BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
-oOo-
NGUYỄN PHI BẰNG
TÌNH HÌNH NHIỄM NGUYÊN SINH ĐỘNG VẬT
NGOẠI KÝ SINH TRÊN CÁ TRA NUÔI THÂM CANH
Ở THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, HUYỆN CHÂU PHÚ
TỈNH AN GIANG VÀ HIỆU QUẢ MỘT SỐ THUỐC ĐIỀU TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH THÚ Y
MÃ NGÀNH 60 62 50
Cần Thơ, tháng 10/2009
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
-oOo-
NGUYỄN PHI BẰNG
TÌNH HÌNH NHIỄM NGUYÊN SINH ĐỘNG VẬT
NGOẠI KÝ SINH TRÊN CÁ TRA NUÔI THÂM CANH
Ở THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, HUYỆN CHÂU PHÚ
TỈNH AN GIANG VÀ HIỆU QUẢ MỘT SỐ THUỐC ĐIỀU TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH THÚ Y
hoàn thành luận văn này.
Chân thành cảm ơn
- Quý thầy cô Bộ Môn Thú Y, Trường Đại học Cần Thơ, Trường Đại Học Nông Lâm
TPHCM …đã truyền đạt cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm quý báu.
- Quý thầy cô Bộ môn Chăn Nuôi Thú Y, Bộ môn thủy sản, Trường Đại Học An Giang,
các em lớp Bác Sĩ Thú Y khóa 29, 30 cùng với bạn bè, đồng nghiệp đã hết lòng giúp đở,
tạo mọi điều kiện thuận lợi, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thời gian làm đề
tài.
- Các bạn lớp cao học thú y khóa 12, khóa 13 đã tận tình giúp đỡ, chia sẽ và động viên tôi
trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn.
iii
LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. LÝ LỊCH SƠ LƯỢC:
Họ và tên: NGUYỄN PHI BẰNG
Giới tính: Nam
Ngày, tháng, năm sinh: 21/10/1981
Nơi sinh: Thoại Sơn – An Giang
Quê quán: Thoại Sơn – An Giang
Dân tộc: Kinh
Chức vụ nơi đơn vị công tác: Giảng viên Trường Đại Học An Giang.
Chỗ ở riêng hoặc địa chỉ liên lạc: Ấp Tây Bình, Xã Vĩnh Trạch, Huyện Thoại
Giảng dạy và Nghiên cứu
khoa học
Ngày 15 tháng 10 năm 2009
XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN CỬ ĐI HỌC
Người khai ký tên
(Ký tên, đóng dấu)
Nguyễn Phi Bằng
95
DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT
ĐBSCL: Đồng Bằng Sông Cửu Long
TLSB: Tỉ lệ sạch bệnh
CĐN: Số mẫu nhiễm
SMKT: số mẫu kiểm tra
SMN: số mẫu nhiễm
SAKT: số mẫu kiểm tra
SAN: số mẫu nhiễm
TLN: tỉ lệ nhiễm
TLNG: tỉ lệ nhiễm ghép
SANG: số ao nhiễm ghép
TLB: Tỉ lệ bệnh
xii
iv
Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
Chương 1
Đại Học Cần Thơ
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, phong trào nuôi cá da trơn (cá tra, cá ba sa..) đang phát triển rất mạnh là
vấn đề mang tính thời sự ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Diện tích nuôi và
sản lượng cá tra tăng lên rất nhiều trong những năm gần đây.
