1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
THÁI CAO ĐA
QUẢN LÝ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC Ở
TRƯỜNG PHẬT HỌC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Nghệ An, 2014
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
THÁI CAO ĐA
QUẢN LÝ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC Ở
TRƯỜNG PHẬT HỌC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên Ngành Quản Lý Giáo Dục
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Nguyễn Thị Mỹ Trinh đã tận tình hướng dẫn cho em hoàn thành luận văn tốt
nghiệp.
4
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG PHẬT HỌC.................................................5
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................5
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài ...................................................................10
1.2.1. Dạy học; Hoạt động dạy học ở trường Phật học...........................................10
1.2.2. Chất lượng và chất lượng dạy học ở trường Phật học...................................12
1.2.3. Quản lý và Quản ly chất lượng dạy học ở trường Phật học..........................13
1.3. Khái quát về hoạt động dạy học ở trường Phật học Việt Nam Nam.........15
1.3.1. Khái quát về hệ thống đào tạo Tăng Ni ........................................................15
1.3.2. Hoạt động dạy học ở các trường Phật học....................................................17
1.4. Một số vấn đề về quản lý chất lượng hoạt động dạy học ở trường Phật học
1.4.1. Mục đích quản lý chất lượng dạy học ở các trường Phật học.......................21
1.4.2. Nội dung quản lý chất lượng dạy học............................................................22
1.4.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả công tác quản lý chất lượng dạy học ở
truờng Phật học........................................................................................................25
Kết luận chương 1.................................................................................................27
Chương 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG
DẠY HỌC Ở TRƯỜNG PHẬT HỌC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH............28
2.1. Khái quát về trường Phật giáo Thành Phố Hồ Chí Minh .........................28
2.2. Thực trạng chất lượng dạy học của truờng Phật giáo TP. HCM..............30
2.2.1. Thành phần Hội đồng Điều hành Học viện...................................................31
2.2.2. Thực trạng đội ngũ giảng viên Học viện.......................................................33
6
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1. ĐĐ
2. ĐHPG
3. GHPGVN
4. HT
5. HVPG
6. HVPGVN
7. NS
8. PG, GH
9. PGVN
10. SC
11. TNS
12. TP. HCM
13. TT
14. TW GHPGVN
Đại Đức
Đại Học Phật Giáo
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
Hòa Thượng
Học Viện Phật Giáo
Học Viện Phật Giáo Việt Nam
Ni Sư
Phật Giáo, Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam
Sư Cô
đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành,
khả năng lập nghiệp. Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục. Thực hiện kiểm định chất
lượng giáo dục, đào tạo ở tất cả các bậc học. Xây dựng môi trường giáo dục lành
mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội.1
Từ khi Đức Phật thành Đạo dưới cội Bồ-đề ở Bodhgaya, với lòng đại từ bi,
Ngài đưa giáo pháp vào đời cứu đời thoát khổ đau giáo dục Phật giáo đã khởi sắc.
Điều này cũng có nghĩa là giáo dục Tăng Ni sinh không đủ để làm nên giáo dục
Phật giáo. Phật giáo phải mở rộng giáo dục đến mọi người, ở mọi lứa tuổi. Cơ sở
giáo dục Phật giáo phải là các trường Phật học, các trung tâm giáo dục, các hoàn
cảnh có đông người dự họp v.v…
Nói đến giáo dục Phật giáo là nói đến con đường tu học thông qua Giới
(sìla), Định (samàdhi) và Tuệ (pannà). Hòa thượng Viện trưởng Học viện Phật
Giáo Việt Nam tại Thành Phố Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Đường hướng giáo
dục của Đức Phật chính là sự hoàn thiện hay giải thoát của con người trên cơ sở
đánh thức, nuôi dưỡng và phát triển giới đức, tâm đức, tuệ đức của mỗi cá nhân. Do
đó một môi trường tu học đáp ứng được mục tiêu trên cần phải có đủ Giới - Định Tuệ và các điều kiện hỗ trợ cho việc phát triển giới đức, tâm đức, tuệ đức. Đạo Phật
1
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI
9
chú ý kiến tạo các môi trường giáo dục, khuyến khích sự phát triển giới đức, tâm
đức, tuệ đức của cá nhân”.
