Xây dựng và sử dụng phiếu học tập để dạy tự học phần sinh học vi sinh vật sinh học 10 trung học phổ thông luận văn thạc sĩ sinh học - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
--------------

LÊ THỊ VIỆT HỒNG

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG PHIẾU HỌC TẬP ĐỂ DẠY TỰ HỌC
PHẦN SINH HỌC VI SINH VẬT SINH HỌC 10 TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG

Chuyên ngành : Lý luận và phương pháp dạy học sinh học
Mã số
: 60.14.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGUYỄN ĐÌNH NHÂM

VINH – 2011


i

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài này tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các
thầy, cô giáo, bạn bè và người thân.
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc PGS.TS. Nguyễn Đình Nhâm,
người đã trực tiếp giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể các Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sĩ, các
nhà khoa học, xin cảm ơn các thầy cô ở khoa sau đại học, khoa sinh trường Đại

6. Phương pháp nghiên cứu
7. Giới hạn của đề tài
8. Dự kiến đóng góp mới của đề tài
PHẦN II. NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương I. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng PHT dạy tự học
1.1.

Lược sử nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.1.1.Tình hình nghiên cứu trên thế giới có liên quan đến đề tài
1.1.2.Tình hình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài

1.2. Cơ sở lý luận của việc xây dựng và sử dụng PHT trong dạy học
1.2.1. Khái niệm PHT
1.2.2. Cấu trúc PHT
1.2.3. Phân loại PHT
1.2.4. Vai trò của PHT trong dạy học
1.2.5. Dạy tự học bằng PHT
1.3. Cơ sở thực tiễn của việc xây dựng và sử dụng PHT để dạy học sinh học
1.3.1. Thực trạng xây dựng sử dụng PHT trong dạy học sinh học của GV
THPT hiện nay
1.3.2. Thực trạng học tập sinh học của HS trong nhà trường THPT hiện nay
Chương II. Xây dựng và sử dụng PHT để dạy tự học phần kiến thức sinh học
VSV, SH 10 THPT


iii
2.1. Phân tích cấu trúc, nội dung phần kiến thức sinh học VSV sinh học 10
2.2. Xây dựng PHT
2.3. Phương pháp sử dụng PHT để dạy tự học phần sinh học VSV SH 10 THPT
Chương III. Thực nghiệm sư phạm

SGV
SV
TBDH
TN
THPT
VK
VSV

Đọc là
Axit đêzôxiribonucleic
Axit ribonucleic
Chuyển hoá vật chất
Đối chứng
Đặt vấn đề
Giáo viên
Học sinh
Nhà xuất bản
Phiếu học tập
Phương pháp dạy học
Phương tiện dạy học
Phương pháp dạy học tích cực
Sinh học
Số lượng
Sách giáo khoa
Sách giáo viên
Sinh vật
Thiết bị dạy học
Thực nghiệm
Trung học phổ thông
Vi khuẩn

trọng, nó cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản, phổ thông và khoa học về
hình dạng kích thước tế bào vi sinh vật và vi rút. Không dừng lại hiểu biết về vi sinh
vật mà còn là cơ sở để giải thích các hiện tượng, các quá trình sinh học, ứng dụng
vào thực tiễn đời sống và sản xuất để phòng ngừa một số bệnh, chăm sóc và bảo vệ
sức khỏe con người, bảo vệ môi trường,…kích thích lòng ham hiểu biết niềm đam
mê khoa học đặc biệt là kỹ thuật di truyền, công nghệ sinh học. Vì vậy việc phát
triển phương pháp tự học ở học sinh trong phần sinh học vi sinh vật là việc làm cần
thiết.
Với những lý do trên, để nâng cao chất lượng dạy học phần sinh học vi
sinh vật chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Xây dựng và sử dụng phiếu học tập để
dạy tự học phần Sinh học vi sinh vật, Sinh học 10 -THPT”
2. Mục đích nghiên cứu


