nước nói chung và Yên Lạc nói riêng.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Bàn về công cuộc đổi mới cả nước nói chung, Yên Lạc nói riêng là một
vấn đề đang còn mới mẻ, mang tính thời sự cao. Một số công trình nghiên cứu
đề cập đến một số khía cạnh của vấn đề này.
- Văn kiện của Đảng tại các Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng cộng
sản Việt Nam: Đại hội VI, VII, VIII, IX, X đã tổng kết những thành tựu, hạn
chế và vạch ra những mục tiêu mà các Nghị quyết của các Đại hội đã vạch ra.
- Trong cuốn tạp chí “Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam” của nhà xuất
bản Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh với một số vấn đề có lien quan
đến công cuộc đổi mới.
- Cuốn “Lịch sử Việt Nam từ 1975 đến nay - những vấn đề lý luận và
thực tiễn” của GS.Trần Bá Đệ biên soạn, nhà xuất bản Đại học Quốc gia 1998
đã nêu lên những thành tựu tiến bộ và những hạn chế yếu kém, khuyết điểm
của đất nước từ khi thực hiện đổi mới đến năm 1996.
- Cuốn “Lịch sử Đảng bộ huyện Yên Lạc 1930 - 2005” của Ban chấp
hành Đảng bộ huyện Yên Lạc biên soạn đã đánh giá thực trạng kinh tế - xã
hội - văn hoá, khẳng định những thành tựu, những mặt mạnh, đồng thời nêu
rõ những hạn chế và những thiếu sót trong bước đầu thực hiện đường lối đổi
mới, cùng công cuộc đẩy mạnh công cuộc đổi mới của huyện Yên Lạc.
- “Lịch sử Đảng bộ huyện Vĩnh Tường giai đoạn 1930 - 2003” đã đề
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chủ yếu là phương pháp lịch sử, lôgich. Bên cạnh đó kết
hợp phương pháp điền dã, thống kê, phân tích dựa trên quan điểm sử học Mac
xít làm cơ sở nghiên cứu.
9
5. Bố cục đề tài
Ngoài phần dẫn luận, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung khoá
luận được chia làm 3 chương:
Chương 1: Khái quát tình hình kinh tế - xã hội Yên Lạc trước khi
tái lập (trước 1996).
Chương 2: Yên Lạc trong những năm đẩy mạnh công cuộc đổi mới
(1996 - 2010).
Chương 3: Bài học kinh nghiệm và một số giải pháp.
10
B. NỘI DUNG
Chương 1
KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI YÊN LẠC
TRƯỚC KHI TÁI LẬP (TRƯỚC 1996)
1.1. Đặc điểm tự nhiên và lịch sử - xã hội
1.1.1. Đặc điểm tự nhiên
Yên Lạc là một huyện đồng bằng của tỉnh Vĩnh Phúc, hiện nay có 16
xã và 1 thị trấn, diện tích 106,7 km 2 .Dân số theo thống kê mới nhất là 148000
người (năm 2010). Huyện nằm ở vị trí chiến lược quan trọng, phía Bắc giáp
huyện Tam Dương, phía Đông giáp huyện Bình Xuyên, Mê Linh, phía Tây
giáp huyện Vĩnh Tường, phía Nam là sông Hồng phân cách Yên Lạc với Sơn
hang hoá.
Tài nguyên khoáng sản ở huyện Yên Lạc: cát xây dựng dọc trên dòng
sông Hồng đã phục vụ cho bà con các xã ven sông: Trung Hà, Liên Châu,
Hồng Phương…
Tóm lại, điều kiện tự nhiên đã có sự tác động không nhỏ đến quá trình
phát triển kinh tế xã hội của huyện Yên Lạc trong sự nghiệp phát triển huyện
nhà. Nhưng nhìn thấy rõ rằng, Yên Lạc là một vùng thuần nông - các nghề thủ
công dần dần hình thành nhưng dưới nền tảng của một nghề nông nghiệp.
Những lợi thế, khó khăn, hạn chế mà điều kiện tự nhiên đem lại cho huyện là
một yêu cầu cho chính quyền và nhân dân Yên Lạc biết khai thác, sử dụng
tiềm năng đó trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
1.1.2. Đặc điểm lịch sử - xã hội
Trong suốt tiến trình hình thành và phát triển của lịch sử dân tộc, nhân
dân Yên Lạc đã từng bước định hình truyền thống đấu tranh cách mạng kiên
cường của huyện cùng trang sử vẻ vang với nền văn hoá sơ khai - cuội nguồn
của dân tộc Việt Nam.