Các truờng Phật học có nhiệm vụ đào tạo Tăng Ni thành những tu sĩ Phật
giáo chân chính. Học để tu, để hoằng pháp và giúp đời. Học để trau giồi đạo đức và
trí tuệ, để thuận lợi hơn trên con đường tiến đến giải thoát tối hậu. Một trong những
yêu cầu của giáo dục là tạo cho người học sự thích nghi, được tự phát triển. Giáo
3.1 Khách thể nghiên cứu: Vấn đề quản lý nâng cao chất lượng hoạt động
dạy học ở các trường Phật học
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng dạy
học ở các trường Phật học tại Thành phố Hồ Chí Minh
4. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng và thực hiện được những giải pháp có cơ sở khoa học, thực
tiễn, có tính khả thi thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở các trường Phật
học tại Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề quản lý nâng cao chất lượng hoạt
động dạy học ở trường Phật học.
5.2. Nghiên cứu thực trạng quản lý nâng cao chất lượng dạy học ở trường
Phật học Thành phố Hồ Chí Minh.
5.3. Đề xuất một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng dạy học ở trường
Phật học Thành phố Hồ Chí Minh.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: nhằm thu thập các thông tin lý
luận để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài. Bao gồm: Phương pháp phân tích- tổng
hợp tài liệu; Phương pháp phân loại- hệ thống hoá và cụ thể hóa các vấn đề lý luận
có liên quan.
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: nhằm xây dựng cơ sở thực
tiễn cho đề tài. Bao gồm: Phương pháp điều tra; Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
11
giáo dục; Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động; Phương pháp lấy ý kiến
chuyên gia;
6.3. Phương pháp thống kê toán học: nhằm để xử lý số liệu thu được
7. Đóng góp mới của luận văn
triển đã làm cho nền giáo dục các nước ngoài cái chung cũng có những đặc điểm
riêng. Giáo dục trong lĩnh vực Phật giáo cũng không nằm ngoài quy luật đó.
Phật học không chỉ đóng vai trò là một hệ thống triết học, bởi Phật học vừa
mang lại cho người học những kiến thức, tri thức như bao nhiêu môn học khác, mà
Phật học còn phát huy trực giác, tuệ giác ở cấp độ cao, để người học Phật có thể trở
thành hành giả, trải nghiệm, tự thân chứng ngộ và giải thoát. Trong khi các khoa
học, triết học khác, ở mức đào tạo cao nhất chỉ đơn thuần đào tạo ra một học giả có
khả năng nghiên cứu độc lập.
Học Phật là một quá trình, và đương nhiên người học Phật thường trải qua
những lớp học sơ cơ theo từng cấp học, để có thể tham dự vào môi trường Phật học
cao hơn như học viện hay trường đại học. Tuy nhiên, sẽ rất thiếu sót nếu như người
học Phật lại không thể được tiếp cận và trải qua những quá trình tu tập cụ thể ở các
tự viện, nơi có những bậc chân tu khả kính rèn giũa và giúp trải nghiệm giáo lý một
cách căn bản. Chính quá trình tu tập giới, định, tuệ căn bản này mà những hạt nhân
Phật học nảy mầm và phát triển nhanh chóng ở các cấp học Phật học. Thậm chí, ở
những nơi có truyền thống giáo dục sơn môn tốt, dù không phải trường đại học hay
học viện, nhưng vẫn có thể sản sinh ra những học giả, hành giả đáng kính nể, một
khi quá trình tu tập chín muồi để công phu giới, định có thể phát triển trí tuệ ở mức
cao nhất, lợi ích nhất đối với công cuộc hoằng truyền chính pháp.
