GVHD: TS. Chu Thị Hà Thanh
Khóa luận tốt nghiệp
Trờng đại học vinh
Khoa giáo dục tiểu học
----------o0o----------
Rèn luyện kỹ năng viết chữ
cho học sinh tiểu học
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành: giáo dục tiểu học
Giáo viên hớng dẫn: TS.Chu Thị Hà Thanh
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Lan
Lớp:
46A1_Giáo dục tiểu học
Vinh - 2009
mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Tiểu học là bậc nền tảng của nền giáo dục quốc dân. Dạy Tiếng Việt có
nhiệm vụ rất lớn lao là trao cho các em chìa khoá mở cánh cửa tri thức để các em
biết đọc, biết viết và biết dùng chữ viết khi học tập. Chữ viết là công cụ cho các
em sử dụng suốt đời. Cố thủ tớng Phạm Văn Đồng đã nói : nét chữ, nết ngời,
nhận xét này phần nào nói lên tầm quan trọng của việc rèn luyện chữ viết. Dạy
học sinh viết đúng, viết cẩn thận, viết đẹp là góp phần rèn luyện cho các em tính
SVTH: Nguyễn Thị Lan
việc viết chữ theo lối chữ in viết thờng và viết hoa.
Nhìn chung, các sách dạy vần cuối thế kỉ XIX cho đến những năm 30 của
thế kỉ XX đều coi bộ chữ cái là cơ sở và dạy theo hớng chữ tổng hợp. Các sách
dạy vần theo hớng này do quan tâm nhiều đến việc đánh vần nên không coi trọng
dạy Tập viết.
Muốn dạy vần cần coi trọng việc dạy viết chữ (mã hoá) trong mối quan hệ
với đọc (giải mã).
- Các tác giả Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Bình (1951), Nguyễn Hữu Đang
(1953), Thanh Vân (1951), Phan Khôi (1949), Nguyễn Quang Bình, Trần Ngọc
Chu, Hoàng Đình Tuất (1950), Nguyễn Giang (1951), Nguyễn Văn Triệu, Nguyễn
Thợng Luyến (1969, 1973), Nam Hùng, Trần Văn Hơn (1972) (theo t liệu vấn
đề dạy viết trong các hệ thống dạy học vần Chữ viết và dạy chữ viết ở tiểu
học của Lê A) [1] coi trọng vấn đề dạy chữ theo nhóm chữ có nét giống nhau và
dạy theo trật tự từ dễ đến khó.
Trong đó tác giả Nguyễn Văn Triệu, Nguyễn Thợng Luyến đã coi Tập viết là
một phân môn bên cạnh và theo sát sách Học vần. Trong các vở Tập viết thời kì
SVTH: Nguyễn Thị Lan
Lớp 46A_ GDTH
GVHD: TS. Chu Thị Hà Thanh
Khóa luận tốt nghiệp
này các tác giả đã bớc đầu đa ra các phơng pháp tập viết với hai kiểu chữ : chữ
viết đứng và chữ viết nghiêng trong lối chữ viết thờng, chữ nét thanh, nét đậm, cỡ
chữ to và vừa để học sinh luyện viết. Vở Tập viết cũng có cấu tạo giống sách Vỡ
lòng dạy xen kẽ nguyên âm với phụ âm, dạy vần xen với các từ mang vần trong
đó (eo mèo, êu kêu). Điều này chứng tỏ các nhà soạn sách đã có ý thức gắn
song cha chỉ ra đợc quy trình viết chữ cụ thể khi dạy các chữ viết tiếng Việt, cha
vạch ra đợc những sai lầm khi viết để từ đó tìm cách khắc phục.
SVTH: Nguyễn Thị Lan
Lớp 46A_ GDTH
GVHD: TS. Chu Thị Hà Thanh
Khóa luận tốt nghiệp
* Trần Mạnh Hởng (chủ biên) Dạy và học tập viết ở tiểu học [3] đã
phân tích rõ hơn về đặc điểm, cấu tạo, cách viết tơng ứng của từng con chữ tiếng
Việt, song cha đa ra những cơ sở lý luận nhằm dẫn dắt, thuyết phục ngời đọc, cha
chỉ đợc lỗi khi viết.