Cá Tra (Pangasianodon hypophthalmus Sauvage, 1878) hiện nay được nuôi phổ
biến ở các tỉnh khu vực ĐBSCL trong lồng bè trên sông, ao hầm ven sông và đăng
quầng chắn ven sông cho năng suất và sản lượng rất cao. Trong đó An Giang là một
trong những tỉnh rất có thế mạnh về nuôi cá tra, năm 2005 An Giang đã xuất khẩu
được 45.982 tấn cá tương đương 12.323 triệu USD (Trần Anh Dũng, 2006). Năm
2006 sản lượng cá tra, cá basa (Pangasius bocourti Sauvage, 1880) là 825.000 tấn
(trong đó tập trung vào một số tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ...) giá trị xuất
khẩu đạt 736.872.115 USD. Sáu tháng đầu năm 2008, tình hình nuôi cá tra ở An
Giang với diện tích 1.392 ha, sản lượng 180.000 tấn, sản lượng chế biến 69.251 tấn,
kim ngạch 171.285 nghìn USD (Hiệp hội thuỷ sản An Giang, 2008). Từ khi mở
rộng xuất khẩu thì nghề nuôi cá tra và cá ba sa bước sang một trang mới. Cùng với
thành công sản xuất đủ nhu cầu giống cá tra và ba sa nhân tạo, nghề nuôi cá tra và
cá cá ba sa phát triển mạnh mẽ, sản lượng cá thịt tăng lên đột biến trong 3 năm trở
lại đây. Cá tra và cá ba sa đã trở thành đối tượng xuất khẩu với nhiều mặt hàng chế
biến đa dạng, phong phú và được xuất sang hàng chục nước và vùng lãnh thổ. Do
chung của cả nước. Chúng tôi tiến hành đề tài “KHẢO SÁT TÌNH HÌNH NHIỄM
NGUYÊN SINH ĐỘNG VẬT (Protozoa) TRÊN CÁ TRA (Pangasianodon
hypophthalmus) NUÔI THÂM CANH Ở THÀNH PHỐ LONG XUYÊN HUYỆN
CHÂU PHÚ VÀ HIỆU QUẢ MỘT SỐ THUỐC ĐIỀU TRỊ”.
Mục tiêu đề tài:
Khảo sát tình hình nhiễm nguyên sinh động vật ký sinh trên cá tra nuôi
thâm canh ở thành phố Long Xuyên và huyện Châu Phú
Xác định tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm nguyên sinh động vật .
Xác định thành phần loài nguyên sinh động vật gây bệnh
Xác định một số yếu tố môi trường ảnh hưởng đến nhóm nguyên sinh
động vật gây bệnh.
Thử nghiệm 2 loại thuốc điều trị.
2
Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
Chương 2
Đại Học Cần Thơ
CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ký sinh trùng (KST) ở Việt Nam được nghiên cứu rất lâu nhưng nghiên cứu được
xem là toàn diện và đầy đủ nhất thuộc về Hà Ký. Khi điều tra nghiên cứu ký sinh
trùng của 16 loài cá kinh tế ở Bắc Bộ Việt Nam, Hà ký đã xác định được 120 loài
ký sinh trùng thuộc 48 giống, 37 họ, 26 bộ và 10 lớp, trong đó trùng roi
Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
Đại Học Cần Thơ
ký sinh trùng và phân bố trong các lớp: nhiều nhất là lớp Monogenea, gặp 49 loài
ký sinh trùng chiếm 31,2% tổng số loài ký sinh trùng đã phát hiện, tiếp theo là lớp
Oligohymenophorea gặp 26 lớp chiếm 16,6%. Tác giả còn đưa ra kết luận trùng
bánh xe (Trichodina, Trichodinella và Tripartiella), trùng quả dưa
(Ichthyophthyrius), trùng loa kèn (Apiosoma) là những nguyên sinh đông vật gây
nguy hiểm trên cá tra nuôi thâm canh đặc biệt là giai đoạn cá hương và cá giống, sự
khác nhau của phân bố ký sinh theo mùa, theo phương thức nuôi, sự khác nhau về
tình hình nhiễm ký sinh đối vói những loài cá có tập tính ăn khác nhau và tập tính
sinh học của các loài cá, đưa ra được những loài ký sinh nguy hiểm thường gặp ở
ĐBSCL, các phương pháp tẩy trừ. Tất cả kết luận trên làm cơ sở, tiền đề cho những
nghiên cứu kế tiếp.