13
Ở Ấn độ cổ đại, có thể nói đại học Nālandā là trung tâm giáo dục nổi tiếng
nhất của Phật giáo. Ngài Nghĩa Tịnh, ngài Huyền Trang từng sống và tham học tại
đại học Nālandā. Theo ghi chép của 2 Ngài đại học này có hơn 3.000 sinh viên. Có
khi số lượng sinh viên lên 10.000. Tứ sự đều được cung cấp miễn phí cho sinh
viên. Sinh viên đến từ mọi miền của Ấn độ và ngay cả nước ngoài như Tây tạng,
Trung quốc, Triều Tiên, Thái Lan, Miến Điện, Lào, Campuchia, Tích Lan, Nhật
Bản, Việt Nam vv…Luật nhập học rất nghiêm khắc chỉ có những ai thông thạo
được những kinh nghiệm rèn luyện cần thiết trước khi đi truyền bá giáo pháp. Thật
sự trong suốt 49 năm thuyết pháp độ sanh đức Phật đã gặp nhiều cuộc tranh luận,
giải thích với Bà-la-môn, Kỳ-na giáo và những câu hỏi được hội chúng đặt ra.5
1.1.2. Ở trong nước
Dân tộc Việt Nam trải qua các đời vua chúa phong kiến đã chú trọng việc
giáo dục thi tuyển nhân tài cho đất nước. Giáo dục Phật giáo có vai trò hết sức quan
trọng trong giáo dục Việt Nam, nó ăn sâu trong dòng máu và tâm hồn người Việt từ
bao giờ không hay, như người ta hay nói: đừng làm ác, kiếp người, nợ trần gian hay
hiền như Bụt, v.v.. Cái trọng tâm của giáo dục Phật giáo là cứu lấy, giải thoát con
người từ bờ U Mê, Vô Minh đến bờ Giác Ngộ, An Lạc, muốn vậy phải có sự quản
lý chặt chẽ, giáo dục xuyên suốt, cho nên giáo dục Phật giáo được xây dựng trên
nền tảng ba phương diện: Giáo dục đạo đức (Giới), giáo dục chuyển hóa (Thiền) và
giáo dục tri thức giải quyết những vấn nạn (Tuệ). Hay nói cách khác: Giới là sự
quản lý, sự kìm chế, sự kiểm soát, Định hay Thiền là sự chuyển hóa, hay là sự suy
niệm tìm ra phương pháp, Từ thiền định, người tu tiến dần đến trí tuệ.
Tại Việt Nam, Luy Lâu được xem là một Trung tâm nghiên cứu và truyền bá
đạo Phật đầu tiên lại khá đồ sộ nhưng đứng về mặt giáo dục và đào tạo Tăng Ni thì
các ngôi chùa lại đóng vai trò cơ bản và quan trọng. Các ngôi chùa lần lượt được
xây dựng, khởi từ vị khai sơn, vị trụ trì và một số ít Tăng chúng, sự giáo dục,
truyền thọ hình thành trong từng chùa, biệt lập, đơn lẽ. Tuy thế, nhà chùa lại có thể
được xem là những trường học đầu tiên của đất nước. Kể từ trước và suốt thời kỳ
Bắc thuộc, nhân dân lầm than cơ cực, bị áp bức đủ mọi mặt, chỉ riêng giới tu sĩ
5
S.C.Ghosh, The History of Education in Ancient India: c.3000 BC to AD 1192 (New Delhi: Muns hinram Manoharlal Publis hers,
2001), 130 f.
15
vài ba chục đến một trăm, lại nữa, hầu hết các trường lớp không mở được lâu dài,
phần lớn là do thời cuộc, do tài chánh, nhân sự. Từ những năm 50, 60, các trường
Phật học viện, tu viện được tổ chức tương đối quy củ và có chất lượng, tuy vậy số
Tăng Ni được đào tạo cũng rất hạn chế. Ta có thể kể: Phật học viện Việt Nam, tức
Phật học viện Hải Đức Nha Trang (1956), Phật học đường Phước Hòa ở Trà Vinh
(1956), Tu viện Nguyên Thiều ở Bình Định (1956), Ni học viện Tăng già ở Sài
Gòn (1957), Ni học viện Từ Nghiêm ở Sài Gòn (1960). Sau đó, Phật học viện Pháp
Hội, về sau chuyển sang chùa Xá Lợi, có một chương trình Đại học Phật học khá
hoàn bị và khi Đại học Vạn Hạnh được thành lập năm 1968 tại Saigon thì giáo dục
Phật giáo đã có cấp học cao nhất với nhiều phân khoa của Đại học đúng nghĩa.