* Dạy tập viết ở tiểu học (2002) của tác giả Lê A - Trịnh Đức Minh [2]
đa ra một số cơ sở, nguyên tắc, phơng pháp cũng nh phân tích đợc cấu tạo, chỉ ra
cách viết, cách liên kết các con chữ. Tuy vậy, vẫn cha chỉ đợc lỗi khi viết các con
chữ để ngời viết nhận ra và dễ dàng sửa lỗi.
* Phơng pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học_ tài liệu đào tạo giáo viên
của Dự án phát triển giáo viên tiểu học cũng dành một chủ đề (chủ đề 3_ Đặng
Kim Nga viết) [5] để bàn về phơng pháp dạy Tập viết nhng vẫn cha phân tích chỉ
rõ những sai sót khi viết của học sinh.
Hiện nay có rất nhiều trung tâm luyện chữ cho học sinh trong đó nổi lên có
cô Đặng Mai Đông với giáo trình luyện chữ [15] đã đợc bộ văn hóa cấp bản
quyền. Giáo trình của cô cung cấp những mẫu chữ để học sinh noi theo, chỉ ra
những lỗi mà học sinh có thể mắc phải giúp học sinh nhận ra và từ đó dễ dàng sửa
lỗi. Tuy nhiên giáo trình này còn thiên về kinh nghiệm bản thân, cha chỉ ra các cơ
sở, các nguyên tắc khoa học.
Tất cả những tài liệu kể trên đều cha đa ra đợc quy trình rèn luyện kĩ năng
Khóa luận tốt nghiệp
em, cũng nh trong quá trình dạy cho giáo viên, từ đó nâng cao hiệu quả dạy học
Tập viết ở tiểu học.
7. Phơng pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài này chúng tôi sử dụng các phơng pháp
7.1. Nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu tài liệu liên quan đến đề tài.
7.2. Nghiên cứu thực tiễn
- Phơng pháp quan sát, tổng hợp rút kinh nghiệm.
- Phơng pháp thực nghiệm s phạm.
- Phơng pháp đàm thoại.
- Phơng pháp Anket (trắc nghiệm điều tra) với mục đích thu thập thông tin
về thực trạng rèn luyện kĩ năng viết chữ của học sinh tiểu học. Để từ đó làm cơ sở
cho việc đánh giá, xác lập cách thức và quy trình rèn luyện kĩ năng viết chữ cho
học sinh tiểu học.
- Phơng pháp thống kê toán học để chứng minh độ tin cậy của kết quả
nghiên cứu.
8. Cấu trúc đề tài
Đề tài gồm 3 phần :
A. Mở đầu
B. Nội dung
Chơng 1 : Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chơng 2 : Phơng pháp rèn luyện kĩ năng viết chữ.
Chơng 3 :Thực nghiệm s phạm
C. Kết luận
D. Tài liệu tham khảo
E. Phụ lục
tiến hành.
b. Kĩ năng viết chữ
Chữ viết là một hệ thống kí hiệu ngôn ngữ bằng đồ hình đợc quy định
thống nhất ở từng quốc gia hoặc từng dân tộc. Để viết đợc chữ ngời viết phải nắm
đợc mẫu chữ, nắm đợc các thao tác viết, các loại nét chữ, nắm đợc quy định về
cách ngồi viết, cách cầm bút, cách liên kết chữ
Sử dụng những tri thức về chữ viết cùng với sự sáng tạo trong nhận thức để
viết chữ, thực hiện nhiệm vụ học tập gọi là kĩ năng viết chữ.
Kĩ năng viết chữ là kĩ năng thiên về mặt kĩ thuật, đòi hỏi sự khéo léo, kiên
trì tập luyện. ở tiểu học, kĩ năng này đợc thực hành từ bài học âm đầu tiên, kéo
dài suốt đến hết bậc học.
