XÂY DỰNG MỘT SỐ DẠNG BÀI TẬP THEO ĐỊNH HƯỚNG NĂNG LỰC ĐỂ RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LÀM VĂN CHO HỌC SINH LỚP 10 - Pdf 29

XÂY DỰNG MỘT SỐ DẠNG BÀI TẬP THEO ĐỊNH HƯỚNG
NĂNG LỰC ĐỂ RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LÀM VĂN CHO
HỌC SINH LỚP 10
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hiện nay, việc dạy học ở chương trình giáo dục phổ thông của nước ta đang
chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của
người học. Từ định hướng đó, việc kiểm tra đánh giá có sự thay đổi. Bài kiểm tra
phải đánh giá được năng lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề của học
sinh(HS). Dạy học theo định hướng năng lực yêu cầu người giáo viên(GV) phải
chú trọng việc đánh giá thường xuyên trong quá trình dạy và học.
Kiến thức và kĩ năng là cơ sở cần thiết để hình thành năng lực. Trong môn Ngữ
Văn, việc đánh giá cần hướng tới là năng lực phân tích, bình giá và cảm thụ văn
học nghệ thuật một cách chủ động. Điều này được thể hiện chủ yếu qua việc tạo
lập các văn bản. Trong các phân môn của bộ môn Ngữ Văn, làm văn được xem là
phân môn tổng hợp vì “học sinh bao giờ cũng phải cùng một lúc huy động hàng
loạt kiến thức được trang bị của mình về ngôn ngữ (bao gồm tất cả các năng lực
sử dụng tất cả các đơn vị ngôn ngữ và các quan hệ ngữ pháp), về tư duy (bao gồm
tất cả các khả năng: phân tích, tổng hợp, khái quát, phán đoán, suy luận…) và cả
về quan điểm lập trường của các quá trình nhận thức và đánh giá.” (Trần Thanh
Bình). Là một phân môn thực hành sáng tạo nên học sinh phải biết vận dụng kiến
thức trong chương trình học, kiến thức thực tế và kĩ năng vận dụng ngôn ngữ để
làm bài. Bài làm văn là sản phẩm cuối cùng đánh giá năng lực tổng hợp của học
sinh.
Kiến thức làm văn ở trường phổ thông không phải hoàn toàn mới mà là sự lặp
lại và nâng cao kiến thức ở bậc cơ sở vì thế chương trình làm văn ở THPT chú ý
đến khâu thực hành luyện tập. Tuy nhiên, bài tập trong sách giáo khoa còn ít nếu
giáo viên chỉ dừng lại giảng dạy các bài tập trong sách giáo khoa thì chưa đủ. Giáo
viên là người nắm bắt năng lực và định hướng năng lực cho HS vì thế GV không
thể áp dụng một giáo án có sẳn để giảng dạy cho tất cả các đối tượng mà phải nắm
1
bắt kịp thời năng lực của từng đơn vị đối tượng để chọn phương pháp và kiến thức