Hà Ký et al., (2001) điều tra, nghiên cứu ký sinh trùng ở 62 loài cá kinh tế trên
tổng số 500 loài cá nước ngọt qua đó đã xác định và mô tả được 282 loài ký sinh
trùng.
Ở ĐBSCL thành phần các loài ký sinh trùng rất phong phú. Lớp sán lá đơn chủ
(Monogenea), gặp 50 loài ở 31 loài cá, lớp Myxosporidia gặp ở 22 loài ký sinh ở
cá. Lớp trùng lông (Olygohymemophorea) khoảng 20 loài ký sinh ở 21 loài cá. Lớp
Nematoda 16 loài ký sinh ở 17 loài cá. Các lớp khác thì gặp với số lượng ít hơn. Có
tổng số 161 loài ký sinh trùng thì phần lớn có chu kỳ phát triển trực tiếp không qua
vật chủ trung gian 107 loài, chiếm 66,46% (Bùi Quang Tề et al., 1991).
Richard B.J. và Bùi Quang Tề (2006) đã tổng kết được hệ ký sinh trùng trên các
loài cá tại Việt Nam được trình bày theo hệ thống ký sinh trùng – vật chủ và nguồn
lưu trữ - ký sinh trùng, tác giả liệt kê danh sách ký sinh trùng và 453 tên loài ký
sinh, sự phân bố dịch tễ của các loài ký sinh ở Việt Nam. Công trình đã phân loại
bệnh do động vật đơn bào ngoại ký sinh trên da, vây, mang cá chẽm giống 4-6 cm ở
Ninh Hòa và Cam Ranh, bao gồm: bệnh trùng bánh xe Trichodinosis do 7 loài trùng
bánh xe thuộc họ Trichodinidae; bệnh Henneguyosis do Henneguya zschokkei ký
sinh ở mang cá gây ra; bệnh trùng loa kèn do loài Ribocyphydia artica và
Ambiphrya ameiuri ký sinh ở da và mang cá gây ra. Nghiên cứu cho thấy kết quả cá
bệnh được thử nghiệm trị bệnh bằng cách tắm CuSO4, Formol, H2O2, Hadaclean ở
các nồng độ khác nhau trong 30 phút, đã theo dõi tỷ lệ sống sau 72 giờ. Kết quả thí
nghiệm cho thấy 3 hóa chất trên trị bệnh trùng bánh xe Trichodinosis rất tốt nhưng
trị bệnh Henneguyosis không có hiệu quả.
Nguyễn Thị Thu Hằng et al., (2008) đã phát hiện trên 90 mẫu cá nước ngọt đã tìm
thấy tổng số 11 loài KST gồm Apiosoma piscicolum, Trichodina domerguiei và T.
tenuidens, Gousia gasterostei, Glugea anomala, Gyrodactylus arcuatus,
Crytocotyle lingua, Podocotyle atomon, Podocotyle sp, Lecithaster gibbosus và
Thersitina gasterostei (các loài KST này phân bố phụ thuộc vào các môi trường
khác nhau). Tính đa dạng loài KST được xác định bằng 2 chỉ số đa dạng loài của
Shannon và Simpson và đã cho thấy chỉ số đa dạng của thủy vực nước lợ cao hơn
thủy vực nước ngọt, mặn và mức độ phong phú loài cũng được xác định qua tổng số
KST trong mỗi hệ sinh thái. Quần thể ký sinh trùng và ký chủ khác nhau có ý nghĩa
thống kê (p
trong đó có Trichodina sp và Ichthyophthirius multifiliis. Bangham và Hunter
(1939) đưa ra danh sách tổng số là 96 ký sinh trùng mới cho cá loài cá ở hồ Erie.