Đó chính là cơ sở để tiến đến kĩ năng viết cao hơn, kĩ năng viết văn bản.
c. Rèn luyện kĩ năng và rèn luyện kĩ năng viết chữ
c.1. Rèn luyện kĩ năng
Rèn luyện kĩ năng là một quá trình luyện tập một cách có hệ thống, với
nhiều hình thức khác nhau, từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ những tình
huống quen thuộc sang tình huống mới,....
ở đây chúng tôi nói đến việc rèn luyện kĩ năng học tập. Các nhà tâm lí học
chia kĩ năng học tập đợc chia thành 2 loại : kĩ năng học tập chung và kĩ năng học
tập chuyên biệt. Các kĩ năng học tập chung là các kĩ năng có ở nhiều môn học,
các kĩ năng học tập chuyên biệt là các kĩ năng chỉ có ở một môn học. Song một kĩ
năng học tập chung thờng đợc hình thành trong một môn học, sau đó đợc vận
dụng để học các môn học khác, để tự học và để phục vụ cho hoạt động thực tiễn
của ngời học. Theo sự lý giải trên thì viết là một kĩ năng học tập chung đợc hình
SVTH: Nguyễn Thị Lan
Lớp 46A_ GDTH
GVHD: TS. Chu Thị Hà Thanh
Lí thuyết hoạt động
Để viết đợc chữ, học sinh phải hoạt động (phải tiêu hao năng lợng của thần
kinh và bắp thịt). Hoạt động viết của học sinh đợc thực hiện qua thao tác sau:
- Làm quen với đối tợng : Khi giáo viên hớng dẫn thì trẻ sẽ tri giác bằng
mắt, tai và tay sẽ làm theo.
- Nói điều tri giác đợc, vừa nói vừa đa tay theo các đờng nét của chữ cái để
nhấn mạnh cách viết đồng thời nhận ra tên gọi, hình dáng chữ đó.
- Nói thầm kiến thức mới thu đợc để tái hiện hình ảnh đó trong óc trớc khi
viết.
- Làm thử : hình ảnh đã có trong óc cần đợc thể hiện trên bảng, trên giấy
bằng các dụng cụ nh bút, bảng, phấn, bút mực.
- Kiểm tra lại kết quả so với mẫu để rút ra kinh nghiệm cho lần sau.
SVTH: Nguyễn Thị Lan
Lớp 46A_ GDTH
GVHD: TS. Chu Thị Hà Thanh
Khóa luận tốt nghiệp
b.
Đặc điểm đôi tay trẻ khi viết
Tay trực tiếp điều khiển quá trình viết của trẻ. Các cơ và xơng bàn tay của
trẻ đang độ phát triển, nhiều chỗ còn sụn nên cử động của các ngón tay vụng về,
chóng mệt mỏi.
Khi cầm bút các em có tâm lý sợ rơi. Điều này gây nên một phản ứng tự
nhiên là các em cầm bút chặt, các cơ tay cứng nên khó di chuyển.
Muốn có thói quen viết chữ nhẹ nhàng thoải mái, trớc hết học sinh phải biết
1.1.3. Cơ sở ngôn ngữ
a. Chữ viết là một phơng tiện - chất liệu biểu thị ngôn ngữ
SVTH: Nguyễn Thị Lan
Lớp 46A_ GDTH
GVHD: TS. Chu Thị Hà Thanh
Khóa luận tốt nghiệp
Trớc khi có chữ viết, ngôn ngữ đợc biểu thị bằng chất liệu âm thanh. Chữ
viết ra đời, ngôn ngữ có thêm một hình thức thể hiện bằng đờng nét - ngôn ngữ
viết.
Trớc hết, chúng ta hãy xem xét đặc điểm chữ viết tiếng Việt :
- Thứ nhất : chữ viết tiếng Việt là chữ ghi âm.
