XÂY DỰNG MỘT SỐ DẠNG BÀI TẬP THEO ĐỊNH HƯỚNG
NĂNG LỰC ĐỂ RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LÀM VĂN CHO
HỌC SINH LỚP 10
LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
I.
Hiện nay, việc dạy học ở chương trình giáo dục phổ thông của nước ta đang
chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của
người học. Từ định hướng đó, việc kiểm tra đánh giá có sự thay đổi. Bài kiểm tra
phải đánh giá được năng lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề của học
sinh(HS). Dạy học theo định hướng năng lực yêu cầu người giáo viên(GV) phải
chú trọng việc đánh giá thường xuyên trong quá trình dạy và học.
Kiến thức và kĩ năng là cơ sở cần thiết để hình thành năng lực. Trong môn Ngữ
Văn, việc đánh giá cần hướng tới là năng lực phân tích, bình giá và cảm thụ văn
học nghệ thuật một cách chủ động. Điều này được thể hiện chủ yếu qua việc tạo
lập các văn bản. Trong các phân môn của bộ môn Ngữ Văn, làm văn được xem là
phân môn tổng hợp vì “học sinh bao giờ cũng phải cùng một lúc huy động hàng
loạt kiến thức được trang bị của mình về ngôn ngữ (bao gồm tất cả các năng lực
sử dụng tất cả các đơn vị ngôn ngữ và các quan hệ ngữ pháp), về tư duy (bao gồm
tất cả các khả năng: phân tích, tổng hợp, khái quát, phán đoán, suy luận…) và cả
về quan điểm lập trường của các quá trình nhận thức và đánh giá.” (Trần Thanh
Bình). Là một phân môn thực hành sáng tạo nên học sinh phải biết vận dụng kiến
thức trong chương trình học, kiến thức thực tế và kĩ năng vận dụng ngôn ngữ để
làm bài. Bài làm văn là sản phẩm cuối cùng đánh giá năng lực tổng hợp của học
sinh.
Kiến thức làm văn ở trường phổ thông không phải hoàn toàn mới mà là sự lặp
lại và nâng cao kiến thức ở bậc cơ sở vì thế chương trình làm văn ở THPT chú ý
đến khâu thực hành luyện tập. Tuy nhiên, bài tập trong sách giáo khoa còn ít nếu
giáo viên chỉ dừng lại giảng dạy các bài tập trong sách giáo khoa thì chưa đủ. Giáo
viên là người nắm bắt năng lực và định hướng năng lực cho HS vì thế GV không
theo trình tự bài học: bài viết số 1 kiểm tra kiến thức văn biểu cảm về một hiện
tượng đời sống, bài viết số 2, 3 là văn tự sự, không định hướng bài kiểm tra cuối
học kì I, bài viết số 5 làm văn thuyết minh, bài viết số 5, và bài thi học kì II làm
2
văn Nghị luận. Tuy nhiên, thực tế giảng dạy theo định hướng phát triển năng lực
hiện nay thì lại không nhất thiết giáo viên phải đảm bảo kiến thức đánh giá học
sinh theo trình tự như trên. Chẳng hạn, khi học phần truyện dân gian, không nhất
thiết người thầy chỉ ra dạng đề văn tự sự. Tài liệu tập huấn Dạy học kiểm tra, đánh
giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực của học sinh năm 2014
có gợi ý ra đề kiểm tra năng lực vận dụng cao của học sinh khi học xong truyện cổ
tích Tấm Cám như sau:
* Theo hình thức văn tự sự:
Đề 1: Đóng vai nhân vật Tấm (Cám) kể lại truyện cổ tích Tấm Cám.
Đề 2: Nếu được phép thay đổi kết thúc truyện, anh/ chị sẽ kết thúc truyện
như thế nào?
* Theo hình thức văn nghị luận:
Đề 1: Trả lời con gái, Mark khẳng định: “Hạnh phúc là đấu tranh”. Câu trả
lời ấy khiến anh/ chị nghĩ gì về cuộc đấu tranh không khoan nhượng để giành hạnh
phúc của nhân vật Tấm trong truyện Tấm Cám.