Công cuộc giáo dục Tăng Ni đến đây đã có bước tiến dài, nội dung Giới
Định Tuệ được giảng dạy cụ thể, đầy đủ với tổ chức chặt chẽ, phương pháp sư
phạm đúng đắn và lực lượng giáo sư, giảng viên khá mạnh. Cái mới nữa là Tăng Ni
sinh còn được học nhiều môn ngoại điển, phù hợp với sự tiến triển của thời đại. Rõ
ràng Đại học Vạn Hạnh ngoài số đông sinh viên nam nữ Phật tử gồm nhiều ngàn
người, số Tăng Ni sinh ở phân khoa Phật học khá đông và ở các khoa khác cũng
không phải là ít. Tuy nhiên, một hệ thống giáo dục Phật giáo đúng nghĩa vẫn chưa
được hình thành về phần giáo dục và đào tạo cơ bản, tức là chưa thường xuyên và
chưa có hệ thống tổ chức đối với các trường Sơ cấp, Trung cấp, Cao đẳng….
Trong nước có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về quản lý giáo dục, quản
lý trường học, quản lý hoạt động dạy học, v.v..cũng như có rất nhiều đề tài thạc sĩ
nghiên cứu về giải pháp nâng cao chất lượng dạy học ở các vùng miền, các cấp
học. Tuy nhiên, nghiên cứu dừng lại ở hệ thống giáo dục thế học, còn một hệ thống
giáo dục Phật học chưa được ai nghiên cứu.
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài.
1.2.1. Hoạt động dạy học ở trường Phật học
17
18
Để hiểu được bản chất của hoạt động dạy học trong trường phật học, chúng ta
cần làm sáng tỏ: 8
- Mục đích, mục tiêu dạy học: có vai trò quan trọng là định hướng cho sự vận
động và phát triển của toàn bộ quá trình hoạt động dạy học và của mỗi thành tố là
tăng ni sinh. Bên cạnh đó cùng với sự thay đổi nhanh chóng của khoa học hiện đại
thì đòi hỏi ở tăng ni sinh có năng lực tự học tự nghiên cứu, thói quen học tập
thường xuyên và học tập suốt đời mọi lúc mọi nơi.
- Nội dung hoạt động dạy học quy định hệ thống những tri thức, kiến thức, kỹ
năng, kỹ xảo và thái độ mà tăng ni sinh cần nắm vững kiến thức. Trong bối cảnh xã
hội hiện nay đang biến đổi, thì nội dung dạy học đang được đổi mới theo các nước
Phật giáo phát triển, hiện đại hóa nội dung dạy học, nhân văn hóa nội dung dạy
học, đề cao tính truyền thống trong nội dung dạy học.
- Phương pháp dạy học là một trong những yếu tố quan trọng nhất của quá
trình dạy học và luôn là trung tâm chú ý của các nhà giáo dục Phật giáo các nước
phương pháp dạy học hình thành động cơ nhận thức, nâng cao tính tích cực, độc
lập, sáng tao của tăng ni sinh, phát huy năng lực vận động, vận dụng tri thức trí tuệ
vào thực tiễn của mỗi tăng ni sinh.
- Phương tiện dạy học các thiết bị hiện đại cho phép đưa vào hoạt động dạy
học những nội dung sinh động và hứng thú làm thay đổi phương pháp và hình thức
tổ chức dạy học.
- Nguồn lực (bao gồm nguồn lực tài chính) học viện Phật giáo hiện đại hóa
tài chính do chính giáo hội đài thọ. Về chất lượng, quy mô, phạm vi phục vụ, phải
mang tính chất phục vụ chúng sanh.