Để ghi âm tiếng Việt, chữ quốc ngữ đã sử dụng 29 chữ cái (gồm 26 chữ cái
Latinh bớt đi 4 chữ cái : J, W, Z, F cộng thêm 7 chữ cái : ă, â, , đ, ê, ơ, ô) cùng với
10 tổ hợp chữ cái ghi phụ âm (ch, gh, ng, ngh, gi, kh, nh, ph, tr, th) và 5 dấu thanh
(huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng) để ghi thanh điệu.
Các con chữ trong bảng chữ cái tiếng Việt đợc sắp xếp theo một thứ tự cố
định (theo thứ tự bảng chữ cái latinh). Chúng ta có thể tìm thấy bảng 29 chữ cái
tiếng Việt trong SGK Tiếng Việt lớp 1 (trang 58, tập 1). Chúng ta cũng có thể tập
hợp các bài tập chính tả viết vào vở những chữ cái còn thiếu (Tiếng Việt 2, tập
1) để có đợc một bảng chữ cái và tổ hợp chữ cái bao gồm 39 kí tự (29 chữ cái và
10 tổ hợp chữ cái) đợc sắp xếp theo một trật tự đã quy định.
Mỗi âm vị tiếng Việt đợc ghi bằng một con chữ nh âm | n | đợc ghi bằng
con chữ n; âm | l | đợc ghi bằng con chữ l Điều đó tạo thuận lợi lớn cho chữ viết
tiếng Việt : đọc thống nhất với viết, đọc thế nào viết nh thế ấy.
Tuy nhiên, chữ ghi âm vị tiếng Việt vẫn còn một số bất cập nh : một âm ghi
các nét phối hợp phức tạp khác. Các động tác chuyển động bàn tay viết phù hợp
với trình tự thể hiện các nét chữ, trình tự liên kết các nét chữ, nghĩa là có giai
đoạn bắt đầu, kéo dài và kết thúc một chữ cái hoặc một sự liên kết các chữ cái. Do
đó, dạy viết chữ cho học sinh phải dạy kết hợp quy trình thể hiện các nét chữ với
quá trình chuyển động của bàn tay viết.
Tất cả những điều nêu trên là cơ sở để tiến hành hai bớc cơ bản trong quy
trình dạy viết chữ cho học sinh lớp 1 là :
Bớc 1 : Phân tích, ghép các nét thành chữ cái .
Bớc 2 : Rèn kĩ năng liên kết các chữ cái thành chữ ghi âm tiết.
b. Cơ chế của việc viết
Trong giao tiếp bằng ngôn ngữ, ngời phát thờng nảy ra một ý, rồi dùng
ngôn ngữ để lồng ý đó và phát ra thành lời. Khi tiếp nhận lời nói, ngời nhận lại rút
ra ý ở trong từ, trong câu nghe đợc các ý của ngời nói để biết ngời ta nói gì. Để
chuyển ý thành lời, ngời ta sử dụng một mã chung của xã hội đó là ngôn ngữ (các
từ và các quy tắc ghép từ thành câu), lựa chọn sắp xếp các ý đó thành lời cụ thể.
Công việc vận dụng mã để lồng ý mà tạo nên lời nh thế gọi là mã hóa. Ngợc lại,
khi chuyển lời thành ý từ những từ, những câu nghe đợc, ngời ta phải rút ra nội
dung chứa đựng bên trong lời nói. Công việc đó gọi là giải mã.
Ngôn ngữ âm thanh là một loại biểu hiện dới dạng một hệ thống tín hiệu.
Khi chuyển ngôn ngữ âm thanh thành ngôn ngữ viết thì chữ viết lại thay thế ngôn
ngữ âm thanh làm thành những tín hiệu của tín hiệu. Có thể nói chữ viết là mã của
mã. Nếu ngôn ngữ âm thanh là mã bậc 1 thì chữ viết là mã bậc 2. Khi viết thực
chất đã chuyển đổi mã 1 sang mã 2.