hiện nay thì lại không nhất thiết giáo viên phải đảm bảo kiến thức đánh giá học
sinh theo trình tự như trên. Chẳng hạn, khi học phần truyện dân gian, không nhất
thiết người thầy chỉ ra dạng đề văn tự sự. Tài liệu tập huấn Dạy học kiểm tra,
đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực của học sinh năm
2014 có gợi ý ra đề kiểm tra năng lực vận dụng cao của học sinh khi học xong
truyện cổ tích Tấm Cám như sau:
* Theo hình thức văn tự sự:
Đề 1: Đóng vai nhân vật Tấm (Cám) kể lại truyện cổ tích Tấm Cám.
Đề 2: Nếu được phép thay đổi kết thúc truyện, anh/ chị sẽ kết thúc truyện
như thế nào?
* Theo hình thức văn nghị luận:
Đề 1: Trả lời con gái, Mark khẳng định: “Hạnh phúc là đấu tranh”. Câu
trả lời ấy khiến anh/ chị nghĩ gì về cuộc đấu tranh không khoan nhượng để giành
hạnh phúc của nhân vật Tấm trong truyện Tấm Cám.
Đề 2: Sách giáo khoa Ngữ Văn 10, tập 1 nhận định về truyện “Tấm Cám”:
“Đặc sắc nghệ thuật của truyện là khắc họa được hình tượng Tấm có sự phát triển
về tính cách (từ yếu đuối thụ động đến kiên quyết đấu tranh giành lại cuộc sống và
hạnh phúc)”. Anh chị hiểu như thế nào về nhận định trên? Phân tích tác phẩm để
làm rõ.(bài tập vận dụng trong bài Ôn tập văn học dân gian Việt Nam).
Như vậy, dạy học theo định hướng kĩ năng đòi hỏi khâu đánh giá phải
hướng đến đánh giá năng lực của học sinh ở tất cả các kĩ năng: từ đọc hiểu đến
năng lực thu thập thông tin liên quan đến văn bản, cuối cùng là năng lực cảm thụ,
giải quyết các vấn đề được đặt ra trong văn bản. HS không nhất thiết học kiểu làm
văn nào trên lớp thì giáo viên đánh giá trên kiểu làm văn ấy. Khi học một tác phẩm
văn chương, giáo viên có thể ra nhiều dạng đề đánh giá năng lực học sinh ở nhiều
kĩ năng khác nhau. HS phải phân biệt được dạng đề nào là văn tự sự, dạng đề nào
là thuyết minh, hoặc nghị luận. Để đáp ứng kĩ năng làm văn cho học sinh, giáo
viên phải chủ động cho bài tập thực hành, sửa lỗi và rèn luyện kĩ năng phù hợp với
3
từng đối tượng lớp học trong suốt quá trình giảng dạy chứ không nhất thiết bám sát

tập để học sinh thực hành nhưng sai sót của HS trong bài làm văn của mình vẫn
nhiều vô kể. Những lỗi sai sót của học sinh thường gặp là:
Thứ nhất là sai sót ở khâu tìm hiểu đề. Tìm hiểu đề sai sẽ dẫn đến bài viết
lạc đề hoặc không xác định đúng trọng tâm của đề. Vẫn có nhiều HS không ý thức
việc tìm hiểu đề là quan trọng nên bỏ qua khâu này. Vì vậy khi làm bài các em
thường sa vào lối viết lam man, tùy tiện. Không tìm hiểu đề thấu đáo, HS dễ mắc
các lỗi: trình bày sai về nội dung, không đúng kiểu làm văn, hoặc dẫn chứng không
phù hợp với yêu cầu của đề.
Thứ hai là sai sót ở khâu lập dàn ý. Dàn ý là khâu lựa chọn và sắp xếp các
ý một cách hợp lí để phục vụ cho việc làm sáng tỏ luận đề. Lập dàn ý giúp học sinh
không bỏ sót ý, không lặp ý và tránh được tình trạng “đầu voi đuôi chuột” khi triển
khai ý. Việc lập dàn ý đảm bảo tính hệ thống, tạo nên sự liên kết thống nhất của bài
văn. Mặc dù bài tập làm văn trong sách giáo khoa dạng bài tập tìm ý và lập dàn ý
nhưng số lượng bài tập và sự phong phú của các các dạng bài tập lập dàn ý còn hạn
chế. Đa số học sinh khi viết văn thường có thói quen nghĩ đến đâu viết đến đó nên
các em thường sa vào các lỗi như lặp ý hoặc thiếu ý, ý chồng chéo, ý không đúng
trọng tâm.
Thứ ba là HS rơi vào lỗi hành văn - sai sót ở khâu diễn đạt và liên kết ý.
Trong đoạn văn của HS “Sách là một vật không thể thiếu trong tuổi học trò. Sách
là công cụ bán chạy nhất hiện nay, nhất là bán cho học sinh, những người già và
những phụ huynh mua về cho con em đọc.”, người đọc dễ dàng nhận thấy khả năng
sử dụng ngôn ngữ và diễn đạt của học sinh có vấn đề. Học sinh chưa có ý thức viết
đoạn, và diễn đạt ý. Vì vậy xây dựng các bài tập để rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng
Việt cho học sinh rất cần thiết. Các bài tập rèn luyện kĩ năng dùng từ, đặt câu, xây
dựng đoạn được thực hiện một cách có hệ thống sẽ giúp cho học sinh có ý thức
chú ý đến văn phong khi diễn đạt.
Cuối cùng là lỗi viết đoạn, xây dựng đoạn. Đoạn văn là một ý hoàn chỉnh
ở một mức độ nhất định nào đó về logic ngữ nghĩa. Mỗi đoạn văn trong văn bản
5
diễn đạt một ý, một luận điểm. Các ý có mối liên quan chặt chẽ với nhau trên cơ sở

