Xây dựng website hỗ trợ dạy và học phần kiến thức kim loại trong chương trình cơ bản lớp 12 THPT luận văn thạc sỹ hóa h - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
_______________________________

VŨ NGỌC HẢI

PHẦN KIẾN THỨC KIM LOẠI
TRONG CHƯƠNG TRÌNH CƠ BẢN LỚP 12 THPT
Chuyên ngành : Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn hóa học
Mã số

: 60.14.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Cán bộ hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. LÊ VĂN NĂM

Thành phố Hồ Chí Minh – 2012


LỜICẢM
CẢMƠN
ƠN
LỜI
Đểhoàn
hoànthành
thànhluận
luậnvăn
vănnày,
này,tôi

kiệnthuận
thuậnlợi
lợinhất
nhấtcho
chotôi
tôinghiên
nghiêncứu
cứuvà

hướng
hoànthành
thànhluận
luậnvăn
vănnày.
này.
hoàn
Quí Thầy
Thầy giáo
giáo PGS.TS.
PGS.TS. Cao
Cao Cự
Cự Giác
Giác và
và PGS.TS.
PGS.TS. Võ

- - Quí
QuangMai
Mai đã
đãdành

thầygiáo,
giáo,cô
côgiáo
giáothuộc
thuộcBộ
Bộmôn
mônLí
Líluận
luậnvà

Hoá
phươngpháp
phápdạy
dạyhọc
họchoá
hoáhọc
họckhoa
khoaHoá
Hoáhọc
họctrường
trườngĐH
ĐHVinh
Vinhđã
đã
phương
giúpđỡ,
đỡ,tạo
tạomọi
mọiđiều
điềukiện

trường THPT
THPT Thạnh
Thạnh Lộc,
Lộc, Nguyễn
Nguyễn Hữu
Hữu Cầu,
Cầu,

MarieCurie,
Curie,cũng
cũngnhư
nhưQuý
QuýThầy
ThầyCô
Côcủa
củanhiều
nhiềutrường
trườngTHPT
THPT
Marie
thuộcđịa
địabàn
bànTP.
TP.Hồ
HồChí
ChíMinh
Minhđã
đãcó
cónhiều
nhiềugiúp

thầnvững
vữngchắc,
chắc,tạo
tạođiều
điềukiện
kiệncho
chotôi
tôithực
thựchiện
hiệntốt
tốtluận
luận
chỗ
vănnày.
này.
văn
Thànhphố
phốHồ
HồChí
ChíMinh
Minh- -2012
2012
Thành
VũNgọc
NgọcHải
Hải



MỤC LỤC

1.3.2. Chức năng giáo dục của CNTT

9

1.3.3. Những lý do sử dụng CNTT

9

1.3.4. Những cách thức ứng dụng các phương tiện truyền thông giáo dục mới 11
1.3.5. Vai trò CNTT đối với giáo dục.

12

1.3.6. Mục đích việc sử dụng CNTT vào giảng dạy 13
1.4.

Ứng dụng CNTT trong dạy học hoá học 13

1.4.1. Bài giảng điện tử

13

1.4.2. Website hỗ trợ việc dạy học 20
1.4.3. Các phần mềm hỗ trợ để thiết kế một website dạy học 22
1.5.

Thực trạng việc áp dụng CNTT vào giảng dạy

25


2.2.5 Sử dụng chức năng Master và các công cụ khác của Muse để tạo danh mục và
liên kết cho tất cả các trang website

44

2.2.6 Sử dụng chức năng Master và các công cụ khác của Muse để tạo các thuộc tính
phổ biến chung cho tất cả các trang website

49

2.2.7 Thiết kế trang Trang Chủ 55
2.2.8 Thiết kế trang Bài giảng

60

2.2.9 Thiết kế trang Phương pháp chung

74

2.2.10 Thiết kế trang Bài tập trắc nghiệm77
2.2.11 Thiết kế trang Kiểm tra

80

2.2.12 Thiết kế trang Phim hóa học
2.2.13 Thiết kế trang Tư liệu

84

87

Tiểu kết chương 2 117
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
3.1. Mục đích thực nghiệm