Từ việc xác định quan hệ thứ bậc giữa ngôn ngữ âm thanh và ngôn ngữ viết
cũng nh bản chất của giao tiếp bằng ngôn ngữ, có thể hình dung quá trình diễn ra
nh sau : ý. mã hóa 1 lời nói..mã hóa 2. văn bản viết.
Trong khi đề cao mục tiêu là trang bị cho học sinh bộ mã mới (chữ viết) và
kĩ năng vận dụng bộ mã đó thì cũng phải quan tâm đến việc hiểu ý nghĩa (nh quan
hệ âm - chữ nghĩa). Chữ viết có tính chất là mã của mã, là kí hiệu ghi lại ngôn
ngữ âm thanh nên không thể tách rời việc dạy viết chữ với việc đọc.
Để giải quyết những khó khăn trên và nâng cao hiệu quả dạy viết cần coi
trọng việc vận dụng các thao tác tháo ra, gộp lại, đối lập, so sánh, thay thế trong
quá trình dạy viết.
Những t tởng trên đây của Usinxki là những gợi ý quan trọng cho quá trình
xây dựng quy trình và hệ thống bài tập dạy viết chữ cho học sinh tiểu học.
c. Đơn vị cơ bản để dạy viết chữ
c.1. Chữ ghi âm tiết với t cách là đơn vị dạy viết chữ
Có rất nhiều giải pháp khác nhau về việc lựa chọn đơn vị cơ bản trong việc
dạy viết chữ, có thể kể ra những giải pháp truyền thống nh : Giải pháp từ trên
xuống (xuất phát từ đơn vị lớn nhất đến đơn vị nhỏ nhất : từ câu -> từ -> âm tiết
-> âm vị); giải pháp từ dới lên (bắt đầu từ đơn vị nhỏ nhất đến đơn vị lớn hơn : từ
âm vị -> âm tiết -> từ -> câu); giải pháp chiết trung (xuất phát từ từ, tách từ ra
tiếng rồi ra âm, vần và chữ ghi âm, ghi vần).
ở luận văn này chúng ta sẽ đi theo hớng coi chữ cái ghi âm tiết là đơn vị
dạy viết chữ.
c.1.1. Cơ sở lí thuyết và thực tiễn của việc lấy chữ ghi âm tiết làm đơn
vị dạy viết
Dạy viết bất cứ một thứ văn tự nào cũng phải dựa trên đặc điểm của thứ văn
tự ấy, đặc điểm ngôn ngữ mà văn tự đó phản ánh. Trong việc dạy viết cho ngời
Việt phải dựa trên đặc trng loại hình đơn lập của tiếng Việt. Trong đó tính âm tiết
là một thuộc tính quan trọng của loại hình này. Tính âm tiết của tiếng Việt biểu
hiện ở những mặt sau:
SVTH: Nguyễn Thị Lan
Lớp 46A_ GDTH
GVHD: TS. Chu Thị Hà Thanh
Khóa luận tốt nghiệp
Cấu trúc chữ viết
Sự tơng ứng âm - chữ trong thành phần cấu tạo và thể hiện cấu trúc âm tiết
tạo thuận lợi cho việc dạy học tiếng Việt nói chung, đặc biệt là dạy viết ở tiểu
học. Cấu trúc chữ ghi âm tiếng Việt chứa đựng tất cả các chữ latinh ghi âm vị
tiếng Việt, không có chữ cái nào vô can với chức năng biểu âm (không có chữ cái
câm trong chữ ghi âm tiết nh ở ngôn ngữ ấn - âu). Vì vậy, mối quan hệ âm - chữ
trong tiếng Việt không phản ánh ở tên gọi bảng chữ cái mà phản ánh ở chức năng
biểu âm của chúng. Gọi chữ cái theo âm mà nó biểu hiện trên thực tế phù hợp với
việc ghép các âm vị thành âm tiết, ghép các chữ cái ghi âm vị thành các chữ cái
ghi âm tiết.