12
Huyện Yên Lạc nằm ở vùng đất cổ, gắn liền với quá trình hình thành và
phát triển của dân tộc Việt Nam. Những phát hiện của ngành khảo cổ học qua
6 lần khai quật ở di chỉ Đồng Đậu (thuộc xã Minh Tân), hiện vật tìm thấy tại
đây đã góp phần khẳng định: Trong tiến trình lịch sử của dân tộc, người Việt
cổ từ du canh du cư đã định canh, định cư, dừng lại Đồng Đậu - Yên Lạc,
trồng lúa nước và ngày càng tập trung vào nông nghiệp, trải qua hàng năm
góp phần xây dựng nên nền văn minh sông Hồng rực rỡ.
Ở một vùng đất cổ, có nhiều điều kiện để trồng trọt phát triển nông
nghiệp, con người đã tụ hội sinh sống ở đây từ lâu đời. Huyện Yên Lạc hình
thành từ khá sớm. Theo “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi (thế kỷ XV), “Đại
Việt địa dư toàn diên” của Phương Đình Nguyễn Văn Siêu (thế kỷ XIX ),
Qua hàng nghìn năm hình thành và phát triển, các thế hệ người Yên
Lạc đã xây dựng nên nhiều truyền thống tốt đẹp.
- Trước hết là truyền thống đoàn kết, cần cù và sáng tạo trong lao động.
Yên Lạc một huyện đồng bằng, với những cánh đồng lớn phì nhiêu và những
đồng bãi phù sa rộng màu mỡ, để có được những cánh đồng màu mỡ ấy nhiều
thế hệ người dân Yên Lạc đã phải chung lưng đấu cật, đồng cam cộng khổ,
khai phá rừng hoang, đầm lầy, chống hạn hán, lũ lụt…Biến đất hoang và bãi
lầy thành những cánh đồng lúa và hoa màu tạo dựng những làng xóm đông
vui. Truyền thống đoàn kết quý báu của người dân Yên Lạc còn được bồi đắp
qua tinh thần đấu tranh chống áp bức, bóc lột, chống giặc ngoại xâm dai dẳng.
- Yên Lạc có truyền thống văn hoá đặc sắc, được bảo tồn giữ gìn, phát
triển trong suốt chiều dài lịch sử. Đó là tinh hoa của nền văn nghệ dân gian,
những làn điệu hát xoan, trống quân, chèo… thường được trình diễn trong các
dịp lễ hội, lễ tết, đình đám, được truyền từ đời này sang đời khác. Đó là
truyền thống hiếu học, học để làm người, học để giúp đời. Từ triều Lý (thế kỷ
X) đến cuối triều Nguyễn (đầu thế kỷ XX) ở Yên Lạc có 22 người đỗ đại
14
khoa, nhiều tên tuổi khá nổi tiếng như: Phạm Công Bình, Nguyễn Tông Lỗi,
Nguyễn Đức Kỳ… Cho đến nay, truyền thống ham học hỏi, hiếu học vẫn
không ngừng được phát huy trên địa bàn các xã của huyện.
Truyền thống văn hoá của Yên Lạc còn được thể hiện ở những công
trình kiến trúc: đình, đền, chùa, miếu… vượt qua thử thách khắc nghiệt của
thời gian và khói lửa chiến tranh vẫn tồn tại như bài ca bất hủ ngợi ca khối óc,
bàn tay tài hoa của bao thế hệ người lao động. Tiêu biểu, đền Thính (Bắc
Cung) ở xã Tam Hồng được Nhà nước xếp hạng “Di tích lịch sử - văn hoá”.
- Bằng tình yêu tha thiết quê hương đất nước, từ bao đời nay nhân dân
Yên Lạc đã xây dựng nên cho mình một truyền thống yêu nước và tinh thần
chiến đấu quật cường, viết nên những trang sử hết sức tự hào trong cuộc khởi
đổi mới do Đảng khởi xướng (12/1986), từ khi tái lập huyện nhân dân Yên
Lạc giành được nhiều thành tựu trên mọi lĩnh vực. Là động lực lớn giúp nhân
dân Yên Lạc tiếp tục cố gắng, phấn đấu hơn trên bước đường phát triển kinh
tế - xã hội vì cuộc sống ấm no hạnh phúc, xây dựng quê hương giàu đẹp trong
công cuộc đổi mới đất nước.