Trong danh sách các ký sinh trùng tại hồ Erie có các ký sinh trùng thuộc các nhóm
như sau: Protozoa, Monogenea, Aspidocotylea, Digenea, Cestoda, Nematoda,
Acanthocephala, Hirudinea. Trong số các ký sinh trùng xảy ra tại hồ Erie có là loài
protozoa ký sinh được xem là mầm bệnh xuất hiện thường xuyên trên cá như:
Trichodina spp, Ichthyophthirius multifiliis. Năm 1963, người ta phát hiện nguyên
6
Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
Đại Học Cần Thơ
nhân gây chết trên cá tại hồ Erie là do Ichthyophthyrius multifiliis đã gây hủy hoại
trên da và mang cá. Hơn 1/2 số cá chết nhiều trong năm 1969 bị gây ra bởi các
microsporidian Glugea hertwigi, Myxosoma scleroperca (Dechtiar, 1965b). Các tác
giả cũng cho thấy môi trường nước liên quan mật thiết đến việc xuất hiện mầm bệnh
trên cá và các động vật thủy sản (Dechtiar,1972).
Chen Chil – Leu (1973) đã biên soạn quyển sách ký sinh trùng cá nước ngọt ở tỉnh
Hồ Đắc (Trung Quốc), điều tra 50 loài cá nước ngọt và phân loại được 375 loài ký
sinh trùng (trích dẫn bởi Bùi Quang Tề, 2001).
Ở Đông Nam Á , các nghiên cứu công bố tên các loài Trichodina như Ducan
(1977); Natividad et al., (1986), Natividad (1987); Bondad-Reantaso và Arthur
(1989) nghiên cứu nguyên sinh động vật ngoại ký sinh ở Philippine; Shtein (1968).
Albaladejo J.D. (1989) trong công trình nghiên cứu về sự du nhập của Trichodinids
và đã định danh 10 mẫu Trichodinidae lấy từ da và mang của những cá nước ngọt
nhập vào Philippines bao gồm các loài sau đây: Trichodina acuta, Trichodina
reticulata, Trichodina nobillis, Trichodina nigra, Trichodina kupermani,
Trichodina heterodentata, Tripartiella tilapiae, Trichodinella epizootica. Họ điều
loại của 7 ngành ký sinh trùng đơn bào ở cá gồm: ngành trùng roi (Mastigophora),
ngành (Opalinata), ngành amip (Amoebae), ngành bào tử (Apicomplexa), ngành vi
bào tử (Microspora), ngành trùng lông (Ciliophora), ngành bào tử (Myxozoa).
Vera P.Nikolic và Predrag D.Simonovic (1996) khảo sát về sự nhiễm bệnh do động
vật đơn bào trong hồ Vlasinsko ở Yugosvlavia. Trong 83 mẫu cá chết được lấy ở hồ
Vlasinsko ở 8 vị trí thí nghiệm khác nhau trong tháng 04 – 10 năm 1993 có 25 mẫu
bị bệnh được tìm thấy là do các nguyên sinh động vật như: Trichodinella epizootica,
Apiosoma robustum, Apiosoma piscicolumi, Ichthyophthirius multifiliis,
Chilodonella cyprini and Chichodonilla hexasticha. Người ta nhận thấy hầu hết các
mẫu cá bị bệnh và chết có sự tham gia của các nguyên sinh động vật vào tháng 4
trong đó, Ichthyophthirius multifiliis đóng vai trò quan trọng và gây bệnh nghiêm
trọng chỉ vào tháng 7, Trichodinella epizootica và Apiosoma robustum là hai loài
được tìm thấy với cường độ nhiễm cao, phổ biến nhất. Vera P.Nikolic và Predrag
D.Simonovic cho rằng đặc điểm dịch tễ đối với địa phương thì Trichodinella
epizootica và Apiosoma robustum trong các mẫu cá chết có ái lực trên mang mạnh
hơn trên da. Theo Vera P.Nikolic và Predrag D.Simonovic (1996) mỗi mùa vụ, thời
gian trong năm khác nhau thì tỉ lệ nhiễm protozoa, cường độ nhiễm protozoa và
thành phần protozoa ký sinh trên cá cũng khác nhau.