SVTH: Nguyễn Thị Lan
Lớp 46A_ GDTH
GVHD: TS. Chu Thị Hà Thanh
Khóa luận tốt nghiệp
Việc lấy chữ ghi âm tiết làm đơn vị cơ bản để dạy viết chữ còn tạo điều
kiện để rèn luyện kĩ năng viết chữ đúng kiểu dáng chữ và liên kết các chữ cái. Có
thể nói việc dạy viết đúng, viết nhanh đợc chữ ghi âm tiếng Việt là dạy viết đợc
chữ Việt.
c.2. Chữ viết tay là cơ sở dạy viết chữ ghi âm tiết
Cơ sở dạy viết chữ ghi âm tiếng Việt là kiểu chữ viết tay, không phải chữ
in. Trong quá trình phát triển của chữ viết, chữ in ra đời sau chữ viết tay. Do yêu
cầu về kĩ thuật in (việc đúc chữ, sắp xếp, in chữ) ngời ta tách rời các chữ cái trong
âm tiết và từ. Các chữ in đợc xếp cạnh nhau và biểu thị tính liên kết bằng khoảng
GVHD: TS. Chu Thị Hà Thanh
Khóa luận tốt nghiệp
này mới chỉ thực hiện một cách qua loa, đại khai, ép buộc nên luyện chữ mới chỉ
dừng lại ở mức thầy viết mẫu trò viết theo.
Để tìm hiểu thực trạng nhận thức của giáo viên về vấn đề này chúng tôi đã
thực hiện bằng việc điều tra thông qua Phiếu xin ý kiến đánh giá của các thầy
cô ở các trờng : Tiểu học Lê Lợi, Tiểu học Lê Mao, Tiểu học Hà Huy Tập, Tiểu
học Hng Dũng I Thành phố Vinh Nghệ An và các trờng : Tiểu học Thiệu
Ngọc, Tiểu học Thiệu Đô - Huyện Thiệu Hóa Tỉnh Thanh Hóa.
Kết quả điều tra cho thấy những vấn đề sau :
- 100% giáo viên quan niệm vấn đề rèn luyện kĩ năng viết chữ cho học sinh
tiểu học là rất cần thiết. Viết đúng, viết đẹp mà vẫn đảm bảo tốc độ giúp học sinh
nâng cao kết quả học tập ở các môn học, lu trữ đợc kiến thức để khi cần dễ tái
hiện lại.
ý thức đợc tầm quan trọng của vấn đề này đã có 97,5% giáo viên thờng
xuyên rèn luyện kĩ năng viết chữ cho học sinh của mình ở tất cả các phân môn
của môn Tiếng Việt cũng nh tât cả các môn học khác. Tuy vậy vẫn còn 2,5% giáo
viên thỉnh thoảng mới rèn luyện kĩ năng viết chữ cho học sinh của mình.
- Đánh giá về thuận lợi, khó khăn của kiểu chữ hiện nay so với những kiểu
chữ trớc đây 100% giáo viên đều cho rằng kiểu chữ hiện nay có nhiều thuận lợi
hơn cho việc rèn luyện kĩ năng viết của học sinh.
Nhng khi đánh giá về chữ viết của học sinh hiện nay so với trớc đây thì
80% giáo viên cho rằng chữ viết của học sinh hiện nay xấu hơn chữ viết của học
sinh trớc đây, chỉ có 20% giáo viên cho rằng chữ viết của học sinh hiện nay đẹp
hơn chữ viết của học sinh trớc đây.