Đề 2: Sách giáo khoa Ngữ Văn 10, tập 1 nhận định về truyện “Tấm Cám”:
“Đặc sắc nghệ thuật của truyện là khắc họa được hình tượng Tấm có sự phát triển
về tính cách (từ yếu đuối thụ động đến kiên quyết đấu tranh giành lại cuộc sống và
hạnh phúc)”. Anh chị hiểu như thế nào về nhận định trên? Phân tích tác phẩm để
làm rõ.(bài tập vận dụng trong bài Ôn tập văn học dân gian Việt Nam).
Như vậy, dạy học theo định hướng kĩ năng đòi hỏi khâu đánh giá phải
hướng đến đánh giá năng lực của học sinh ở tất cả các kĩ năng: từ đọc hiểu đến
năng lực thu thập thông tin liên quan đến văn bản, cuối cùng là năng lực cảm thụ,
giải quyết các vấn đề được đặt ra trong văn bản. HS không nhất thiết học kiểu làm
văn đó đã được giáo viên gợi ý hay chưa. Thực tế dạy học ở đơn vị, tôi nhận thấy
vẫn còn giáo viên dạy chưa chú ý nhiều đến tiết làm văn, chỉ giảng dạy theo gợi ý
bài học sách giáo khoa, chưa chú ý đến tiết trả bài tập (chỉ trả bài qua loa, đại khái
mà không chú ý đến thực hành sửa lỗi trong bài viết), chủ yếu dành thời gian nhiều
cho phần dạy tác phẩm văn chương để đảm bảo kiến thức giáo khoa cho học sinh.
Vì thế, nhiều học sinh khi bước lên lớp 11, 12 mà vẫn không ý thức được phải
trình bày một bài văn như thế nào.
4
Thực tế giảng dạy tại trường, tôi nhận thấy dù bài làm văn trong SGK có bài
tập để học sinh thực hành nhưng sai sót của HS trong bài làm văn của mình vẫn
nhiều vô kể. Những lỗi sai sót của học sinh thường gặp là:
Thứ nhất là sai sót ở khâu tìm hiểu đề. Tìm hiểu đề sai sẽ dẫn đến bài viết
lạc đề hoặc không xác định đúng trọng tâm của đề. Vẫn có nhiều HS không ý thức
việc tìm hiểu đề là quan trọng nên bỏ qua khâu này. Vì vậy khi làm bài các em
thường sa vào lối viết lam man, tùy tiện. Không tìm hiểu đề thấu đáo, HS dễ mắc
các lỗi: trình bày sai về nội dung, không đúng kiểu làm văn, hoặc dẫn chứng không
phù hợp với yêu cầu của đề.
Thứ hai là sai sót ở khâu lập dàn ý. Dàn ý là khâu lựa chọn và sắp xếp các
ý một cách hợp lí để phục vụ cho việc làm sáng tỏ luận đề. Lập dàn ý giúp học sinh
không bỏ sót ý, không lặp ý và tránh được tình trạng “đầu voi đuôi chuột” khi triển
khai ý. Việc lập dàn ý đảm bảo tính hệ thống, tạo nên sự liên kết thống nhất của bài
văn. Mặc dù bài tập làm văn trong sách giáo khoa dạng bài tập tìm ý và lập dàn ý
nhưng số lượng bài tập và sự phong phú của các các dạng bài tập lập dàn ý còn hạn
chế. Đa số học sinh khi viết văn thường có thói quen nghĩ đến đâu viết đến đó nên
các em thường sa vào các lỗi như lặp ý hoặc thiếu ý, ý chồng chéo, ý không đúng
trọng tâm.
Thứ ba là HS rơi vào lỗi hành văn - sai sót ở khâu diễn đạt và liên kết ý.
Trong đoạn văn của HS “Sách là một vật không thể thiếu trong tuổi học trò. Sách
3.1. Xây dựng một số dạng bài tập sửa lỗi và rèn luyện kĩ năng làm văn cho
học sinh lớp 10
3.1.1. Dạng bài tập phân tích đề
Để rèn luyện kĩ năng tìm hiểu đề, với một văn bản văn chương, GV có thể ra
nhiều dạng đề khác nhau (tự sự, thuyết minh, hoặc nghị luận). Đặc biệt, đề văn
nghị luận lại rất đa dạng. Do đó, GV phải cung cấp cho học sinh nhiều dạng đề và
luyện tập khâu tìm hiểu đề càng nhiều càng tốt.