Xây dựng và sử dụng phiếu hoạt động học tập để dạy tự học phần sinh học
vi sinh vật sinh học 10 THPT nhằm nâng cao chất lượng dạy học
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
- Học Sinh lớp 10 THPT
- GV dạy lớp 10 THPT
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Bộ phiếu học tập, quy trình xây dựng và sử dụng PHT trong dạy học phần
sinh học vi sinh vật sinh học 10 THPT.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được bộ PHT đủ tiêu chuẩn phần sinh học vi sinh vật 10
THPT và sử dụng hợp lý sẽ nâng cao được chất lượng dạy, đặc biệt nâng cao được
khả năng tự học cho học sinh.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về việc xây dựng và sử dụng PHT trong quá trình dạy
học nói chung và hướng dẫn tự học nói riêng.

- Phương pháp điều tra: Thông qua phiếu điều tra, dự giờ, thăm lớp, trao đổi với
GV giảng dạy sinh học 10 THPT để:
+ Tìm hiểu việc sử dụng PHT của GV:
. Kĩ năng soạn bài.
. Kĩ năng thiết kế PHT.
. Việc sử dụng PHT trong dạy học
+ Tìm hiểu việc lĩnh hội kiến thức của HS:
. Ý thức học tập.
. Chất lượng lĩnh hội kiến thức.
. Các kỹ năng được rèn luyện trong học tập.
- Nội dung điều tra: Mức độ tiếp thu kiến thức phần sinh học vi sinh vật sinh
học 10 THPT.
6.4. Phương pháp thực nghiệm Sư phạm
6.4.1. Thực nghiệm thăm dò
Sử dụng Hệ thống PHT đã xây dựng đưa ra thực nghiệm thăm dò để điều
chỉnh PHT và cách thức tổ chức dạy học làm cơ sở cho thực nghiệm chính thức
6.3.2. Thực nghiệm chính thức
* Mục đích: Nhằm thu thập số liệu và xử lý bằng toán học thống kê, xác định chỉ
tiêu đo lường và đánh giá chất lượng bộ phiếu xây dựng.
* Phương pháp thực nghiệm:


- Xây dựng hệ thống PHT phần sinh học vi sinh vật sinh học 10 THPT
- Thiết kế giáo án cho lớp thực nghiệm và lớp đối chứng.
+ Lớp thực nghiệm: Giáo án được thiết kế có sử dụng PHT
+ Lớp đối chứng: Giáo án được thiết kế theo hướng dẫn trong SGV
- Tổ chức thực nghiệm tại trường THPT:
+ Chọn các trường thực nghiệm: Các trường thực nghiệm có đủ cơ sở vật
chất, trang thiết bị dạy – học.
+ Chọn GV thực nghiệm: GV dạy lớp TN cũng là GV dạy lớp ĐC.


+ Hệ số biến thiên: để so sánh hai tập hợp có x khác nhau: Cv % = .100
x
Trong đó:
Cv% = 0% - 10%: Độ giao động nhỏ, độ tin cậy cao
Cv% = 10% - 30%: Dao động trung bình
Cv% = 30% - 100%: Dao động lớn, độ tin cậy nhỏ


+ Độ tin cậy (Tđ): Kiểm định độ tin cậy về sự chênh lệch của 2 giá trị trung
bình cộng của TN và ĐC bằng đại lượng kiểm định td theo công thức:
Td =

Trong đó:

X TN − X DC
2
2
S TN
S DC
+
nTN n DC

S2TN: Phương sai của lớp TN
S2ĐC: Phương sai của lớp đối chứng
nTN: Số bài KT của lớp TN
nĐC: Số bài KT của lớp ĐC

Giá trị tới hạn của td là tα tra trong bảng phân phối student với α = 0.05 và
bậc tự do f = n1 + n2 - 2. Nếu ltdl> tα thì sự sai khác của các giá trị TB ĐC và TN là