Swift et al., (1993), Dill và Cordone (1997) giới thiệu Ichthyophthrius multifilliis là
loài ciliated protozoa được tìm thấy ở 140 mẫu cá ở California, chúng xâm nhập và
nhiễm dai dẳng các loài cá ở các con sông miền Nam California. Tác giả cho rằng
chúng là loài ký sinh trùng đơn bào cực kỳ nguy hiểm ở các loài cá tự nhiên cũng
như các loài cá được nuôi thâm canh. Hơn 200 loài Trichodina, Paratrichodina,
Tripartiella trong họ Trichodonidae được mô tả bởi Annandale (1912), những ký
sinh trùng đơn bào này được tìm thấy trên vây, da, mang cá. Thành phần loài trùng
bánh xe vô cùng phong phú, chúng có mặt phần lớn trên cá loài nuôi thâm canh
khắp nơi trên thế giới, nhận dạng sự khác nhau của chúng (Jiri Lom,1958).
Các nước Châu Âu khác cũng có nhiều nhà khoa học nghiên cứu ký sinh trùng trên
cá Jiri Lom (1958 – 1997) người Tiệp Khắc đã có nghiên cứu ký sinh trùng
Ciliophora, Myxozoa, Microspora, Sporozoa và Mastigophora trên động vật thủy
Ruth Ellen Klinger và Ruth Fancis Floyd (2002), mô tả 3 loại ký sinh trùng quan
trọng trên cá nước ngọt là Protozoa, Monogenean Trematoda, Cestoda trong đó
Protozoa có 8 loại Ciliates (Ichthyophthirius multifiliis, Chilodonella, Tetrahymena,
Trichodina, Ambiphyra, Apiosoma, Epistylis, Capriniana) và 4 họ Flagellates
(Hexamita/Spironucleus, Ichthyobodo, Piscinoodinium, Cryptobia)
9
Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
Đại Học Cần Thơ
2.3 Mối quan hệ giữa các tác nhân gây bệnh
Hình 1: Mối quan hệ giữa các tác nhân gây bệnh
(Nguồn: Bùi Quang Tề, 2006 a)
Người ta biểu diễn mối quan hệ giữa nguyên nhân và điều kiện gây bệnh ở động vật
bằng công thức toán học:
D = P + H + (E2)
Trong đó: D- Disease (bệnh)
P- Pathogen (mầm bệnh)
H- Host (vật chủ)
E- Environment (môi trường)
Công thức này đã khẳng định vai trò quyết định của nguyên nhân gây bệnh (P), và
vai trò quan trọng của các nhân tố điều kiện (H và E), nhưng đã nhấn mạnh tầm
quan trọng của điều kiện môi trường (E2) trong phát sinh dịch bệnh (Đỗ Thị Hòa et
al., 2004).
Quá trình hình thành bệnh động vật thủy sản liên quan đến các yếu tố mầm bệnh,
Cá tra và ba sa là hai trong số 11 loài thuộc họ cá tra (Pangasiidae) đã được xác
định ở sông Cửu long. Tài liệu phân loại gần đây nhất của tác giả Rainboth .W xếp
cá tra nằm trong giống cá tra dầu. Cá tra dầu rất ít gặp ở nước ta và còn sống sót rất
ít ở Thái lan và Campuchia, đã được xếp vào danh sách cá cần được bảo vệ nghiêm
ngặt (sách đỏ). Cá tra và ba sa của ta cũng khác hoàn toàn với loài cá nheo Mỹ
(Ictalurus punctatus) thuộc họ Ictaluridae.
Phân loại cá Tra
Bộ cá nheo Siluriformes
Họ cá tra Pangasiidae
Giống cá tra dầu Pangasianodon
Loài cá tra Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage 1878)
11
Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
Đại Học Cần Thơ
Hình 2: Cá Tra (Pangasianodon hypophthalmus )
Nguồn: />
2.4.2. Phân bố
Cá tra và ba sa phân bố ở lưu vực sông Mê kong, có mặt ở cả 4 nước Lào, Việt
Nam, Campuchia và Thái lan. Ở Thái Lan còn gặp cá tra ở lưu vực sông Mekong và
Chao Phraya, cá ba sa có ở sông Chaophraya. Ở nước ta những năm trước đây khi
chưa có cá sinh sản nhân tạo, cá bột và cá giống tra và ba sa được vớt trên sông
Tiền và sông Hậu (Nguyễn Hữu Phụng và Nguyễn Bạch Loan, 1999). Cá tra là loài
cá di cư, vào mùa lũ khi mực nước dâng cao cá di chuyển về vùng thượng nguồn đẻ
trứng. Khi mực nước sông xuống thấp cá trở về vùng hạ nguồn để tìm nơi cư trú.