yêu cầu của việc tìm hiểu đề.
Sách giáo khoa Ngữ Văn 10 không có bài tập cho khâu tìm hiểu đề. HS
không được thực hành dạng bài tập này trong chương trình chính khóa vì thế GV
phải linh hoạt trong quá trình giảng dạy giúp HS ý thức được bước đầu tiên khi bắt
đầu làm một bài văn. GV yêu cầu học sinh tìm hiểu đề theo trình tự: xác định yêu
cầu về nội dung, hình thức và phạm vi tư liệu. Chẳng hạn, GV cho bài tập:
Tìm hiểu và phân tích một số đề văn sau:
“Đề 1: Nhập vai nhân vật Tấm, anh/ chị hãy kể lại truyện cổ tích Tấm Cám.
Đề 2: Cảnh ngày hè thể hiện vẻ đẹp “tâm hồn Nguyễn Trãi chan chứa tình
yêu thiên nhiên, yêu đời, yêu nhân đân, đất nước”(SGK Ngữ Văn 10, trang 119).
Anh/ chị hãy chứng minh nhận định trên.
Đề 3: Giới thiệu về tác hại của rượu đối với đời sống con người.
Hãy:
- Xác định luận đề của từng đề.
- Xác định kiểu làm văn của các đề bài trên.
- Tìm phạm vi dẫn chứng cho từng đề bài.
Yêu cầu của kiểu bài tập này là HS phải xác định đúng luận đề (yêu cầu về
nội dung), đúng kiểu làm văn (yêu cầu về hình thức) và phạm vi dẫn chứng trên cơ
sở so sánh, đối chiếu để thấy được sự khác nhau của các dạng đề.
* Kiểu 2: Kiểu bài tập có nội dung phân tích đề sẳn, yêu cầu HS nhận
xét, sửa chữa và bổ sung.
Với kiểu bài tập này, GV có thể kết hợp với kiểu 1. GV cùng lúc cho 2 đề,
giao nhiệm vụ cho từng nhóm làm khâu tìm hiểu đề, sau 3 phút làm việc, các nhóm
trình bày sản phẩm lên bảng. Cuối cùng, GV hướng dẫn HS thực hiện kiểu 2 (Các
nhóm thay phiên nhau nhận xét phần tìm hiểu đề của nhóm bạn). Hoặc, GV cho
sẳn bài tập yêu cầu học sinh nhận xét và sửa chữa lại cho hợp lí.
Bài tập 1:
7
Với đề bài “Giới thiệu về lễ hội tết cổ truyền Việt Nam” có một bạn phân tích đề
như sau:

3.1.2. Dạng bài tập rèn luyện kĩ năng tìm ý và lập dàn ý
Với dạng bài tập lập dàn ý, sách giáo khoa thường có kiểu bài tập đưa ra yêu
cầu trực tiếp kiểu như: Hãy lập dàn ý cho đề văn sau đây: “Sách mở rông trước
mắt tôi những chân trời mới” (M. Go-rơ- ki). Hãy giải thích và bình luận ý kiến
trên. Ngoài kiểu yêu cầu trực tiếp, GV nên xây dựng thêm dạng bài tập yêu cầu HS
đánh giá và sửa lỗi trong dàn ý cho sẳn từ bài làm của chính các em.
Yêu cầu của kiểu bài tập này là: Anh/ chị hãy xem xét và tìm ra sai sót? Bổ
sung ý cho hoàn chỉnh dàn ý dưới đây.
Ví dụ: Dự định viết bài văn nghị luận cho đề bài: “Trả lời con gái, Mark
khẳng định: “Hạnh phúc là đấu tranh”. Câu trả lời ấy khiến anh/ chị nghĩ gì về
cuộc đấu tranh không khoan nhượng để giành hạnh phúc của nhân vật Tấm
trong truyện Tấm Cám.” một bạn lập dàn ý như sau:
Mở bài: Giới thiệu truyện cổ tích Tấm Cám.
Thân bài:
- Cuộc đấu tranh giành hạnh phúc của Tấm qua các chi tiết:
+ Bụt giúp Tấm có hạnh phúc mỗi khi Tấm bị mẹ con Cám ức hiếp.
+ Sự biến hóa kì diệu: mỗi lần bị mẹ con Cám tiêu diệt sự sống, Tấm không
chịu khuất phục trước cái ác, cái xấu xa. Tấm vươn lên kiên cường đấu tranh
giành sự sống qua các lần hóa thân: chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửi, quả
thị, và trở lại làm người.
+ Hành động trả thù của Tấm thể hiện thái độ, tinh thần đấu tranh quyết
liệt không khoan nhượng cái xấu và cái ác.
- Bài học nhận thức: muốn có hạnh phúc thật sự thì chúng ta phải biết đấu
tranh với cái ác và cái xấu.
9
- Giải thích khái niệm: “Hạnh phúc là đấu tranh.”
Kết bài: Đánh giá về nhân vật Tấm.
Cũng với đề bài đó, bạn khác lại có dàn ý:
Mở bài: Giới thiệu truyện cổ tích Tấm Cám và câu nói của Mark.
Thân bài:

(Nguyễn Thị Ánh Trinh 10A13)
“2. Truyền thuyết An Dương Vương người cha sai lầm tin tưởng làm hòa với nước
Triệu Đà và gả con gái mình là Mỵ Châu cho con trai ông là Trọng Thủy và đưa
về nhà ở rể. Mỵ Châu rất yêu thương Trọng Thủy và nàng đã cho Trọng Thủy xem
nỏ thần của nước Âu Lạc, xem xong Trọng Thủy nghĩ là minh qua đây xem bí mật
của nước Âu Lạc và chàng đã nói dối Mỵ Châu cha chàng bị bệnh chàng phải về
thăm cha, nếu về chàng quay lại mà không thấy nàng chàng phải biết tìm nàng ở
đâu, Mị Châu nói thiếp có áo lông ngỗng đi tới đâu thiếp sẽ rắc lông ngỗng tới đó.
Sau khi nói xong mị Châu và Trọng Thủy phải rời khỏi nhau.” (Nguyễn Thị Kiều
Trang – 10A13)
Hãy chỉ ra lỗi diễn đạt trong bài làm trên.”
Bài tập 2. Hãy chỉ ra lỗi diễn đạt trong bài làm văn dưới đây:
“Mở đầu Nguyễn Du giới thiệu và nói chung về Tây Hồ. Ngày xưa là cảnh đẹp nay
đã hóa gò hoang. Nguyễn Du đã dùng hình ảnh so sánh xưa và nay, đẹp và xấu để
gây mâu thuẫn, đối lập về cảnh vât…” (Lê Thị Thùy Trinh- 10A13)
Kiểu bài tập này sẽ giúp cho học sinh tự rút kinh nghiệm sau bài làm của
mình hoặc của các bạn. Từ việc sửa lỗi các em sẽ có ý thức hơn trong việc chọn
lọc từ ngữ, diễn đạt ý. Yêu cầu giáo viên khi sửa kiểu bài tập này phải chỉ rõ cho
các em thấy những lỗi diễn đạt thường gặp như dùng tư sai, viết hoa chưa đúng
quy tắc hoặc sai về ngữ pháp.
* Kiểu bài tập 2: Bài tập điền khuyết
11
Đây là kiểu bài tập yêu cầu học sinh tìm những từ ngữ liên kết thích hợp để
điền vào chổ trống trong văn bản. Yêu cầu của kiểu bài tập này là GV chọn văn
bản ngắn (có thể một hoặc 2 đoạn), có thể cho sẳn từ ngữ liên kết.
Ví dụ: Hãy điền vào [ ]những từ ngữ thích hợp trong đoạn văn sau:
“Đỗ Phủ sáng tác bài Cảm xúc mùa thu vào năm 766. […] là thời điểm triều
đại nhà Đường vừa thoát khỏi nạn An Lộc Sơn- Sử Tư Minh được 3 năm. […] bốn
năm sau khi bài thơ ra đời, Đỗ Phủ mất trong cảnh khốn đốn […] đói nghèo[…]
day dứt về tinh thần nơi đất khách.” (Dạy học văn học nước ngoài 10)