được quan tâm nghiên cứu và sử dụng trong trường học.
Ở Pháp, vào những năm 1920 đã hình thành những “nhà trường mới”, đặt
vấn đề phát triển năng lực ở trẻ, khuyến khích các hoạt động do chính học sinh tự
quản. Mọi hoạt động giáo dục đều phải lấy HS làm trung tâm, coi trọng việc rèn
luyện phương pháp tự dành lấy kiến thức.
Năm 1950 ở các nước Liên xô(cũ), Pháp, Ba Lan, Tiệp khắc, Cộng hòa dân
chủ Đức, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh bắt đầu được quan
tâm, nghiên cứu và đem vào sử dụng.
Ở Hoa Kỳ ý tưởng dạy học cá nhân hóa ra đời trong những năm 1970, đã
được thử nghiệm gần 200 trường: Giáo viên xác định mục tiêu, cung cấp các phiếu
hướng dẫn (PHT) để học sinh tiến hành công việc độc lập theo nhịp độ phù hợp với
năng lực [21].
Ở Hàn Quốc: Từ thập niên 90 tới nay, giáo dục hướng vào giai đoạn hậu
công nghiệp. Để đáp ứng đòi hỏi mới đặt ra do sự bùng nổ kiến thức và sáng tạo
kiến thức mới cần phát triển năng lực tư duy, năng lực giải quyết vấn đề và tính
sáng tạo [21].
Ở Thái Lan đang tiến hành một chương trình giáo dục mới được giảm tải 1/3
kiến thức so với chương trình cũ, thay phương pháp học vẹt bằng cách phát huy tính
sáng tạo của HS [7].
Dạy học phát huy tính tích cực học tập ở HS đã được nhiều nhà giáo dục
nghiên cứu. Ở thế kỉ XVII, A.Kômenski đã viết: “Giáo dục có mục đích đánh thức
năng lực nhạy cảm, phán đoán, phát triển nhân cách… hãy tìm ra phương pháp cho
phép GV dạy ít hơn, HS học nhiều hơn” [19].
Trong quá trình dạy học phải đề ra một phương pháp sao cho học sinh hứng
thú học tập. Đó là khẳng định của X.L.Rubixtein (1946)


R.C Sharma (1988) cho rằng: Mục đích của PPDH tích cực là phát triển ở
HS kĩ năng và năng lực độc lập học tập và giải quyết các vấn đề… Vai trò của GV
là tạo ra những tình huống để phát triển vấn đề, giúp HS nhận biết vấn đề, lập giả


Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động chủ động,
chống lại thói quen học tập thụ động. Cùng với định hướng đổi mới phương pháp
dạy và học của Đảng, Nhà nước đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà
nghiên cứu khoa học giáo dục về đổi mới phương pháp giáo dục- dạy học như:
GS.TS. Trần Bá Hoành: “ Dạy học lấy học sinh làm trung tâm”- Viện
KHGD, 9/1993; “ Phương pháp tích cực”- NCGD số 3/1996.
GS.TS. Đinh Quang Báo: “ Dạy học sinh học ở trường phổ thông theo hướng
hoạt động hoá người học” - Kỷ yếu hội thảo khoa học, 1/1995; “ Phát triển hoạt
động nhận thức của học sinh trong các bài sinh học ở trường phổ thông Việt Nam”
– 1981.
PGS.TS. Nguyễn Đức Thành: “ Năng cao chất lượng giảng dạy các quy luật
di truyền” - Luận án phó tiến sĩ, 1989.
Nguyễn Cảnh Toàn (Chủ biên), Nguyễn Kỳ, Vũ Văn Tảo, Bùi Tường, “ Quá
trình dạy - tự học”, Nxb Giáo dục Hà Nội, 1997.
Nguyễn Văn Duệ (chủ biên), Trần Văn Kiên, Dương Tiến sỹ “ Dạy học giải
quyết vấn đề trong bộ môn sinh học”, Nxb Giáo dục, 2000.
Đing Quang Báo, Nguyễn Đức Thành, “ Lý luận dạy học sinh học”, 1996.
PGS.TS. Nguyễn Đình Nhâm, “ Hình thành và phát triển khái niệm di truyền
học ở trường THPT Việt Nam”. Luận án TS, 1996.
Nguyễn Phúc Chỉnh: “ Phương pháp Grap trong dạy học sinh học”, Nxb Giáo
dục, 2005.
Gần đây có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề sử dụng PHT để tổ chức hoạt
động học tập cho HS, có thể kể ra một số nghiên cứu sau:
“Phiếu học tập – phương pháp dạy học có sử dụng phiếu học tập” Nguyễn
Thị Dung, thông tin khoa học giáo dục số 45/1994 cho biết: Phiếu học tập là công
cụ để giáo viên tổ chức hoạt động khai thác và lĩnh hội kiến thức theo hướng định
trước của giáo viên.
Nguyễn Thị Dung: “ Dạy học giải quyết vấn đề có sử dụng PHT” - Luận án
phó tiến sỹ, 1995.