119

3.2. Đối tượng thực nghiệm

119

3.3. Nội dung thực nghiệm

119

3.4. Phương pháp thực nghiệm

119

119

3.4.1. Phân tích định tính 120
3.4.2. Phân tích định lượng120
3.5. Tiến hành thực nghiệm

123

3.6. Kết quả thực nghiệm 125
3.6.1 Kết quả về mặt định lượng 125
3.6.2 Kết quả về mặt định tính


147

Phụ lục 2: Phiếu tham khảo ý kiến 150
Phụ lục 3: Một số grap nội dung 12 về kim loại 154
Phụ lục 4: Một số phương pháp chính giải toán kim loại

160

Phụ lục 5: Một số dạng toán kim loại trong hệ thống các dạng toán kim loại thường gặp
170
Phụ lục 6: Giáo án thực nghiệm

195


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BGĐT

: Bài giảng điện tử

CD

: Compact disk

CNDH

: Công nghệ dạy học

CNGD


: khoa học giáo dục

KHKT

: khoa học kỹ thuật

LLDH

: Lí luận dạy học

PC

: Máy vi tính cá nhân ( Personal Computer)

PPDH

: Phương pháp dạy học

PTDH

: Phương tiện dạy học

SGK

: Sách giáo khoa

SBT

: Sách bài tập



WEBSITE DẠY HỌC HÓA HỌC VÔ CƠ
PHẦN KIẾN THỨC KIM LOẠI 12
• Click chuột 2 lần để mở flie “WEB DẠY HỌC KIM LOẠI 12”
tại ổ CD.
• Vào thư mục “KIMLOẠI” / click chuột trái chọn “index.html”.
Lưu ý:
Khi không xem được chọn vẹn nội dung của website. Hãy cài đặt thêm
Miccosoft Office 2010 và Flash player trên Trang chủ.
Xin cảm ơn.


MỞ ĐẦU
I.

LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Từ những thập niên cuối thế kỷ XX đến nay, nhân loại đã phát minh và chứng

kiến sự tiến triển thần kì của công nghệ thông tin (CNTT). Những thành tựu của CNTT
đã góp phần rất quan trọng cho quá trình hình thành và phát triển nền kinh tế tri thức và
xã hội thông tin mang tính chất toàn cầu.
Công nghệ thông tin cũng thúc đẩy mạnh mẽ cuộc đổi mới trong giáo dục, tạo ra
công nghệ giáo dục (Educational Technology) với nhiều thành tựu rực rỡ: CNTT làm
thay đổi nội dung, hình thức và PPDH một cách phong phú. Những PPDH theo cách
tiếp cận kiến tạo, PPDH theo dự án, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề càng có
nhiều điều kiện để ứng dụng rộng rãi. Các hình thức dạy học như dạy theo lớp, dạy
theo nhóm, dạy cá nhân cũng có những đổi mới trong môi trường công nghệ thông tin.
Mối giao lưu giữa người và máy đã trở thành tương tác hai chiều với các phương tiện
đa truyền thông (multimedia) như âm thanh, hình ảnh, video,.. mà đỉnh cao là elearning (học trực tuyến qua mạng Internet).
Sự ảnh hưởng tích cực to lớn của CNTT đối với giáo dục đã được khẳng định qua

thiết với mục đích ứng dụng CNTT để tạo ra tổ hợp công nghệ dạy học hiện đại góp
phần đổi mới PPDH phần kiến thức kim loại trong chương trình hóa học cơ bản lớp 12
THPT nói riêng và của bộ môn hóa học nói chung.
II.

MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Ứng dụng CNTT để xây dựng website hỗ trợ dạy và học phần kiến thức kim loại

trong chương trình hóa học cơ bản lớp 12 THPT, nhằm nâng cao chất lượng dạy và học
hóa học ở trường THPT.
III. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1.

Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn và vai trò của CNTT đối với quá trình
dạy.

2.

Nghiên cứu thực trạng DH phần kiến thức kim loại lớp 12 ở một số trường
THPT.

3.

Áp dụng CNTT để thiết kế website hỗ trợ việc dạy và học phần kiến thức
kim loại trong chương trình hóa học cơ bản lớp 12 THPT.

4.

Nghiên cứu các hình thức sử dụng Website đã xây dựng được trong việc dạy
và học phần kiến thức kim loại lớp 12 cơ bản THPT.