Khảo sát chu kỳ di cư của cá tra ở địa phận Campuchia cho thấy cá ngược dòng từ
Cá tra là cá da trơn (không vẩy), thân dài, lưng xám đen, bụng hơi bạc, miệng rộng,
có 2 đôi râu dài. Cá tra sống chủ yếu trong nước ngọt, có thể sống được ở vùng
nước hơi lợ (nồng độ muối 7-10), có thể chịu đựng được nước phèn với pH >5, dễ
chết ở nhiệt độ thấp dưới 15 oc, nhưng chịu nóng tới 39o C. Cá tra có số lượng hồng
cầu trong máu nhiều hơn các lòai cá khác. Cá có cơ quan hô hấp phụ và còn có thể
hô hấp bằng bóng khí và da nên chịu đựng được môi trường nước thiếu oxy hòa tan.
Tiêu hao oxy và ngưỡng oxy của cá tra thấp hơn 3 lần so với cá mè trắng (Mai Đình
Yên et al., 1992 ) .
2.4.4 Ðặc điểm dinh dưỡng
Cá tra khi hết noãn hoàng thì thích ăn mồi tươi sống, vì vậy chúng ăn thịt lẫn nhau
ngay trong bể ấp và chúng vẫn tiếp tục ăn nhau nếu cá ương không được cho ăn đầy
đủ, thậm chí cá vớt trên sông vẫn thấy chúng ăn nhau trong đáy vớt cá bột. Ngoài
ra, khi khảo sát cá bột vớt trên sông, còn thấy trong dạ dày của chúng có rất nhiều
phần cơ thể và mắt cá con các lòai cá khác. Dạ dày của cá phình to hình chữ U và
co giãn được, ruột cá tra ngắn, không gấp khúc lên nhau mà dính vào màng treo
ruột ngay dưới bóng khí và tuyến sinh dục. Dạ dày to và ruột ngắn là đặc điểm của
cá thiên về ăn thịt. Ngay khi vừa hết noãn hoàng cá thể hiện rõ tính ăn thịt và ăn lẫn
nhau, do đó để tránh hao hụt do ăn nhau trong bể ấp, cần nhanh chóng chuyển cá ra
ao ương. Trong quá trình ương nuôi thành cá giống trong ao, chúng ăn các loại phù
du động vật có kích thước vừa cỡ miệng của chúng và các thức ăn nhân tạo. Khi cá
lớn thể hiện tính ăn rộng, ăn đáy và ăn tạp thiên về động vật nhưng dễ chuyển đổi
loại thức ăn. Trong điều kiện thiếu thức ăn, cá có thể sử dụng các lọai thức ăn bắt
buộc khác như mùn bã hữu cơ, thức ăn có nguồn gốc động vật. Trong ao nuôi cá tra
có khả năng thích nghi với nhiều loại thức ăn khác nhau như cám, rau, động vật
đáy. Nếu cho cá tra ăn thức ăn có nguồn gốc động vật thì chúng lớn rất nhanh, đặc
biệt là khi nuôi trong ao (Thoại Sơn, 2006).
Khi phân tích thức ăn trong ruột cá đánh bắt ngoài tự nhiên, cho thấy thành phần
thức ăn khá đa dạng, trong đó cá tra ăn tạp thiên về động vật.