1.2. Tình hình kinh tế - xã hội của Yên Lạc trước khi tái lập (trước 1996)
Miền Nam hoàn toàn giải phóng, tổ quốc được thống nhất bước vào
chặng đường đầu của thời kỳ quá độ lên CNXH Đảng bộ và nhân dân Yên
Lạc đã bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội
ở địa phương.
Đến năm 1976, nhiều chỉ tiêu kinh tế xã hội ở Yên Lạc được thực
hiện, sản xuất nông nghiệp hoàn thành cả về diện tích gieo trồng, nghĩa vụ
đóng góp lương thực với nhà nước, giá trị tổng sản lượng, thủ công nghiệp,
xây dựng cơ sở hạ tầng… Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân từ xã đến
huyện được củng cố, sắp xếp ổn định tổ chức theo quyết định 130 của Hội
đồng chính phủ. Chính quyền các cấp đã tập trung vào nhiệm vụ khôi phục,
16
phát triển sản xuất, chăm lo đời sống nhân dân, củng cố và phát triển hợp tác
xã theo hướng sản xuất lớn XHCH, củng cố lực lượng dân quân tự vệ và xây
dựng nếp sống văn hoá mới. Công tác thí điểm về việc thực hiện chỉ thị 214
của Ban bí thư, giữa các phòng văn hoá - cấp chính quyền địa phương về
đám cưới, đám tang theo nếp sống mới. Xã Yên Phương đã thực hiện kết
quả tốt nhất.
Thực hiện chủ trương của Đảng, đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội
theo hướng sản xuất và XHCN, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần cho nhân dân. Trong đó có việc tăng cường xây dựng ở cấp huyện,
10/1977 thực hiện nghị quyết của Hội đồng chính phủ huyện Yên Lạc đã hợp
nhất thành một huyện Vĩnh Lạc với 260000 người, 45 xã, 175 thôn, diện tích
được duy trì. Công tác an ninh chính trị, an ninh toàn xã hội được giữ vững.
Giai đoạn 1991 - 1995 là một quá trình phấn đấu mạnh mẽ của địa
phương nhằm đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách vững vàng từng bước
giải phóng và phát huy năng lực sản xuất, tạo ra các tiềm năng để phát triển
kinh tế trên địa bàn huyện, phát huy mạnh mẽ tác dụng các tiến bộ KHKT,
mở rộng thị trường. Nền kinh tế đã có bước tăng trưởng khá, nhiều chỉ tiêu đã
đạt được và vượt mức kế hoạch, các mặt đời sống xã hội có nhiều biến
chuyển, kinh tế gia đình, kinh tế cá thể, tiểu chủ phát triển tạo việc làm cho
hàng ngàn lao động. Nhiều công trình giao thông thuỷ lợi, điện lực, trạm y tế
được nâng cấp và xây dựng khang trang.
Nhờ chú trọng việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất
hàng hoá, phát triển nông nghiệp toàn diện giải quyết vững chắc vấn đề lương
thực, gắn nông nghiệp với tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nên các địa
phương bước đầu khắc phục được những hạn chế của nền kinh tế thuần nông,
phá thế độc canh đưa nền kinh tế phát triển liên tục vững chắc.
18
Các tổ hợp kinh tế ngoài quốc doanh được phép “bung ra” như mộc, cơ
khí, vật tư phục vụ sản xuất, vật liệu xây dựng may mặc… góp phần tăng
thêm sản phẩm xã hội.
Mạng lưới điện đã đến với đời sống của cư dân 17 xã trên địa bàn
huyện chỉ trừ một số thôn còn khó khăn: thôn Trung Giang - xã Trung Hà,
thôn Bảo Văn - xã Đồng Văn.
Toàn huyện đã đắp 24 km đê bối cao hơn báo động II 60cm để đảm bảo
tốt công tác thuỷ lợi, phục vụ nhu cầu sản xuất nông nghiệp của cư dân.