• Tổng quan những cơ sở lí luận về mô phỏng và ứng dụng CNTT trong dạy học
hoá học.
• Ứng dụng CNTT để xây dựng bài giảng điện tử, hệ thống kiến thức bài tập phần
kim loại 12.
• Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm giúp giáo viên củng cố bài học và tăng
cường sự rèn luyện cho học sinh tự học.
• Xây dựng hệ thống bài kiểm tra trắc nghiệm theo từng chương để đáp ứng nhu
cầu nâng cao kiến thức bộ môn cho học sinh.
• Hướng dẫn GV có thể tự thiết kế trang website nhằm phục vụ giảng dạy bộ môn
hóa học.


Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Xu hướng đổi mới phương pháp dạy học. [15]; [28]; [29].
1.1.1. Những nét đặc trưng cơ bản của việc đổi mới PPDH trên thế giới hiện nay
1.1.1.1. Vai trò của cơ chế thị trường
Do tác động của cơ chế thị trường, vai trò của giáo dục ngày càng được đề cao và
được xem như một động lực trực tiếp nhất để bồi dưỡng nhân lực, thúc đẩy sự phát
triển của nền kinh tế xã hội. Dưới sự tác động đó, nhà trường muốn tồn tại và phát triển
thì phải đổi mới cách dạy học cả về mục tiêu, nội dung và phương pháp, trong đó
phương pháp là yếu tố cuối cùng quyết định chất lượng đào tạo. Để đảm bảo cho sản
phẩm đào tạo được nhanh chóng thích ứng với cơ chế mới, nhà trường phải tạo ra được
những hệ dạy học mềm dẻo, đa năng và hiệu nghiệm, thích hợp với đối tượng học sinh
rất khác nhau về nhu cầu, trình độ và khả năng. Vì thế đã xuất hiện những hệ dạy học
phù hợp với qúa trình đào tạo phân hóa, cá thể hóa cao độ, như những hệ dạy học theo
nguyên lý "tự học có hướng dẫn" (assisted self - learning) đòi hỏi tỷ trọng tự lực cao ở
người học, đồng thời cả sự điều khiển sư phạm thông minh, khéo léo của người thày.
1.1.1.2. Nguyên nhân hình thành các PPDH hiện đại
Các PPDH hiện đại được phát sinh từ những tiếp cận khoa học hiện đại, như tiếp
cận hệ thống (systemic approach), tiếp cận mođun (modunlar approach), phương pháp

Việt Nam hiện nay vẫn là các yếu tố truyền thống .Vì vậy, “hướng tìm tòi của chúng ta
vẫn phải từ trong lĩnh vực các lí thuyết truyền thống về PPDH”. Trong LLDH truyền
thống, những ưu điểm, những yếu tố hợp lý của nó vẫn còn giá trị và mang tính phổ
quát. Tuy nhiên, do vào thời đại phát triển khoa học kĩ thuật và công nghệ, nếu chỉ
bằng lòng như vậy là sẽ bị tụt hậu, là không có khả năng tiếp cận các nhân tố mới đang
vận động và phát triển. Do đó đổi mới ở đây phải bao gồm cả sự lựa chọn những giá trị
(PPDH) truyền thống có tác dụng tích cực vào việc góp phần phát triển chất lượng giáo
dục trong thời đại mới.
Chẳng hạn, “LLDH truyền thống cũng có nêu ra việc đặt vấn đề và giải quyết vấn
đề “tích cực hoá quá trình nhận thức của HS”, nhưng vẫn đặt nó trong khuôn khổ cứng
nhắc của lối truyền thụ một chiều, nặng về vai trò của thày và chưa đánh giá đúng vai
trò hoạt động năng động, sáng tạo, tự thích ứng của HS trong xã hội phát triển. Vì vậy,
đổi mới PPDH phải bổ khuyết mặt yếu kém nói trên, nâng trình độ đa dạng, phức hợp,
toàn diện của hoạt động dạy học theo yêu cầu ngày càng cao của xã hội phát triển”.