Là các chỉ dẫn của giáo viên quy định kiểu hoạt động, nội dung hoạt động
hay nguồn thông tin.
-Ví dụ: Đọc thông tin mục II.1 trang 88 SGK sinh học 10, hoàn thành sơ đồ
sau:


Để đạt hiệu quả sử dụng PHT cao, đảm bảo thời gian thực hiện phần dẫn yêu
cầu ngắn gọn, rõ ràng, chính xác, dẫn dắt học sinh đến các hoạt động cụ thể.
* Phần hoạt động:
Là phần chỉ những công việc, thao tác mà học sinh cần thực hiện, có thể là
một hoặc nhiều hoạt động.
Ví dụ: Đọc thông tin mục I trang 114 SGK Sinh học 10 và hoàn thành sơ
đồ sau bằng cách điền tiếp vào dấu “….”.
Các thao tác, công việc học sinh cần thực hiện là:
-

Đọc thông tin mục II SGK sinh học 10 trang 114.

-

Quan sát sơ đồ trong PHT.

-

Tìm ý thích hợp.

-

Điền vào phiếu và hoàn thành PHT.



luỹ quá nhiều.
b. Số lượng vi khuẩn trong quần thể đạt 2……

3. Pha cân bằng

cực đại và không đổi theo thời gian.
c. Vi khuẩn thích nghi với môi trường, 3……
số lượng tế bào trong quần thể chưa
tăng, enzim cảm ứng được hình thành để

4. Pha suy vong

phân giải cơ chất.
d. Vi khuẩn sinh trưởng với tốc độ lớn 4……
nhất và không đổi, số lượng tế bào trong

quần thể tăng lên rất nhanh.
Thời gian hoàn thành : 5 phút
Đáp án ( sẽ ghi ở phần riêng).
1.c ;

2.d ;

3.b ;

4.a.

1.2.2.2. Yêu cầu sư phạm của phiếu học tập
Qua các dạng PHT nêu ở trên ta thấy khi xây dựng PHT cần chú ý đến

chẽ giữa giáo viên hướng dẫn và học sinh. PHT này có vai trò rất lớn trong việc
khắc sâu kiến thức, giúp học sinh hoàn thiện những kiến thức vừa được lĩnh hội.
Ví dụ 2: PHT: So sánh sinh sản của VSV nhân sơ và sinh sản của VSV
nhân thực.
Hãy so sánh sinh sản của VSV nhân sơ và VSV nhân thực bằng cách điền ý
phù hợp vào ô trống của bảng sau:
Điểm so sánh