Về phát triển văn hoá xã hội thì công tác giáo dục được Huyện uỷ quan
tâm, chú trọng đầu tư xây dựng thêm nhiều trường học kiên cố ở Tam Hồng,
Tề Lỗ, Liên Châu… Phong trào trường chuyên, lớp chọn được duy trì. Chất
lượng giảng dạy và học tập được ngành giáo dục đặc biệt quan tâm.
dễ dàng cho việc tranh thủ sự giúp đỡ của các ngành, các cấp tạo tiền đề cho
huyện vươn lên trong sự nghiệp CNH - HĐH. Đánh giá đúng yêu cầu thực
tiễn, Đảng bộ và nhân dân huyện Yên Lạc đã xác định những điều kiện thuận
lợi cơ bản của địa phương để phát huy truyền thống tốt đẹp của người dân từ
bao thế hệ tiếp bước trong thời kỳ mới đưa kinh tế - xã hội của huyện ngày
càng phát triển.
20
Song huyện còn đứng trước những khó khăn: kết cấu hạ tầng phục vụ
sản xuất và sinh hoạt của nhân dân rất thấp kém. Cán bộ thiếu nhiều, một số
bộ phận đồng chí là trưởng phó các ban, ngành, đoàn thể mới được bổ nhiệm
chưa kinh qua công tác, còn rất mới lạ so với nhiệm vụ được giao. Trụ sở và
các điều kiện làm việc còn thiếu. Các cơ quan huyện phải làm tại các nơi
xuống cấp dột nát được xây dựng từ trước 1977. Thời tiết khắc nghiệt, diễn
biến phức tạp; vụ chiêm xuân năm 1996 với giá rét kéo dài làm cho lúa chết
nhiều phải tập trung chỉ đạo khắc phục trước khi tiến hành Đại hội huyện.
Trước không khí phấn khởi của nhân dân và Đảng bộ huyện trước sự
tái lập huyện, cùng sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ, Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện
Yên Lạc lần thứ XVII được tiến hành từ ngày 11 đến ngày 13/3/1996. Đại hội
đã xác định nhiệm vụ cho Nhiệm kỳ 1996 -2000 là: “Đẩy mạnh sản xuất, phát
triển kinh tế - xã hội, xây dựng kết cấu hạ tầng là nhiệm vụ trọng tâm”.
Trên tinh thần thành công của Đại hội Đảng bộ lần thứ XVII, toàn thể
cán bộ, đảng viên và nhân dân trong huyện đã ra sức phát huy truyền thống
cách mạng của quê hương, biến Nghị quyết Đại hội thành hiện thực, tạo ra
những tiến bộ mới trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, đưa tới một
phong trào cách mạng sôi nổi trong toàn huyện, thi đua hoàn thành vượt mức
kế hoạch đề ra. Khai thác hiệu quả những tiềm năng sẵn có, tranh thủ mọi thời
cơ và các chương trình dự án để đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội ổn
định trên toàn huyện.
Trong sản xuất nông nghiệp, thực hiện phương châm coi nông nghiệp
là mặt trận hàng đầu mà trọng tâm là sản xuất lương thực và đưa chăn nuôi
thành ngành sản xuất chính.
Trong thời gian 5 năm (1996 - 2000) Yên Lạc đã xây dựng đúng cơ cấu
kinh tế, cơ cấu cây trồng, vật nuôi, mùa vụ hợp lý, đã chú ý đến kinh tế hộ gia
đình, kinh tế trang trại, quan tâm đúng mức đến việc đưa tiến bộ KH - KT vào
22
sản xuất, từng bước thúc đẩy việc củng cố chính đổi thành lập hợp tác xã theo
tinh thần Nghị quyết 64 CP của Chính phủ, tiến hành giao đất nông nghiệp
cho nông dân. Đảng bộ và các cấp chính quyền Yên Lạc thực hiện những biện
pháp lãnh đạo, chỉ đạo sát sao, gắn bó mật thiết giữa các doanh nghiệp với
hợp tác xã để sản xuất nguyên liệu từ sản phẩm của hoạt động nông nghiệp.
Bước đầu hình thành những vùng kinh tế nông nghiệp: trồng trọt - chăn nuôi
trong quá trình sản xuất.