Khi tìm hiểu một đề văn, GV cần yêu cầu HS làm rõ ba yêu cầu của một đề
văn trong nhà trường: yêu cầu về nội dung; yêu cầu về hình thức và yêu cầu về
phạm vi tư liệu.
Một số kiểu bài tập đề xuất cho dạng bài tập phân tích đề như sau:
6
* Kiểu 1: Cho đề bài và yêu cầu học sinh tìm hiểu và phân tích đề theo ba
yêu cầu của việc tìm hiểu đề.
Sách giáo khoa Ngữ Văn 10 không có bài tập cho khâu tìm hiểu đề. HS
không được thực hành dạng bài tập này trong chương trình chính khóa vì thế GV
phải linh hoạt trong quá trình giảng dạy giúp HS ý thức được bước đầu tiên khi bắt
đầu làm một bài văn. GV yêu cầu học sinh tìm hiểu đề theo trình tự: xác định yêu
cầu về nội dung, hình thức và phạm vi tư liệu. Chẳng hạn, GV cho bài tập:
Tìm hiểu và phân tích một số đề văn sau:
“Đề 1: Nhập vai nhân vật Tấm, anh/ chị hãy kể lại truyện cổ tích Tấm Cám.
Đề 2: Cảnh ngày hè thể hiện vẻ đẹp “tâm hồn Nguyễn Trãi chan chứa tình
yêu thiên nhiên, yêu đời, yêu nhân đân, đất nước”(SGK Ngữ Văn 10, trang 119).
Anh/ chị hãy chứng minh nhận định trên.
Đề 3: Giới thiệu về tác hại của rượu đối với đời sống con người.
Hãy:
- Xác định luận đề của từng đề.
- Xác định kiểu làm văn của các đề bài trên.
trang. Nhiều trang như vậy giúp cho người đọc say mê khi đọc sách. Sách có rất
nhiều loại như sách giải bài tập cho học sinh, sách giáo khoa, sách truyện và sách
học làm người, và cả những sách khoa học về các lĩnh vực.
Sách giúp ích cho chúng ta, giúp cho ta biết về lịch sử và cuộc sống của
người xưa, giúp học sinh tham khảo những bài toán khó, giúp ta biết được những
nơi ta chưa đến, giúp ta khám phá cuộc sống muôn loài…Ta nên mua nhiều sách
để đọc để biết thêm nhiều kiến thức.” (HS Trần Trường Lâm- 10A13)
(Ở bài làm trên, HS không xác định được yêu cầu của đề nên sa vào lối văn thuyết
minh. Khi bài viết không xác định đúng yêu cầu của đề thì sẽ dẫn đến lạc đề khi
triển khai ý.)
Kiểu bài tập này yêu cầu học sinh phải tìm ra và sửa chữa những sai sót trong
ngữ liệu, qua đó giúp học sinh hình thành kĩ năng phát hiện và phân tích vấn đề.
8
Nó giúp học sinh tránh việc đọc đề qua loa, đại khái để dẫn đến hậu quả là làm lạc
đề.
3.1.2. Dạng bài tập rèn luyện kĩ năng tìm ý và lập dàn ý
Với dạng bài tập lập dàn ý, sách giáo khoa thường có kiểu bài tập đưa ra yêu
cầu trực tiếp kiểu như: Hãy lập dàn ý cho đề văn sau đây: “Sách mở rông trước
mắt tôi những chân trời mới” (M. Go-rơ- ki). Hãy giải thích và bình luận ý kiến
trên. Ngoài kiểu yêu cầu trực tiếp, GV nên xây dựng thêm dạng bài tập yêu cầu HS
đánh giá và sửa lỗi trong dàn ý cho sẳn từ bài làm của chính các em.
Yêu cầu của kiểu bài tập này là: Anh/ chị hãy xem xét và tìm ra sai sót? Bổ
sung ý cho hoàn chỉnh dàn ý dưới đây.