1.1.2.2. Tính khả thi và chất lượng mới
Đây là hai yếu tố quan trọng nhằm đáp ứng với điều kiện thực tiễn và yêu cầu
phát triển PPDH. Thông thường, do thời gian và ngại khó, nhà trường chúng ta thường
nghiêng về nguyên tắc khả thi và lệ thuộc quá nhiều vào ý tưởng này. Tâm lý chung
của các giáo viên và cán bộ chỉ đạo là dễ chấp nhận các phương án dễ thực hiện, nhanh
chóng phổ biến mà không chú ý đến hậu quả của nó. “Như thế, khả thi nhưng thấp hơn
trình độ hiện thực thì vô nghĩa, đó là một việc làm thừa và còn tai hại nguy hiểm vì đã
cản trở bước tiến bộ”. Như vậy, trong nghiên cứu, đổi mới và phát triển PPDH, cần đưa
ra những giải pháp khả thi nhưng quan trọng hơn nữa là giải pháp đó phải đưa ra hiệu
quả và chất lượng cao hơn tình trạng hiện thực.
1.1.2.3. Áp dụng những phương tiện kĩ thuật hiện đại để tạo ra các tổ hợp PPDH
mang tính công nghệ [28];[30].
Đây là xu hướng phù hợp với công cuộc xây dựng công nghệ dạy học hiện đại
trên thế giới. Nhiều thành tựu của KHKT và công nghệ được ứng dụng vào KHGD.

1.2.1. Công nghệ giáo dục trong kỉ nguyên thông tin
Công nghệ giáo dục thường được mô tả là một thành phần của giáo dục nhằm giải
quyết các vấn đề có liên quan đến mọi phương diện học tập của con người thông qua
những quá trình phức tạp và tương hỗ. Định nghĩa chính thức được AECT (Hiệp hội
Thông tin và công nghệ giáo dục : Asssociation for Educational Communications and
Technology) thông qua năm 1977 và được tóm tắt như sau:
Công nghệ giáo dục (CNGD) là một qui trình phức tạp, tích hợp bao gồm con
người, thủ tục, ý tưởng, phương tiện và tổ chức để phân tích các vấn đề và đề xuất,
thực hiện, đánh giá và điều hành cách giải quyết các vấn đề gồm mọi phương diện của
sự học.
1.2.2. Công nghệ dạy học
Hiện nay, không còn tranh cãi gì về liệu có nên hay không nên ứng dụng CNGD
mới vào trường học vì ngày càng nhiều nghiên cứu đều khẳng định tiềm năng của công
nghệ đối với những thành quả tốt hơn có thể đạt được của HS. Như vậy, việc dạy học
ngày nay phải trở thành công nghệ mới đáp ứng được xu hướng phát triển của xã hội.
CNDH học được định nghĩa là những lí thuyết và thực hành về thiết kế, phát
triển, ứng dụng, điều hành và lượng giá các quá trình và tài nguyên cho việc học.


Cụm từ “Công nghệ dạy học” trong định nghĩa để chỉ một ngành học tập trung
vào những kĩ thuật hoặc phương án giúp cho việc học tập có hiệu quả hơn dựa trên lí
thuyết theo nghĩa rộng nhất của nó, không chỉ là những lí thuyết khoa học thuần thúy.
1.3. Công nghệ thông tin đối với giáo dục
1.3.1. Công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin (CNTT) là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương
tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ
chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú
và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội. CNTT phục vụ
trực tiếp cho việc cải tiến quản lý Nhà nước, nâng cao hiệu quả của các hoạt động sản
xuất, kinh doanh và các hoạt động kinh tế - xã hội khác, từ đó góp phần nâng cao chất

đơn giản hoá một số công việc, ví dụ như sửa lỗi hay lưu giữ các kết quả của HS hoặc
điều chỉnh mức độ khó của những bài tập.
1.3.3. Những lý do sử dụng CNTT [18]; [25]; [33].
Đưa CNTT vào trong giáo dục không phải là một hình thức đổi mới riêng rẽ mà
chính là một phần trong sự phát triển của xã hội hiện nay. Do vậy, việc ứng dụng CNTT