Dựa trên những đặc điểm địa lý, địa hình, điều kiện tự nhiên trong kinh
tế nông nghiệp huyện đã hình thành cơ cấu kinh tế nhằm khai thác tiềm năng
đó, đổi mới giống cây trồng, khai thác những vùng đất chiêm trũng, quy
hoạch thành ao cho các hộ nông dân nuôi trồng theo mô hình VAC. Chính
nhờ những chính sách phù hợp thực tế cho đến năm 2000, năng suất lúa đã
đạt 51.6 tạ/ha tăng 11,6 tạ/ha so với năm 1995, đưa tổng sản lượng lương thực
quy thóc từ 49,5 nghìn tấn năm 1995 lên 59 nghìn tấn năm 2000. Lương thực
bình quân đầu người tăng 4,6% [1;259].
Ở xã Nguyệt Đức, do áp dụng kỹ thuật vào sản xuất nên đã đưa năng
suất lúa từ 37 tạ/ha năm 1996 lên 58,3 tạ/ha năm 2000.
Ở Tề Lỗ, giá trị thu nhập trên 1ha canh tác toàn xã tăng từ 17,8 triệu
năm 1996 lên 21,96 triệu năm 2000 trong hoạt động trồng trọt hoa màu…
[18;350].
Trong ngành chăn nuôi đã hình thành sản xuất tập trung, quy mô lớn,
những thành tựu to lớn - với nhịp độ tăng trưởng khá một số nghề: sản xuất
vật liệu - nhựa (Tam Hồng), đan lát (Trung Kiên), mộc dân dụng (Minh Tân),
bông (Yên Đồng)… Giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - xây
dựng đạt 73,4 tỷ đồng tăng 2,26 lần so với năm 1995, trong đó chủ yếu là giá
trị xây dựng. Một số doanh nghiệp tư nhân được thành lập và đi vào hoạt
động, có sản phẩm tham gia trên thị trường như: bia, đồ gỗ dân dụng (riêng
24
tính trên địa bàn thị trấn Minh Tân của huyện thì trong hoạt động sản xuất đồ
mộc với các xưởng sản xuất đầu tư mua sắm nhiều máy móc đưa thu nhập
bình quân tăng đat 3,1 triệu đồng 1 người/năm - năm 2000), vật liệu xây
dựng…nghề trồng dâu nuôi tằm ươm tơ, dệt ở các xã: Nguyệt Đức, Trung
Kiên, Yên Phương… phát triển. Trên địa bàn xã Nguyệt Đức hình thành nhà
máy ươm tơ tự động công suất 200tấn/năm, khởi công vào những ngày đầu
năm 2001.
Hoạt động kinh tế công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đã mang lại
những giá trị kinh tế cao, góp phần cung cấp sản phẩm cho cư dân huyện, các
xã và một phần có giá trị trao đổi vùng lân cận đưa giá trị công nghiệp - tiểu
thủ công nghiệp tăng 17,8%/năm trong nền kinh tế huyện [1;261].
Dịch vụ - thương mại phát triển khá sâu rộng. Nhiều chợ ở các xã được
xây dựng và nâng cấp. Các ngành dịch vụ phát triển: vận tải tư nhân, các cửa
hàng, cửa hiệu, sửa chữa điện tử, xe máy, đại lý đồ điện, buôn bán hàng hoá tiêu
dùng, chợ thị trấn và các vùng, các xã phát triển trở thành các thị tứ, trung tâm
thương mại thúc đẩy giao lưu hàng hoá trong và ngoài huyện có điều kiện phát
triển, đưa thương mại - dịch vụ đạt 48,4 tỷ đồng tăng 1,5 lần so với năm 1995.
Hệ thống giao thông vận tải, mạng lưới thông tin liên lạc không ngừng
được nâng cấp phục vụ kịp thời cho nhu cầu sản xuất, đi lại của nhân dân.
Huyện Yên Lạc đã đưa ra Nghị quyết “gạch hoá bê tông hoá, nhựa hoá, tất cả
các tuyến đường liên thôn, liên xã, đường làng, ngõ xóm với phương châm
độ điện thoại tăng 15,6%... [18;355].
Trong công tác thu, chi ngân sách được các cấp uỷ Đảng chính quyền
chỉ đạo chặt chẽ, đúng luật ngân sách, hạn chế và đẩy lùi những tiêu cực trong
quản lý tài chính, đảm bảo chi thường xuyên, chi đột xuất và ưu tiên phát
triển. Tài chính, ngân hàng đảm bảo cho hoạt đông thường xuyên của huyện
và đầu tư vốn phát triển sản xuất.