Sinh sản VSV nhân sơ

Sinh sản VSV nhân
Thực

Khác nhau
Giống nhau
(Thời gian hoàn thành: 5 phút)


c. PHT dùng để kiểm tra, đánh giá:
Được dùng trong các bài kiểm tra 1 tiết, 15 phút, kiểm tra 1 kỳ, kiểm tra năm
học. Giúp học sinh khắc sâu, hệ thống hoá lại kiến thức, giúp giáo viên nắm bắt được
tình hình học tập của học sinh để điều chỉnh lại phương pháp dạy học cho phù hợp.
Ví dụ 3: Nghiên cứu sơ đồ sau và trả lời các câu hỏi
Tách
Chủng vi
rút A

ProteinA
Trộn
Vi rut lai


?
?

Cấu tạo
?

Vurut
Hình thức
sống

Hệ gen

?

?

(Thời gian hoàn thành: 4 phút)
b. PHT khai thác kênh hình
Hệ thống tranh ảnh, hình vẽ được xem là một trong những phương tiện trực
quan của quá trình dạy học, có vai trò rất lớn trong việc truyền tải thông tin. Việc sử
dụng PHT khai thác kênh hình có vai trò lớn trong việc định hướng cho HS khai
thác nội dung hình vẽ, tranh ảnh. Đây được xem là dạng phiếu tích cực với học
sinh, có thể sử dụng trong tất cả các khâu của quá trình dạy học giúp học sinh phát
triển kỹ năng quan sát, phân tích. Nguồn thông tin để hoàn thành PHT là kênh hình
trong SGK, tranh ảnh, phim tư liệu.
Ví dụ 5: Quan sát hình 29.1, bài 29 SGK SH 10. Hãy chỉ ra những điểm
giống nhau và khác nhau về cấu tạo của virut trần và virut có vỏ ngoài bằng cách
điền ý thích hợp vào ô trống trong bảng sau:
Điểm so sánh

định diễn biến từng giai đoạn nhân lên của virut bằng cách hoàn thành bảng sau:
Các giai đoạn
Diễn biến
1. Hấp phụ
2. Xâm nhập
3. Sinh tổng hợp
4. Lắp ráp
5. Phóng thích
(Thời gian hoàn thành: 8 phút)
b. Dạng 2: Dạng PHT phát triển kỹ năng phân tích:
Dạng PHT này hướng sự chú ý của HS vào việc nghiên cứu chi tiết những
vấn đề khá phức tạp, nắm vững những sự vật hiện tượng gần giống nhau, những
khái niệm có nội hàm chồng chéo một phần, qua đó tập dượt cho HS phương pháp
so sánh phân tích để áp dụng vào những trường hợp tương tự.
Ví dụ 8: Nghiên cứu bảng số liệu về sự phân chia của E.coli, trang 99, bài 25
SGK SH10 và trả lời các câu hỏi sau:
1. Số tế bào con được tạo thành từ 1 tế bào mẹ sau n làn phân chia là bao
nhiêu?............................................................................................................................


2. Nếu biết thời gian t và số lần phân chia n, có thể tính g theo công thức
nào?..............................................................................................................................
3. Tổng số tế bào con được tạo thành từ N 0 tế bào ban đầu sau thời gian t qua
n lần phân chia là bao nhiêu?........................................................................................
.......................................................................................................................................
(Thời gian hoàn thành: 7 phút)
c. Dạng 3: Dạng PHT phát triển kỹ năng so sánh
Khi dạy các khái niệm mang tính chất ngang hàng, tương đương nhau,
nội hàm và ngoại diên có một phần chồng chéo nhau có thể yêu cầu HS lập bảng so
sánh để phân biệt những điểm khác nhau giữa các khái niệm đó.