trong giáo dục luôn được chú trọng. Những lí do cơ bản, phổ biến nhất trong việc ứng
dụng CNTT đó là những lí do mang tính hướng dẫn, tính xã hội, tính kinh tế và tính
xúc tác.
1.3.3.1. CNTT là một công cụ hướng dẫn
CNTT - như một phương tiện trợ giảng - thường được yêu chuộng hơn những
phương tiện trợ giảng khác. CNTT khuyến khích sự tham gia học tập của học sinh và
góp phần nâng cao thành tích học tập. Hơn thế nữa CNTT còn tạo ra một chiều
hướng mới, bổ sung vào quá trình học tập suốt đời: con người có thể tự học với sự
trợ giúp của một chiếc máy vi tính.
1.3.3.2. Lí do mang tính xã hội
Tri thức đã và đang trở thành một cơ sở nền tảng quan trọng nhất trong thế kỷ 21.
Ai có khả năng truy cập kiến thức và thông tin, người đó sẽ trở thành những ‘người
giàu kiểu mới’. Khoảng cách giữa người giàu và người nghèo sẽ càng lớn. Sự loại trừ
xã hội sẽ trở thành một mối đe doạ thực sự. CNTT có thể trở thành một hình thái
mới của sự bất công. Do vậy, cần phải tránh tạo ra một khoảng cách lớn giữa
người biết truy cập những thông tin truyền thông mới và những người không biết
truy cập. Trẻ em cần phải có những cơ hội bình đẳng. Mọi đứa trẻ đều có quyền
được tham gia giáo dục và đều có quyền được truy cập thông tin truyền thông mới,
CNTT. Tuy nhiên, không phải bậc phụ huynh nào cũng có đủ khả năng để mua một
chiếc PC hoặc đầu tư cho con cái những phương tiện truyền thông mới. Phải chăng
trường học là một nơi tốt nhất có thể cung cấp cho tất cả trẻ em những cơ hội bình
đẳng?
1.3.3.3. Lí do mang tính kinh tế

1.3.4.3. CNTT là một người hướng dẫn
Những chương trình mô phỏng, những tài liệu số hoá, các loại bài tập do
chính giáo viên thiết kế trên các chương trình tiện ích và một số lượng lớn những
tiện ích đa dạng của PC trở thành những hệ thống trợ giúp học tập cho người sử
dụng, chính chúng sẽ thay thế một phần nào quá trình hướng dẫn của người thày
giáo.
1.3.4.4. CNTT là một phương tiện mở
Với các bộ chương trình mở, học sinh có thể tạo ra sản phẩm theo ý muốn của
mình như lấy thông tin minh họa cho bài học từ internet, làm thí nghiệm từ phần
mềm Crocodile Chemistry, thiết kế trang website… PC chỉ là một phương tiện
giúp các em HS thực hiện các hoạt động mà không cần có sự gắn kết CNTT.


1.3.4.5. CNTT là phương tiện truyền thông
Với sự phát triển của mạng lưới internet, thông qua máy vi tính HS có thể
giao tiếp với người khác và thu thập nhiều thông tin từ nhiều trang website khác
nhau để học tập và giải trí. Thử thách đặt ra ở đây không chỉ là việc dạy HS tìm
kiếm những chiến lược mà còn dạy việc xử lí những thông tin số đó một cách cẩn
trọng. Việc này đòi hỏi phải có sự phát triển về khả năng nhận định và khả năng
đưa ra những quyết định mang tính chiến lược. Đây là những kĩ năng thuộc tầng
nhận thức cao hơn việc nắm bắt những kĩ năng kĩ thuật.
1.3.5. Vai trò CNTT đối với giáo dục [12] ;[18].
1.3.5.1. CNTT tạo thuận lợi cho quá trình dạy học
CNTT có vai trò thúc đẩy, điều phối tư duy và xây dựng kiến thức, thông qua các
nội dung:
• Công cụ để hỗ trợ việc xây dựng kiến thức:
 Giúp biểu thị các ý tưởng, sự hiểu biết của người học.
 Giúp người học tạo ra những kiến thức có hệ thống và đa môi trường.
• Phương tiện thông tin để khám phá kiến thức nhằm hỗ trợ học tập thông qua việc
xây dựng kiến thức:

Yêu cầu đánh giá này là phức tạp và tốn nhiều thời gian hơn so với các dạng đánh
giá và lượng giá cổ điển truyền thống nhưng sẽ cung cấp một hình ảnh toàn diện và
chính xác hơn về kết quả và hiệu quả giáo dục.
1.3.6. Mục đích việc sử dụng CNTT vào giảng dạy [15]; [25].
• Sử dụng CNTT như công cụ dạy học cần được đặt trong toàn bộ hệ thống các
PTDH nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống đó.
• Phát huy vai trò của người thày trong quá trình sử dụng CNTT như PTDH,
TBDH: Không thủ tiêu vai trò của người thày mà trái lại còn phát huy hiệu quả
hoạt động của thày giáo trong quá trình dạy học có sử dụng CNTT.
• Sử dụng CNTT như PTDH, TBDH, không chỉ nhằm để thí điểm dạy học với
CNTT mà còn góp phần dạy học về CNTT.
• Sử dụng CNTT như PTDH, TBDH không phải chỉ để thực hiện dạy học với
trang thiết bị của CNTT mà còn góp phần thúc đẩy việc đổi mới PPDH ngay
cả trong điều kiện không có máy.
1.4. Ứng dụng CNTT trong dạy học hoá học [12];[16];[28].
1.4.1. Bài giảng điện tử
1.4.1.1. Khái niệm
Theo PGS.TS. Cao Cự Giác [12] Bài giảng điện tử là một hình thức tổ chức bài
lên lớp mà ở đó toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học đều được chương trình hóa do GV
điều khiển thông qua môi trường multimedia do máy tính tạo ra.
Đặc trưng cơ bản nhất của BGĐT là toàn bộ kiến thức của bài học, mọi hoạt động
điều khiển của GV đều được multimedia hóa.
Giáo án điện tử là bản thiết kế cụ thể toàn bộ kế hoạch hoạt động của GV trên giờ
lên lớp, toàn bộ hoạt động dạy và học đó đã được multimedia hóa một cách chi tiết, có
cấu trúc chặt chẽ và logic được qui định bởi cấu trúc của bài học. Giáo án điện tử là


một sản phẩm của hoạt động thiết kế bài dạy học được thể hiện bằng vật chất trước khi
bài dạy học được tiến hành.
Giáo án điện tử chính là bản thiết kế của BGĐT. Chính vì vậy, việc xây dựng

nguyện. Đây là một nghệ thuật sư phạm của GV khi giảng bài và khi thiết kế các slide
trình chiếu.


Để làm được điều đó, người GV phải có một số kinh nghiệm cần thiết cho việc
thiết kế bài giảng, chẳng hạn:
• Thay vì mở đầu bằng lời, ta kèm theo một slide phù hợp với nội dung có thể là
hình ảnh hoặc một đoạn phim ngắn…
• Hãy dành một slide nêu tên bài học (sau mở đầu) cùng các đề mục (dàn bài) và
nên giới thiệu sơ qua phần đó đề cập đến vấn đề gì để HS dễ dàng có một tổng
quan về bài giảng, gây tâm lí chờ đợi những thông tin thú vị phía sau.
• Cần có một slide giới thiệu tài liệu tham khảo (sách, báo, tạp chí, website,…) để
HS khá giỏi nâng cao kiến thức.
• Mỗi nội dung nhỏ (mục) cần có “điểm nhấn” hấp dẫn như một câu chuyện để
chuyển tiếp giữa các mục, hình ảnh hay một đoạn phim để lôi kéo học sinh trở về
bài giảng, đôi khi có HS nào đó bị mất tập trung.
• Hãy giữ liên tục nội dung bài giảng (phần dành cho HS ghi) từ slide này sang
slide khác như một tấm “bảng kéo” nhiều lớp. Muốn vậy, cần phải sử dụng cỡ
chữ, kiểu chữ, màu chữ thống nhất theo từng loại đề mục của bài học; cố gắng
sắp xếp nội dung của một hoặc một số đề mục nằm gọn trong một slide; các nội
dung khác không nhằm cho HS ghi hoặc vẽ theo (như chuyển tiếp giữa các mục,
minh họa hình ảnh, mô phỏng thí nghiệm,…) đều phải dùng các ô cửa sổ (xuất
hiện rồi thoát) hoặc dùng liên kết (Hyper Link trong Insert), sao cho tồn tại từ
slide đầu đến slide cuối vẫn là một nội dung chính của bài.
• Mỗi slide sau cần phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc quay về các slide trước để
nội dung bài được liên tục, muốn vậy cần lập file riêng rồi dùng Hyper Link.
Một nghịch lí về sự “chú ý” là sự lạm dụng màu sắc (colour) hoặc các hiệu ứng
(effect) có thể tập trung được sự chú ý của HS; xong sự chú ý đó lại không hướng vào
nội dung bài học mà là sự tò mò về “sặc sỡ” của màn hình và “nhảy múa” của chữ. Kết
quả thường nhận được là khi kết thúc giờ học thì bài học cũng thăng hoa.