Để minh định rõ ràng mối tương quan giữa Thế Tôn với hàng đệ tử và nhấn
mạnh tầm quan trọng của sự tự mình nỗ lực, kiên trì, và tự phát huy những gì mình
8
Trung cấp chỉ có vài chục Tăng Ni, cơ sở vật chất còn thiếu thốn. Đặc biệt, chương
trình giảng dạy dù đã được ban hành lại không được thực hiện đồng bộ, do thiếu
20
giảng viên. Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh đã thay đổi chương
trình học và điều lệ chiêu sinh, gây ra sự bất ngờ mất cân đối tại một số trường
Trung cấp Phật học và hầu như tách khỏi sự quản lý của Ban Giáo dục Tăng Ni
Trung ương. Sự liên hệ của ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương với Học viện Phật
giáo Khmer Nam tông vừa mới được thành lập cũng chưa được liền lạc. Nói chung,
chúng ta chưa có một hệ thống giáo dục Tăng Ni chặt chẽ, hợp lý.
1.2.3. Quản lý và Quản lý nâng cao chất lượng dạy học ở trường Phật học
Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý lên
khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung.
Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý
trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn
lực trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích
của tổ chức với hiệu quả cao nhất”.
Theo Thái Văn Thành thì: “Quản lý là sự tác động có mục đích có kế hoạch
của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra”.
Theo Trần Kiểm trong giáo trình “Quản lý giáo dục và trường học” đã nhận
định: “Quản lý chất lượng hoạt động dạy học là quá trình dạy của giáo viên và quá
trình học của học sinh. Đây là hai quá trình thống nhất gắn bó hữu cơ ” 9.
Quản lý nâng cao chất lượng hoạt động dạy - học thực chất là những tác
động của chủ thể quản lý vào quá trình dạy học nhằm hình thành và phát triển toàn
diện nhân cách của TNS theo mục tiêu đào tạo của các trường Phật giáo. Mục tiêu
quản lý chất lượng hoạt động dạy học là cở sở, là nền tảng cho việc xác định các
mục tiêu quản lý khác trong trường học.
Quản lý nâng cao chất lượng hoạt động dạy học ở trường Phật học là tổ chức
dạy học, đổi mới phương pháp dạy học đi đôi với phương pháp kiểm tra đánh giá
TNS, phối hợp chùa chiền, bổn sư trường Phật học để quản lý việc tự học của TNS.
- Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch nâng cao chất lượng dạy học:
Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của TNS: thường xuyên, định kỳ tổng kết, phân
22
tích kết qủa đánh giá nguyên nhân, phản hồi thông tin đến người dạy người học,
bổn sư TNS.
b) Tiếp cận theo các thành tố cơ bản của quản lý dạy học: quản lý hoạt động
dạy; quản lý hoạt động học; quản lý các điều kiện phục vụ dạy học
Trong luận văn này chúng tôi theo cách tiếp cận thứ 2: coi nội dung quản lý
nâng cao chất lượng dạy học đó là quản lý nâng cao chất lượng dạy của thầy; quản
lý nâng cao chất lượng học của trò; quản lý các điều kiện phục vụ nâng cao chất
lượng dạy học của nhà trường.
1.3. Một số vấn đề về hoạt động dạy học ở trường Phật học ở Việt nam
1.3.1. Khái quát về hệ thống đào tạo Tăng Ni sinh
Ngành giáo dục Tăng Ni có nhiệm vụ đào tạo TNS thành những tu sĩ Phật
giáo chân chính. Học để tu, học để hoằng pháp và giúp đời, trong đó tu là chính, tu
từ khi bước chân vào chùa cho đến khi chấm dứt cuộc đời. Học để trau dồi đạo đức
và trí tuệ, để thuận lợi hơn trên con đường tiến đến giải thoát tối hậu.