Ví dụ: Dự định viết bài văn nghị luận cho đề bài: “Trả lời con gái, Mark
khẳng định: “Hạnh phúc là đấu tranh”. Câu trả lời ấy khiến anh/ chị nghĩ gì về
cuộc đấu tranh không khoan nhượng để giành hạnh phúc của nhân vật Tấm
trong truyện Tấm Cám.” một bạn lập dàn ý như sau:
Mở bài: Giới thiệu truyện cổ tích Tấm Cám.
năng phân tích, biết cân nhắc cẩn thận trước khi làm bài. Học sinh phải nhận thức
được rằng dàn ý hay là một dàn ý có đủ ý và các ý phải được sắp xếp theo một trật
tự logic.
3.1.3. Dạng bài tập rèn luyện kĩ năng diễn đạt ý
* Kiểu bài tập 1: Chọn 1 vài đoạn văn của học sinh, yêu cầu học sinh chỉ
ra lỗi và sửa lỗi, viết lại cho đúng.
Bài tập 1: Trong đề văn: “Truyện An Dương Vương, Mỵ Châu- Trọng Thủy là
một cách lí giải nguyên nhân mất nước Âu Lạc. Qua đó, nhân dân ta muốn nêu lên
bài học lịch sử về tinh thần cảnh giác kẻ thù và cách xử lí đúng đắn mối quan hệ
giữa riêng và chung giữa cá nhân và cộng đồng.” Chứng minh nhận định trên. Có
2 bạn viết như sau:
“1. Từ truyện An Dương Vương- Mỵ Châu- Trọng Thủy là một cách lí giải nguyên
nhân mất nước Âu Lạc. Qua đó nhân dân ta muốn nêu lên bài học lịch sử về tinh
10
thần cảnh giác kẻ thù và cách xử lí đúng đắn mối quan hệ giữa riêng và chung
giữa cá nhân và cộng đồng.
Những sai lầm dẫn đến bi kịch mất nước nhà tan.
Do An Dương Vương cả tin, gả con gái mình cho giặc (Triệu Đà) và bắt rể. Ít lâu
sau quân Đà tiến vào đánh nhưng vua khinh địch vẫn than nhiên đánh cờ.”
(Nguyễn Thị Ánh Trinh 10A13)
“2. Truyền thuyết An Dương Vương người cha sai lầm tin tưởng làm hòa với nước
Triệu Đà và gả con gái mình là Mỵ Châu cho con trai ông là Trọng Thủy và đưa
về nhà ở rể. Mỵ Châu rất yêu thương Trọng Thủy và nàng đã cho Trọng Thủy xem
nỏ thần của nước Âu Lạc, xem xong Trọng Thủy nghĩ là minh qua đây xem bí mật
của nước Âu Lạc và chàng đã nói dối Mỵ Châu cha chàng bị bệnh chàng phải về
thăm cha, nếu về chàng quay lại mà không thấy nàng chàng phải biết tìm nàng ở
đâu, Mị Châu nói thiếp có áo lông ngỗng đi tới đâu thiếp sẽ rắc lông ngỗng tới đó.
Sau khi nói xong mị Châu và Trọng Thủy phải rời khỏi nhau.” (Nguyễn Thị Kiều
biệt được đoạn mở bài, đoạn kết luận; đoạn văn tự sự, đoạn bình luận, đoạn phân
tích…; đoạn trình bày hoàn cảnh sáng tác, đoạn tóm tắt truyện…. Dưới đây là một
số kiểu bài tập rèn luyện kĩ năng xây dựng đoạn:
* Kiểu bài tập viết đoạn văn theo gợi ý. GV cho những ý cơ bản yêu cầu
HS liên kết các ý thành đoạn văn hoàn chỉnh về nội dung và đúng về hình thức
hoặc cho câu chủ đề trước yêu cầu học sinh viết đoạn văn theo kiểu quy nạp, diễn
dịch để làm sáng rõ ý câu chủ đề.
Ví dụ:
a/ Viết đoạn trình bày hoàn cảnh sáng tác:
Bài tập: Viết đoạn trình bày hoàn cảnh sáng tác tác phẩm “Đại cáo bình
Ngô” của Nguyễn Trãi dựa trên những ý dưới đây:
- Sau 10 năm kháng chiến gian khổ và quyết liệt, tháng 1 năm 1428, nhân dân ta
dưới ngọn cờ của Lê Lợi, đã đánh đuổi giặc Minh ra khỏi đất nước .
- Lê Lợi tổ chức phong thưởng cho tướng lĩnh và chính thức lên ngôi hoàng đế.