(trích Truyện Kiều- Nguyễn Du).
- Giới thiệu khái quát tác giả Nguyễn Du và tác phẩm Truyện Kiều(là đại thi
hào dân tộc, là nhà thơ nhân đạo, có tư tưởng tiến bộ thế kỉ XVIII; Truyện
Kiều là đỉnh cao nghệ thuật trong sáng tạo của Nguyễn Du);
- Giới thiệu khái quát về hình tượng nhân vật Từ Hải và đoạn trích (Từ Hải là
nơi Nguyễn Du gửi gắm khát vọng tự do và công lí; đoạn trích thể hiện vẻ
đẹp của Từ Hải trong buổi lên đường).
c/ Viết đoạn thân bài triển khai ý theo câu chủ đề: Bài tập này, GV có thể
yêu cầu HS viết đoạn diễn dịch, quy nạp hay tổng phân hợp; có sử dụng phép liên
kết phù hợp (phép lặp, phép nối, phép thế, phép liên tưởng…)
Bài tập: “Viết đoạn văn quy nạp triển khai luận điểm sau: “Hành động đốt đền tà
chứng tỏ Ngô Tử Văn là người cương trực, khẳng khái, chính nghĩa.” Theo một số
gợi ý sau:
- Trước khi đốt đền Tử Văn có những hành động gì?
- Hành động đó nói lên được điều gì?”
Viết đọan theo gợi ý là kiểu bài dễ vì HS được cho trước nội dung. HS chỉ
thực hiện cộng đoạn sắp xếp, liên kết ý và hoàn thiện đoạn văn theo đúng yêu cầu
của một đoạn văn. Chính vì thế, kiểu bài tập này sẽ rèn luyện cho HS kĩ năng diễn
đạt vì khi HS viết đoạn mà không quá mất thời gian để tìm ý thì HS sẽ chú ý đến
khâu diễn đạt là một tất yếu.
* Kiểu bài tập sửa lỗi viết đoạn
13
GV chọn một đoạn văn có sai sót về nội dung và hình thức hoặc chọn bài làm
của chính học sinh trong lớp/ trường và yêu cầu HS sửa lỗi trong đoạn văn cho phù
hợp.
Ví dụ:
Bài tập: Xác định câu chủ đề và sửa đoạn văn dưới đây để đảm bảo tính
mạch lạc:
“Trước khi đập phá đền, Tử Văn tắm rửa sạch sẽ, khấn trời và bắt đầu đốt
đền. Tử Văn ý thức được việc làm chính nghĩa của mình, với tinh thần trừ gian diệt

lớn, đã trừng trị đích đáng hồn ma tướng giặc xảo trá, làm sáng tỏ nỗi oan khuất,
phục hồi chức vị cho thổ thần nước Việt, giải trừ tai họa cho nhân dân.”
Để làm được dạng bài tập này, GV cần phải cung cấp kiến thức về đoạn văn
cho học sinh. Hiệu quả của các kiểu bài tập phân tích đoạn là học sinh nhận thức
được một cách có ý thức về đoạn văn, xác định được nội dung chính của đoạn,
nhận thức tầm quan trong trong việc liên kết ý của các phép liên kết.
3.2. Định hướng thực hiện các dạng bài tập bằng những phương pháp dạy học
tích cực
Để tiến hành giảng dạy, rèn luyện năng lực làm văn cho HS dựa trên hệ thống
các bài tập đã đề xuất, GV cần phải lựa chọn các phương pháp phù hợp. Nếu
không linh hoạt và lựa chọn phương pháp phù hợp, HS sẽ không có hứng thú và
hiệu quả đạt được sẽ không như mong muốn.
Dưới đây là một số các phương pháp được đề xuất khi tiến hành giảng dạy
cho hệ các dạng bài tập này
* Phương pháp phát vấn
Phát vấn là phương pháp mà trong đó GV đưa ra những câu hỏi hay bài tập để
HS suy nghĩ và trả lời. Các câu hỏi/ bài tập thường được chuẩn bị và cân nhắc kỹ.
Người dạy có thể tổ chức, dẫn dắt người học từ chỗ đọc bài tập để trả lời, tiến đến
thảo luận hoặc ở mức cao hơn nữa là tranh luận.
Đối với các kiểu bài tập thuộc dạng bài tập phân tích đề, hoặc một số bài tập
sửa lỗi ngắn, điền khuyết…, GV nên chủ động cho HS làm việc cá nhân. Vì đây là
15
dạng bài tập phát hiện, không đòi hỏi kĩ năng diễn đạt cao. Phương pháp phát vấn
sẽ phát huy được hiệu quả khi GV hướng dẫn HS làm bài tập dạng này.
Để thực hiện tốt phương pháp này, giáo viên phải chuẩn bị kỹ bài tập với các
mức độ khó, dễ, vừa phải khác nhau để hướng tới các đối tượng học sinh có trình
độ: giỏi, khá, TB hoặc yếu kém đảm bảo mọi học sinh trong lớp phải trả lời được
và tìm ra kiến thức cho chính mình.
* Phương pháp thảo luận nhóm
Thảo luận nhóm là phương pháp dạy học tích cực tạo được sự tham gia của