13
2,3%
(nguồn: http:\\fistenet.gov.vn)
2.4.5 Ðặc điểm sinh trưởng
Cá tra có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, giai đoạn nhỏ cá tăng nhanh về chiều
dài. Cá ương trong ao sau 2 tháng đã đạt chiều dài 10-12 cm (14-15 gam). Từ
khỏang 2,5 kg trở đi, mức tăng trọng lượng nhanh hơn so với tăng chiều dài cơ thể.
Cỡ cá trên 10 tuổi trong tự nhiên ở Campuchia tăng trọng rất ít. Cá tra trong tự
nhiên có thể sống trên 20 năm. Cỡ cá trong tự nhiên theo ghi nhận18 kg hoặc có
mẫu cá dài tới 1,8 m (Dương Nhựt Long, 2003).
Trong ao nuôi vỗ, cá bố mẹ đạt tới 25 kg ở cá 10 năm tuổi. Nuôi trong ao 1 năm cá
đạt 1-1,5 kg/con ở năm đầu tiên, những năm về sau cá tăng trọng nhanh hơn, có khi
đạt tới 5-6 kg/năm tùy thuộc môi trường sống và sự cung cấp thức ăn cũng như loại
thức ăn có hàm lượng đạm nhiều hay ít. Ðộ béo Fulton của cá tăng dần theo trọng
lượng và nhanh nhất ở những năm đầu, cá đực thường có độ béo cao hơn cá cái và
độ béo thường giảm đi khi vào mùa sinh sản (Trần Thanh Xuân, 1994).
2.4.6 Ðặc điểm sinh sản của Cá Tra
Tuổi thành thục của cá đực là 2 tuổi và cá cái 3 tuổi, trọng lượng cá thành thục
lần đầu từ 2,5-3 kg. Trong tự nhiên chỉ gặp cá thành thục trên sông ở địa phận
của Campuchia và Thái lan. Ngay từ năm 1966, Thái lan đã bắt cá tra thành thục
trên sông trong đầm Bung Borapet và kích thích sinh sản nhân tạo thành công.
Sau đó họ nghiên cứu nuôi vỗ cá tra trong ao. Ðến năm 1972 Thái lan công bố
quy trình sinh sản nhân tạo cá tra với phương pháp nuôi vỗ cá bố mẹ thành thục
trong ao đất.
14
Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
Đại Học Cần Thơ
với hoạt động sống của cá bởi vì sự sống sót, sinh sản và tăng trưởng của cac loài
động vật thuỷ sản nói chung và cá nói riêng phụ thuộc rất lớn vào các yếu tố của
môi trường và đặc biệt là cá còn nhỏ (cá hương, cá giống) sức đề kháng yếu dễ bị kẻ
thù tấn công, khả năng chịu đựng điều kiện môi trường khắc nghiệt kém dễ bị chết
khi môi trường thay đổi đột ngột.
15
Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
Đại Học Cần Thơ
Tuy nhiên các loài khác nhau hay ở giai đoạn phát triển khác thì co khả năng thích
ứng với các yếu tố môi trường khác nhau và nếu dược luyện tập thì cá cũng có khả
năng thích ứng với sự thay đổi của môi truờng. Đối với cá giống được đánh bắt
ngoài tự nhiên thì khả năng chịu đựng sự thay đổi của môi trường tốt hơn cá được
sinh sản nhân tạo chúng ta cần tập cho chúng làm quen vơi sự thay đổi của môi
trường ở ngay giai đoạn ương cá hương, cá giống.
Ngoài vai trò của môi trường nước, người ta cũng đặc biệt quan tâm đến việc cho ăn
(chất và lượng thức ăn ), thao tác kĩ thuật chăn nuôi, phương pháp phòng trị bệnh,
mật độ nuôi, chất lượng con giống...tất cả những yếu tố này tác động trực tiếp đến
cá từ đó quyết định đến năng suất nuôi (Trần Ngọc Bích, 1999).
Về tỷ trọng nguyên nhân gây bệnh ở cá tra thì nguồn nước chiếm 51%; thức ăn
17,78%; mật độ 15,56%; giống 11,11%; mật độ nuôi 4,44% cho thấy môi trường
nước rất quan trọng đến sức khỏe của cá và sự gây bệnh cũng như mức độ lây lan
của bệnh (Trần Ngọc Bích, 1999).