Nguyễn Trãi thay mặt nhà vua viết Đại cáo bình Ngô.
- Mục đích: tuyên bố cho toàn dân biết rõ công cuộc cứu nước, trải qua nhiều nguy
nan đã thắng lợi.
- Từ đây dân tộc bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên hoà bình, thông nhất.”
12
b/ Viết đoạn mở bài hoặc kết luận: Nhiều học sinh gặp khó khăn khi viết
mở bài hoặc kết luận nên việc cho bài tập viết đoạn mở bài và kết luận là cần thiết.
Bài tập: Hãy dựa trên các ý sau viết đoạn mở bài cho đề văn: Phân tích vẻ
đẹp của hình tượng người anh hùng Từ Hải trong đoạn trích “Chí khí anh hùng”
(trích Truyện Kiều- Nguyễn Du).
- Giới thiệu khái quát tác giả Nguyễn Du và tác phẩm Truyện Kiều(là đại thi
hào dân tộc, là nhà thơ nhân đạo, có tư tưởng tiến bộ thế kỉ XVIII; Truyện
Kiều là đỉnh cao nghệ thuật trong sáng tạo của Nguyễn Du);
- Giới thiệu khái quát về hình tượng nhân vật Từ Hải và đoạn trích (Từ Hải là
dạ, làm cho con ma tức giận bỏ đi. Tiếp đến, thổ công đến ủng hộ Tử Văn. Tử Văn
và con ma cùng xuống minh ti, dù bao nhiêu ma quái nhưng Tử Văn vẫn không
sợ…” (Nguyễn Ngọc Thúy Vy- 10b2, năm học 2013- 2014).
Kiểu bài tập sửa lỗi viết đoạn từ thực tế bài làm của mình, học sinh sẽ có
hứng thú trong giờ thực hành văn. Bài học mang tính thực tế giúp các em nhận
thức được chính nhũng thiếu sót của mình (hoặc bạn) từ đó các em sẽ có ý thức
khắc phục từ chính thực tế đó.
* Kiểu bài tập phân tích đoạn văn
Dạng bài tập này, GV cho sẳn đoạn văn mẫu và yêu cầu học sinh phân tích
tính thống nhất, chặt chẽ của đoạn văn.
Ví dụ:
Xác định câu chủ đề và kiểu đoạn văn và phân tích tính thống nhất (nội dung và
hình thức) của đoạn văn sau:
“Tính cách kiên định chính nghĩa của Ngô Soạn(Ngô Tử Văn) còn thể hiện
rõ trong quá trình chàng bị lôi xuống địa phủ. Cảnh địa phủ rùng rợn với quỷ sứ
hung ác, con sông đầy gió tanh sóng xám. Tử Văn bị bọn quỷ sai lôi đi rất nhanh,
bị phán xét lạnh lùng là kẻ “tội sâu ác nặng, không được liệt vào hàng khoan
giảm”, bị kết thêm tội ngoan cố bướng bỉnh nhưng chàng chẳng hề run sợ, không
hề nhụt chí, một mực kêu oan, đòi phải được phán xét công khai, minh bạch. Khi
đối diện trước Diêm vương uy nghiêm, Tử Văn đấu tranh vạch tội tên tướng giặc
bằng những lí lẽ cứng cỏi, bằng chững không thể chối cãi, giọng điệu rất đanh
thép vững vàng. Chàng đã bảo vệ lẽ phải mà bất chấp tính mạng của mình, không
14
chịu khuất phục trước uy quyền, kiên quyết đấu tranh cho công lí và lẽ phải đến
cùng. Kết quả, chàng đã chiến thắng hồn ma gian tà của tên tướng giặc, bảo toàn
được sự sống của mình, được tiến cử vào chức phán sự đền Tản Viên, chịu trách
nhiệm giữ gìn bảo vệ công lí. Chiến thắng ấy của Ngô Tử Văn có nghĩa vô cùng to
lớn, đã trừng trị đích đáng hồn ma tướng giặc xảo trá, làm sáng tỏ nỗi oan khuất,
Thảo luận nhóm là phương pháp dạy học tích cực tạo được sự tham gia của
nhiều học sinh. Đây là phương pháp rất phù hợp để áp dụng cho việc làm bài tập
trong phân môn làm văn nói chung và cho các dạng bài tập mà bài viết này đưa ra
nói riêng. Thảo luận nhóm sẽ giúp việc thực hiện bài tập tại lớp đảm bảo thời gian,
đồng thời HS được tham gia, chia sẻ ý kiến trên tinh thần học hỏi lẫn nhau và dân
chủ. Nhóm làm việc tích cực là nhóm trung bình từ 4 đến 6 học sinh. Việc phân
nhóm để giải quyết các bài tập làm văn dựa trên thực tế bài làm của chính các em
nên GV cần phân nhóm có chủ định và duy trì ổn định. Nhóm phải có học sinh
khá, giỏi bộ môn làm nhóm trưởng, có thư kí và có người đại diện để trình bày.