HS), giúp HS xây dựng đề cương, kế hoạch, tự thu thập kết quả. Qua một thời gian
làm việc nhóm, HS sẽ công bố kết quả. GV thẩm định và đánh giá bằng nhận xét
hoặc điểm số.
Dạng bài tập làm văn theo phương pháp này thường là sự tổng hợp các dạng
bài tập từ phân tích đề đến lập dàn ý và diễn đạt ý. Dự án mà GV giao cho HS là
một bài tập tổng hợp các dạng bài tập (trong mỗi dạng có thể bao hàm nhiều kiểu
bài tập khác nhau).
* Bảng mô tả việc vận dụng phương pháp thực hiện cho một số dạng bài
tập mà bài viết đề xuất
Phương pháp
thực hiện
Dạng bài tập/ bài tập mẫu Tiến trình thực hiện
hương pháp
phát vấn
Dạng bài tập phân tích đề
Bài tập 1 “Giới thiệu về lễ hội tết cổ
truyền Việt Nam” có một bạn phân tích
đề như sau:
Yêu cầu về hình thức: văn thuyết minh
Yêu cầu về nội dung: Tết cổ truyền Việt
Nam là một lễ hội gắn với truyền thống
văn hóa của dân tộc Việt Nam và tất cả
các dân tộc khác trên thế giới.
GV đặt câu hỏi phát
vấn:
Đề 1:
- GV phát vấn: “Em
hãy cho biết, phần
phân tích đề trên đúng
hay sai, vì sao, nếu sai

Phương pháp
thảo luận
nhóm
Dạng bài tập tìm ý và lập dàn ý hoặc
diễn đạt ý
Trong đề văn: “Truyện An Dương
Vương- Mỵ Châu- Trọng Thủy là một
cách lí giải nguyên nhân mất nước Âu
Lạc. Qua đó nhân dân ta muốn nêu lên
bài học lịch sử về tinh thần cảnh giác kẻ
thù và cách xử lí đúng đắn mối quan hệ
giữa riêng và chung giữa cá nhân và
cộng đồng.” Chứng minh nhận định
trên.
Bài tập 1: Lập dàn ý cho đề văn trên.
Bài tập 2: Viết đoạn văn mở bài cho đề
văn trên theo gợi ý:
- Giới thiệu truyền thuyết An
Dương Vương và Mỵ Châu- Trọng
- GV chia lớp thành 6
nhóm, mỗi nhóm 5-6
học sinh, 2 nhóm làm
bài tập 1 và 2 nhóm
làm bài tập 2, 2 nhóm
làm bài tập 3.
- GV phát phiếu bài
tập cho mỗi nhóm
theo nhiệm vụ được
phân công
- HS tiến hành thảo

dự án
(phương
pháp này
phải được
tiến hành sau
khi học sinh
thực hành các
dạng bài tập
khác)
Tổng hợp các dạng bài tập (phân tích
đề, tìm ý, diễn đạt ý và xây dựng đoạn)
Viết một bài báo cáo gồm 5- 7 trang A4
trình bày những nhận thức của anh/ chị
sau khi đọc lại bài làm văn của các thành
viên trong tổ/ lớp bài viết số 5 với đề
văn: “Viết một văn bản giới thiệu về tác
phẩm Phú sông Bạch Đằng của tác giả
Trương Hán Siêu”.
Qua đó, anh/ chị hãy đề xuất một dàn ý
và bài viết mẫu cho đề bài.
- GV chia lớp thành 4
tổ, yêu cầu HS về nhà
đọc lại bài văn của các
thành viên trong tổ
(lưu ý: các bài văn đã
được GV chấm điểm
có nhận xét, có sửa
chữa trong bài)
- GV gợi ý
+ Xác định trong các