Mầm bệnh hiện diện trong môi trường nước nhưng chúng chỉ bộc phát và gây bệnh
cho cá khi đủ số lượng cần thiết
Khi nhiệt độ tăng cao để thoả mãn nhu cầu oxy cá phải tăng cường đưa nước qua
mang được thực hiện bằng cách tăng tần số hô hấp đồng thời gia tăng lượng máu
đến mang và huy động hồng cầu từ kho dự trữ đến hệ thống tuần hoàn làm tăng khả
năng vận chuyển trong máu, khi nhiệt độ tăng quá cao thì cá sẽ chết (Đỗ Thanh
Hương và Trần Thị Thanh Hiền, 2000).
2.5.2 Oxy hoà tan.
Là yếu tố đặc biệt cần thiết cho đời sống của động vật thuỷ sinh, nếu nồng độ O2
hoà tan thấp hơn 3mg/l cá sẽ hoạt động yếu và sử dụng thức ăn kém, vì vậy hoà tan
đối với cá nuôi thâm canh cần phải có sự phù hợp mật độ thả cá, tỷ lệ thức ăn được
phân phối với khả năng cung cấp O2 hoà tan của môi trường, thực tế chỉ có một số
yếu tố môi trường rất dễ bị biến động: sự dao động của nhiệt độ, lưu lượng dòng
chảy không đủ vào mùa khô, sự tăng sinh của tảo, thực vật,... có nguy cơ làm cho cá
dễ bị bệnh. Họ cá Nheo (cá Tra) khi O2 trong nước giảm, CO2 tăng những loài cá
này sẽ ngoi lên và đớp lấy không khí. Không khí lấy vào đoạn ruột sau và tiến hành
trao đổi khí với máu, khí thừa theo hậu môn ra ngoài (Đỗ Thanh Hương và Trần Thị
Thanh Hiền, 2000). Vì vậy khi nước đứng - giao mùa, hàm lượng O2 hoà tan không
đủ cho sự hô hấp của cá, cá phải nổi đầu liên tục lên mặt nước để thực hiện việc hô
hấp bằng cơ quan hô hấp phụ (ruột). Sự việc này nếu kéo dài cá sẽ bị lồng ruột và
chết vì vậy người nuôi phải tăng cường quạt nước thường xuyên cho bè cá nhất là
vào những lúc giao mùa.
2.5.3 pH:
Độ pH phù hợp cho nuôi trồng thủy sản từ 6,5-8,5 (cá nước ngọt tốt nhất 7,0-8,0)
nếu pH giảm < 7 nước bị chua sẽ ảnh hưởng đến sự lấy O2 vào cơ thể của cá, sẽ dẫn
đến thiếu Oxy và nếu nghiêm trọng cá sẽ chết.
Tiêu chuẩn về chất lượng nước cho nuôi trồng thuỷ sản (Trương Quốc Phú, 2004)
pH=4: điểm chết acid
pH=5: cá không sinh sản
pH: 5 - 6,5 : cá phát triển chậm
pH: 6,5 - 9,0 : môi trường thích hợp cho các loài tôm cá nuôi
pH= 11,0 : điểm chết base
nitrit có liên quan đến hàm lượng chloride. Khi cá nheo sống trong môi trường nước
có tỉ lệ nitrit : chloride 1:1 thì methemoglobin chiếm 85 % trong máu, trong khi môi
trường nước có nitrit:chloride 1:3 thì hàm lượng methemoglobin chiếm 25 %.
Bảng 2: Tiêu chuẩn về chất lượng nước cho nuôi trồng thủy sản
Phân loại nước nước nuôi thủy sản
Đặc điểm
Ảnh hưởng
Tốt
Trung bình
Xấu
Độ kiềm
(mg/L CaCO3)
50-200
20-50
200-500
500
Độ kiềm thấp
Độ kiềm cao
NH3( mg/L)