Phân nhóm theo sự ngẫu nhiên sẽ không đạt được hiệu quả tích cực trong việc giải
quyết các dạng bài tập làm văn như đề xuất.
Phương pháp thảo luận nhóm được sử dụng để HS cùng nhau giải quyết các
dạng bài tập khó như dạng bài tập lập dàn ý (kiểu bài tập lập dàn ý và sửa dàn ý có
vấn đề), các kiểu bài tập trong dạng diễn đạt ý, xây dựng đoạn.
Khi tiến hành, GV nên cho nhiều kiểu bài tập cùng một lúc và cho HS tiến
hành thảo luận, sau đó trình bày ý kiến. Khi HS đại diện nhóm tiến hành sửa bài
tập, các nhóm khác bổ sung, phát biểu. Trong quá trình thảo luận, GV phải quan
sát, điều chỉnh chỗ ngồi, nhắc nhở hay hộ trợ khi có nhóm cần tư vấn.
* Phương pháp dạy học theo dự án
Mục tiêu cuối cùng của bài tập làm văn là rèn luyện năng lực phân tích, tư
duy và sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt tình ý trong một đề văn, từ đó vận dụng các
kĩ năng ấy trong đời sống. Có thể nói đây là mục tiêu chủ yếu mà dạy và học bộ
môn văn hướng đến.
“Dạy học theo dự án là phương pháp học tập mang tính xây dựng. Trong đó,
HS hoàn toàn chủ động tham gia hoạt động dưới sự hướng dẫn của GV để tạo một
sản phẩm hay vận dụng các kiến thức đã học để tìm hiểu, thực hành, nghiên cứu
16
một vấn đề trong học tập hay giải quyết một vấn đề trong cuộc sống.”(Tài liệu tập
- GV phát vấn: “Em
hãy cho biết, phần
phân tích đề trên đúng
Yêu cầu về nội dung: Tết cổ truyền Việt hay sai, vì sao, nếu sai
Nam là một lễ hội gắn với truyền thống thì sửa lại như thế
văn hóa của dân tộc Việt Nam và tất cả nào?”
các dân tộc khác trên thế giới.
- HS trả lời theo câu
Yêu cầu về phạm vi dẫn chứng: không hỏi mà GV phát vấn.
hạn chế, là những kiến thức về xã hội.
Trình bày ý kiến của anh/ chị về phần Đề 2:
- GV yêu cầu HS đọc
17
phân tích đề trên”.
và trả lời theo yêu cầu
Bài tập 2: Với đề văn : Suy nghĩ của của bài tập.
anh/ chị về hiện tượng nghiện Facebook - HS làm bài tập tại
đối với giới trẻ hiện nay.
lớp
Anh/ chị hãy:
(Lưu ý: nếu HS trả lời
bài học lịch sử về tinh thần cảnh giác kẻ - GV phát phiếu bài
thù và cách xử lí đúng đắn mối quan hệ tập cho mỗi nhóm
giữa riêng và chung giữa cá nhân và theo nhiệm vụ được
cộng đồng.” Chứng minh nhận định trên. phân công
Bài tập 1: Lập dàn ý cho đề văn trên.
- HS tiến hành thảo
Bài tập 2: Viết đoạn văn mở bài cho đề luận trong 5-7 phút,
sau đó cử đại diện lên
văn trên theo gợi ý:
An trình bày.