kế hoạch (phân công
nhiệm vụ và tiến hành
theo thời gian quy
định)
IV. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
20
1. Trong quá trình tìm kiếm phương pháp tối ưu, tôi đã tiến hành so sánh kết
quả giảng dạy năm 2012- 2013, qua bài kiểm tra trên lớp. Một lớp tiến hành thực
nghiệm(TN) theo phương pháp này, và một lớp dạy thông thường (chỉ giảng dạy
các bước và các bài tập SGK), kết quả so sánh như sau:
So sánh kết quả thực nghiệm ở 2 lớp HS khối 10 năm học 2013- 2014: 10A2
(lớp chọn đầu vào) và 10B2 (lớp cơ bản) bài kiểm tra số 5 đầu học kì II (điều kiện
ban đầu thống kê kết quả bài viết số 5, bài kiểm tra chung toàn trường, hoàn toàn
chưa tiến hành thực nghiệm) và điểm bài kiểm tra học kì II. Trong đó, lớp 10A2
chỉ giảng dạy theo hệ thống bài tập sách giáo khoa không áp dụng hệ thống bài tập
sửa lỗi và rèn luyện kĩ năng, lớp 10B2 có tiến hành thực nghiệm.
Lớp Số học sinh Điểm trung bình
Bài viết số 5
Điểm trung bình
Bài thi học kì
10B2 32 123 = 3.84% 189 = 5.90%
10A2 37 228.5 = 6.17% 232.5 = 6.28%
Sau khi thống kê kết quả học tập của học sinh, qua một thời gian tiến hành thực
nghiệm trong tiết học tự chọn, tiết làm văn và giờ học phụ đạo điểm số trong bài
làm văn của học sinh lớp có tiến hành thực nghiệm tăng lên đáng kể (điểm trung
bình từ 3,8% lên 5,9%), các em khắc phục được sai sót trong bài làm văn của
mình.
So sánh kết quả thực nghiệm của lớp 10A13 (năm học 2014- 2015)dựa trên bài
làm văn số 1 và bài kiểm tra học kì I, kết quả thống kê như sau:
Lớp

tích, kĩ năng sử dụng ngôn ngữ, kĩ năng lập dự án….để các em dễ hòa nhập với
cuộc sống hôm nay.
Để HS giải quyết tốt các dạng bài tập này và hình thành được các kĩ năng cần
thiết khi làm văn thì GV phải xây dựng được nhiều bài tập. Đồng thời, GV phải
chuẩn bị các phiếu học tập hoặc sử dụng công nghệ thông tin trình chiếu các bài
tập dài để đảm bào được thời gian.
Tuy nhiên làm thế nào để có đủ thời gian trong khi phân phối chương trình
không có bài học là điều người viết còn băn khoăn. Nhưng với chủ trương dạy học
theo định hướng năng lực thì việc xây dựng thêm các bài tập giúp HS rèn luyện
năng lực làm văn thì không phải là thừa.
22
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê Huy Bắc (2006), Dạy – học văn học nước ngoài Ngữ Văn 10,
NXB Giáo dục.
2. Bộ Giáo dục và đào tạo (2014), Tài liệu tập huấn: Dạy học và kiểm
tra đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh môn
Ngữ Văn, Chương trình Phát triển giáo dục.
3. Bộ Giáo dục và đào tạo (2010), Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến
thức, kĩ năng môn Ngữ văn 10, NXB Giáo dục Việt Nam.
4. Trần Thanh Bình (1983), “Về mối quan hệ giữa ngôn ngữ học và môn
học tiếng Việt- làm văn”, Đại học và THCN, số 4.
5. Nguyễn Văn Cường (2010), Một số vấn đề chung về đổi mới
phương pháp dạy học ở trường trung học phổ thông, NXB Đại học Quốc gia
Hà Nội.
6. Phan Trọng Luận (chủ biên) (2006), Ngữ văn 10 (tập 1, 2), NXB Giáo
dục.
23
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status