 Cỡ chữ: Cỡ chữ cần phải đảm bảo cho HS ngồi ở cuối lớp đọc được. Thường
dùng cỡ 20 đến 28.
 Số chữ trên một slide: Quá nhiều chữ thì người đọc sẽ ít tập trung hoặc đọc
không hết. Thường trên mỗi slide khoảng từ 10 đến 15 dòng.
 Sử dụng WortArt: Trang trí chữ, làm đẹp. Không nên lạm dụng nhiều.
• Sử dụng các hiệu ứng (effect) trong slide
Đặc sắc của các phần mềm trình chiếu là sự phong phú các hiệu ứng, song việc sử
dụng các effect vừa phải, đảm bảo ở mức đủ sinh động. Các effect vui mắt không đúng
lúc sẽ gây thích thú cho HS với các kĩ thuật mà không chú ý đến nội dung bài học.
• Sử dụng các slide liên kết các hoạt động dạy và minh họa


Đây là ưu thế tuyệt đối của các phần mềm trình chiếu. Nhờ liên kết GV mở rộng
nội dung, cập nhật thông tin, hình ảnh, đoạn phim,…trong khi vẫn để nội dung bài
giảng được phát triển liên tục, HS dễ theo dõi và ghi được bài.
• Đảm bảo tính hệ thống của bài giảng
Đây là yêu cầu quan trọng vừa làm tăng thêm ý nghĩa về tiện lợi của bài giảng
cũng vừa khắc phục những hạn chế trong việc sử dụng các effect.
1.4.1.3. Quy trình thiết kế một giáo án điện tử
Bước 1. Xác định mục tiêu bài học
Mục tiêu là cái đích cần phải đạt tới sau mỗi bài học, do chính GV đề ra để định
hướng hoạt động dạy học.
Mục tiêu giống mục đích ở chỗ đều là cái đề ra nhằm đạt tới, nhưng chúng khác
nhau cơ bản:
• Mục đích (aim) là mục tiêu khái quát, dài hạn. Như, mục đích của chương trình
hóa học phổ thông.
• Mục tiêu (objective) là mục đích ngắn hạn, cụ thể. Như, mục tiêu của bài dạy học.
Như vậy mục đích qui định mục tiêu. Mục đích chung của chương trình qui định
mục tiêu cụ thể của các chương, bài cụ thể ở lớp học.
Mục tiêu là cái đích của bài học cần đạt tới, phải xác định rõ, có thể đo được mức

không chỉ minh họa đơn thuần.
• Tiến hành sưu tầm hoặc xây dựng nguồn tư liệu sẽ sử dụng trong bài học. Đó là
nguồn tư liệu thường được lấy từ một phần mềm dạy học hoặc từ internet,
Encarta…hoặc được xây dựng mới bằng đồ họa, bằng ảnh quét, ảnh chụp…
• Xử lí các tư liệu thu được để nâng cao chất lượng về hình ảnh, âm thanh. Khi sử
dụng cần phải đảm bảo các yêu cầu về mặt nội dung, phương pháp, thẩm mĩ và ý
đồ sư phạm.
Bước 4. Xây dựng các thư viện tư liệu
Các tư liệu cần dùng cho BGĐT phải tiến hành sắp xếp tổ chức lại thành thư viện
tư liệu, tức là tạo được cây thư mục hợp lí. Cây thư mục giúp tìm kiếm thông tin
nhanh, giữ được các liên kết trong bài giảng, sao chép dễ dàng.
Bước 5. Xây dựng tiến trình dạy học thông qua các hoạt động cụ thể
Sau khi đã có thư viện tư liệu, cần lựa chọn ngôn ngữ và các phần mềm trình
chiếu thông dụng để tiến hành xây dựng giáo án điện tử.
Trước hết cần chia các nội dung dạy học trên lớp thành các hoạt động nhận thức
cụ thể. Từ các hoạt động đó mà định ra các slide và nội dung cho các slide. Tùy theo
nội dung cụ thể mà thông tin trên mỗi slide có thể là văn bản, tranh ảnh, âm thanh…



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status