nhiều góc độ, có thói quen suy nghĩ sâu sắc, có óc hoài nghi khoa học. Từ đó HS
nắm được kiến thức một cách tích cực và phát triển được tư duy suy luận, các vấn
đề mâu thuẫn đề ra trong học tập cũng như trong đời sống.
Ví dụ 11 : Khi dạy mục II.2, bài 27, SH10, có thể sử dụng PHT sau
Hãy giải thích các hiện tượng sau
1.Tại sao các loại hạt ngũ cốc ( gạo, ngô,...) chứa nhiều nước rất dễ bị hư
hỏng ?
2.Theo em, làm thế nào để bảo quản các loại hạt ? Tại sao ?
(Thời gian hoàn thành 5 phút)
f. Dạng 6: Dạng PHT vận dụng kiến thức đã học
HS sau khi học xong phần sinh học VSV sinh học 10, HS có thể vận dụng
kiến thức vào thực tiễn cuộc sống để giải thích các hiện tượng thường gặp trong
thực tiễn, đó là nhu cầu tự nhiên muốn áp dụng kiến thức mới học vào trong đời
sống, sản xuất.
Ví dụ 12 : Khi dạy hết bài 23, SH10, GV yêu cầu HS hoàn thành PHT sau.
Hãy ghép nội dung ở cột I và cột II cho phù hợp và ghi phương án trả lời vào
cột III
(I). Quá trình
(II). Ứng dụng
1. Tổng hợp protein
a. Sản xuất gôm sinh học
2.Tổng hợp polysaccarit
b. Sản xuất rượu, giấm
3. Phân giải protein
c. Sản xuất axitamin
4. Phân giải polysaccarit
d. Làm nước mắm, nước tương.
(Thời gian hoàn thành : 3 phút)

(III). P/a trả lời

PHT còn phát huy được khả năng tự học, tự nghiên cứu cho học sinh.
1.2.4.4. Phiếu học tập là kế hoạch nhỏ để tổ chức dạy học.
Phiếu học tập thường được thiết kế dưới dạng bảng có nhiều cột, nhiều
hàng thể hiện nhiều tiêu chí. Vì vậy, ưu thế của PHT là khi muốn xác định một
nội dung kiến thức, thõa mãn nhiều tiêu chí hay xác định nhiều nội dung với các
tiêu chí khác nhau. Với PHT một nhiệm vụ học tập phức tạp được định hướng rõ
ràng, diễn đạt ngắn gọn như một kế hoạch nhỏ dưới dạng bảng hoặc sơ đồ. PHT
có thể sử dụng trong tất cả các khâu của quá trình dạy học.
1.2.4.5. Phiếu học tập đảm bảo thông tin hai chiều giữa dạy và học, làm cơ sở
cho việc uốn nắn, chỉnh sữa những lệch lạc trong hoạt động nhận thức của
người học.


Sử dụng PHT trong dạy học giáo viên có thể kiểm soát, đánh giá được
động lực học tập của học sinh thông qua kết quả hoàn thành PHT, thông qua báo
cáo kết quả cá nhân, thảo luận trong tập thể từ đó chỉnh sửa, uốn nắn những lệch
lạc trong hoạt động nhận thức của học sinh. Do đó, PHT đã trở thành phương
tiện giao tiếp giữa thầy và trò, giữa trò và trò đó là mối liên hệ thường xuyên,
liên tục.
1.2.4.6. Phiếu học tập là biện pháp hữu hiệu trong việc hướng dẫn học sinh tự
học
Đối với hoạt động tự học PHT là một biện pháp hữu hiệu để hỗ trợ học
sinh trong việc tự lực chiếm lĩnh tri thức. Nó có tác dụng định hướng cho học
sinh cần nắm bắt phần này như thế nào? Nội dung nào là nội dung trọng tâm?
Với vai trò đó nó đã giúp đỡ người thầy rất nhiều trong hoạt động dạy học. Làm
cho chất lượng dạy học ngày càng được nâng cao.
1.2.5. Dạy tự học bằng phiếu học tập
1.2.5.1. Khái niệm tự học
Theo GS.TS. Thái Duy Tuyên: “ Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh
kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status