Ở Việt Nam, từ sau ngày đất nước thống nhất, sau một thời gian khá dài vận
động và chuẩn bị, đến năm 1981, Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập,
thống nhất 9 tổ chức và hệ phái Phật giáo. Lại phải mất vài năm để củng cố, ổn
định tổ chức và sinh hoạt, Giáo hội đã hoạt động khá mạnh mẽ và từ đó đến nay, đã
đạt được nhiều thành quả khả quan. Nổi bật nhất là việc giáo dục và đào tạo Tăng
Ni. Trong vòng 30 năm trở lại đây, hiện đã có 33 trường cơ bản Phật học trên toàn
quốc, 4 Học viện Phật giáo Việt Nam và 9 lớp Cao đẳng Phật học. Đó là chưa kể
các lớp Phật học riêng lẻ tại các chùa, các khóa đào tạo giảng sư của ban Hoằng
Trị sự Tỉnh Thành hội Phật giáo, các cơ sở giáo dục và đặc biệt là chư vị Bổn sư
của các TNS cần nhất trí với chủ trương đào tạo Tăng Ni đạo hạnh, cần đẩy mạnh
việc đưa Tăng Ni vào hệ thống giáo dục do GH thiết lập, cần lấy đó làm tiêu chuẩn
để bổ nhiệm chức vụ, giao phó công tác Phật sự. TNS có thể trở thành những con
24
người tài ba, có những đóng góp hiệu quả cho đất nước, nhưng nếu không được đào
tạo trong hệ thống giáo dục của Giáo hội thì đấy không phải là đối tượng ưu tiên để
được Giáo hội bổ nhiệm giao phó công tác Phật sự sau này.
1.3.2. Hoạt động dạy học ở các trường Phật học
Mục tiêu dạy học ở các trường Phật học Thành phố Hồ Chí Minh để đào tạo
Tăng Ni thật sự có tài, có đức, thật tu thật học, là nhân tố kế thừa cho Giáo hội.
Mục tiêu dạy học ở Học viện phải đảm bảo chuẩn kiến thức, kỹ năng, đạo
hạnh của từng môn học, của mỗi hoạt động giáo dục. Mỗi môn học, mỗi hoạt động
dạy học đều có chuẩn kiến thức, kỹ năng, chuẩn phẩm hạnh đạo đức. Mỗi giai đoạn
dạy học đều xác định kiến thức, kỹ năng, đạo hạnh trong từng giai đoạn.
Mục tiêu dạy học trên cơ sở kiến thức căn bản, về đạo hạnh làm nền tảng của
TNS, đảm bảo tính thống nhất, tính khả thi của từng môn học, đảm bảo chất lượng
kiến thức thế học và Phật học.
Mục tiêu dạy học trước mắt để rồi xây dựng cái lâu dài, cho đến khi đạt cứu
cánh. Cái mục tiêu trước mắt là cái tùy thuận nhân duyên, là những phương tiện để
đạt cứu cánh giải thoát. Mục tiêu dạy học của đức Phật “chuyển pháp luân vô
thượng mà giáo hóa chư Bồ tát, giáo hóa, an lập vô số chúng sanh, khiến họ an trú
vào đạo chơn chánh vô thượng chuyển ác thành thiện, chuyển phàm thành thánh”10
Chương trình; Nội dung dạy học ở các trường Phật học Xây dựng phong
trào học tập trong toàn thể tăng ni sinh, xây dựng môi trường giáo dục đa dạng hoá
các hình thức đào tạo, loại hình học tập, tăng cường đầu tư cho giáo dục từ ngân
sách Giáo hội, tiếp tục thể chế hoá chủ trương chính sách của nhà nước về xã hội
triển trí tuệ, để sáng tạo, để chuyển hóa, chuyển hóa tinh thần, chuyển hóa tâm,
chuyển hóa từ cái ác sang cái thiện, vì tâm là chủ tất cả mọi hành động, tâm đi đầu
mọi hành động.
Trong dạy học cũng như hoằng pháp, đức Phật đã từng dạy: “Hãy ra đi, các
thầy Tỳ khưu, đem sự tốt đẹp đến nhiều người, đem hạnh phúc đến nhiều người. Vì
lòng từ bi, hãy đem sự tốt đẹp, lợi ích và hạnh phúc lại cho chư thiên và nhân loại,