Dương Vương và Mỵ Châu- Trọng ( Lưu ý: Khi học sinh
- Giới thiệu truyền thuyết
Thủy;
- Giới thiệu luận đề.
trình bày, các nhóm
khác bổ sung, và sửa
Bài tập 3: Khi làm bài có bạn viết như lỗi; cuối cùng GV
định hướng.)
sau:
18
“ Từ truyện An Dương Vương- Mỵ
Châu- Trọng Thủy là một cách lí giải
nguyên nhân mất nước Âu Lạc. Qua đó
khi học sinh phẩm Phú sông Bạch Đằng của tác giả chữa trong bài)
- GV gợi ý
thực hành các Trương Hán Siêu”.
dạng bài tập
khác)
Qua đó, anh/ chị hãy đề xuất một dàn ý
và bài viết mẫu cho đề bài.
+ Xác định trong các
bài làm của bạn, GV
nhận xét có đúng yêu
( Bài làm sẽ được học sinh tiến hành cầu đề hay không, nếu
trong 2 tuần, nộp lại cho GV, GV lấy không vì sao?
điểm 15 phút cho nhóm)
+ Thống kê:
19
(?) Có bao nhiêu bài
làm không đúng yêu
cầu của đề.
(?) Bao nhiêu bài bị
sửa lỗi diễn đạt, chủ
yếu là những lỗi diễn
đạt nào?
(?) Bao nhiêu bài điểm
dưới trung bình, bao
Lớp
Số học sinh
Điểm trung bình Điểm trung bình
Bài viết số 5
Bài thi học kì
10B2
32
123 = 3.84%
189 = 5.90%
10A2
37
228.5 = 6.17%
232.5 = 6.28%
Sau khi thống kê kết quả học tập của học sinh, qua một thời gian tiến hành thực
nghiệm trong tiết học tự chọn, tiết làm văn và giờ học phụ đạo điểm số trong bài
làm văn của học sinh lớp có tiến hành thực nghiệm tăng lên đáng kể (điểm trung
bình từ 3,8% lên 5,9%), các em khắc phục được sai sót trong bài làm văn của
mình.
10
trung
bình
Bài làm
37
1
2
7
12
12
1
2
0
0
0
4.11
V. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
Trên đây là những dạng bài tập làm văn được xây dựng trong quá trình giảng
dạy dựa trên thực tế viết văn của học HS 10. Năng lực làm văn là năng lực tổng
hợp dựa trên quá trình rèn luyện những năng lực khác như đọc hiểu, phân tích,
tổng hợp, năng lực sử dụng ngôn ngữ… Các dạng bài tập nhỏ mang tính hệ thống
trên đây sẽ hình thành cho các em những kĩ năng cần thiết để áp dụng khi tiến hành
làm một bài tập làm văn hoàn chỉnh. Lớp 10 là lớp đầu cấp THPT nên HS chưa
được bổ sung đầy đủ kiến thức làm văn, vì thế các em có rất nhiều sai sót khi làm
bài tập làm văn. Thiết nghĩ việc thiết kế những dạng bài tập bổ trợ kiến thức dựa
trên chính những lỗi mà các em mắc phải là điều cần thiết.
Trong quá trình xây dựng hệ thống bài tập hổ trợ kiến thức thực hành làm văn,
người viết cũng đề xuất một số phương pháp dạy học tích cực phù hợp với từng
dạng bài tập nhằm kích thích hứng thú ở học sinh, đồng thời rèn luyện cho HS các
kĩ năng sống cần thiết như kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng tư duy, kĩ năng phân
tích, kĩ năng sử dụng ngôn ngữ, kĩ năng lập dự án….để các em dễ hòa nhập với
cuộc sống hôm nay.
Để HS giải quyết tốt các dạng bài tập này và hình thành được các kĩ năng cần
thiết khi làm văn thì GV phải xây dựng được nhiều bài tập. Đồng thời, GV phải
chuẩn bị các phiếu học tập hoặc sử dụng công nghệ thông tin trình chiếu các bài
tập dài để đảm bào được thời gian.
Tuy nhiên làm thế nào để có đủ thời gian trong khi phân phối chương trình
không có bài học là điều người viết còn băn khoăn. Nhưng với chủ trương dạy học
theo định hướng năng lực thì việc xây dựng thêm các bài tập giúp HS rèn luyện
năng lực làm văn thì không phải là thừa.
22
23