Và khi đánh giá về thời lợng dành cho việc rèn kĩ năng viết chữ ở trờng tiểu
SVTH: Nguyễn Thị Lan
Lớp 46A_ GDTH
GVHD: TS. Chu Thị Hà Thanh
Khóa luận tốt nghiệp
Bảng 2 : Khó khăn khi luyện chữ
TT
Khó khăn
Số phiếu
Tỉ lệ (%)
1
Chữ viết của giáo viên cha chuẩn
0
0
2
Học sinh ham chơi, cha chú ý, cha ý thức đợc
vai trò của việc luyện chữ
Tỉ lệ (%)
1
Viết thiếu nét
19
23,75
2
Viết không đúng quy trình
50
62,5
3
Viết không đúng kích cỡ, cự li; không thẳng
hàng; không đều
31
38,75
4
Tất cả các lỗi trên
Tỉ lệ (%)
1
Cá nhân
35
43,75
2
Nhóm
0
0
3
Cả lớp
15
18,75
4
Tất cả các hình thức trên
SVTH: Nguyễn Thị Lan
Lớp 46A_ GDTH
GVHD: TS. Chu Thị Hà Thanh
Khóa luận tốt nghiệp
(19,25%). Một số ít học sinh biết tận dụng thời gian ở lớp lúc ra chơi để luyện
chữ (8%). 2% học sinh khi có hứng thú mới luyện chữ.
- 47,25% học sinh sẵn sàng học theo chữ của bất kì ai miễn là chữ viết đó
đẹp. Tuy nhiên, với trẻ thầy cô vẫn là hình tợng, vẫn là tấm gơng sáng vì vậy có
đến 81,25% học sinh thích bắt chớc chữ của giáo viên, chỉ có 4% học sinh thích
bắt chớc chữ của ngời thân. Sách vở cũng là nơi cung cấp mẫu chữ chuẩn, đáng
tin cậy cho học sinh nên 27,25% học sinh thích viết theo các chữ mẫu này.
- Mục đích rèn luyện kĩ năng viết chữ cho học sinh chủ yếu là để dạt đợc
điểm tốt (54,75%), đợc khen (36,75%). Chỉ có 8,5% học sinh rèn luyện để chữ
viết của mình đẹp hơn.
Qua điều tra chúng tôi còn có một số bảng sau :
Bảng 1 : Hình thức rèn luyện kĩ năng viết chữ
TT
Hình thức
Số phiếu
Tỉ lệ (%)
47,25
Khi luyện viết học sinh đều biết nhìn lại bài viết của mình để sửa lại cho
đẹp (32,75%), biết tìm những từ khó để luyện viết (20%) hoặc viết đi viết lại một
bài nhiều lần (9,25%). Nhng hình thức mà học sinh chọn nhiều nhất là phối hợp
tất cả các cách trên (47,25%).
Bảng 2 : Khó khăn khi luyện viết chữ
TT
Khó khăn
Số phiếu
Tỉ lệ (%)
1
Do bút viết
189
47,25
2
Không có ngời hớng dẫn
235
phải tất cả những khó khăn trên.
Chúng tôi thấy, nhìn chung học sinh thờng gặp khó khăn khi viết các chữ
hoa, các chữ viết thờng có nét thắt, nét móc, nét khuyết và đôi khi cả nét thẳng.
Rất ít học sinh cảm thấy không có khó khăn gì khi viết (2,5%).
Bảng 3 : Tự đánh giá về chữ viết của mình so với chữ mẫu
TT Chữ viết so với chữ mẫu Số phiếu Tỉ lệ (%)
1
Thấp hơn
80
20
2
Nhỏ hơn
109
27,25
3
To hơn
64
16
4
Cao hơn
29
7,25
5
Không đều
235
58,75
6
Bằng nhau
34
8,5
Khãa luËn tèt nghiÖp
Líp 46A_ GDTH
GVHD: TS. Chu ThÞ Hµ Thanh
SVTH: NguyÔn ThÞ Lan
Khãa luËn tèt nghiÖp
Líp 46A_ GDTH
GVHD: TS. Chu ThÞ Hµ Thanh
SVTH: NguyÔn ThÞ Lan
Khãa luËn tèt nghiÖp
Líp 46A_ GDTH
GVHD: TS. Chu ThÞ Hµ Thanh
SVTH: NguyÔn ThÞ Lan
Khãa luËn tèt nghiÖp