1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRỊNH THỊ NGA
PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG HỘI THOẠI CHO HỌC
SINH TIỂU HỌC TRONG DẠY HỌC TIỀNG VIỆT
Chuyên ngành: Giáo dục học (Bậc tiểu học)
Mã số
: 60.1401
LUẬN VĂN THẠC SỸ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn: TS. Chu Thị Thủy An
VINH- 2005
2
Lời cảm ơn
Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, chúng tôi xin trân trọng cảm ơn Tiến sỹ
Chu Thị Thuỷ An, ngời thầy đã hết lòng tận tình hớng dẫn, giúp đỡ chúng
tôi trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn thành luận văn Phát triển
kĩ năng hội thoại cho học sinh tiểu học trong dạy học tiếng Việt !
Chúng tôi xin đợc bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy giáo, cô giáo giảng
dạy, các phòng - ban của trờng Đại học Vinh đã tạo điều kiện và giúp đỡ
chúng tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu đề tài!
Chúng tôi cũng xin chân thành cảm ơn Sở Giáo dục & Đào tạo Nghệ An,
1.2. Hành vi ngôn ngữ và hội thoại...
1.2.1. Hành vi ngôn ngữ...
1.2.2. Hành vi ở lời trực tiếp ....
1.2.3. Hành vi ở lời gián tiếp ...
1.3.Vai trò của môn Tiếng Việt trong việc phát triển kỹ năng hội
thoại cho HS tiểu học.
1.3.1. Kỹ năng hội thoại ..
1.3.2. Vai trò của môn Tiếng Việt với việc phát triển kĩ năng hội thoại...
1.4. Đặc điểm ngôn ngữ của học sinh tiểu học với việc phát triển kỹ
năng hội thoại..
1.4.1. Đặc điểm ngôn ngữ của học sinh tiểu học ...
1.4.2.. Đặc điểm ngôn ngữ hội thoại của học sinh tiểu học..
Chơng 2: Cơ sở thực tiễn
2.1. Chơng trình, sách giáo khoaTiếng Việt với việc phát triển kĩ
năng hội thoại.
2.1.1. Nội dung Tập làm văn của chơng trình Tiếng Việt Cải cách
giáo dục với việc phát triển kĩ năng hội thoại . .
2.1.2. Nội dung Tập làm văn của chơng trình Tiếng Việt mới với
việc phát triển kĩ năng hội thoại
2.1.3. Nhận xét.
2.2. Thực trạng dạy học phát triển kĩ năng hội thoại cho học sinh
tiểu học trong môn Tiếng Việt..
2.2.1. Thực trạng nhận thức của giáo viên tiểu học..
1
1
2
4
4
4
3.1. Các điều kiện để phát triển kĩ năng hội thoại cho HS tiểu học.
3.2. Một số phơng pháp phát triển kĩ năng hội thoại...
3.3. Xây dựng hệ thống bài tập dạy học hội thoại
3.3.1. Một số yêu cầu của bài tập hội thoại...
3.3.2. Hệ thống bài tập phát triển kỹ năng nghe ...
3.3.3. Hệ thống bài tập phát triển kỹ năng nói...
3.4. Quy trình dạy học hội thoại...
4.1.Quy trình chung......
4.2. Quy trình dạy học cụ thể...
3.5. Tiểu kết chơng 3....
3.6 Tổ chức thực nghiệm s phạm....
3.6.1. Mục đích thực nghiệm....
3.6.2. Đối tợng thực nghiệm...
3.6.3. Nội dung và cách thức tiến hành....
3.6.4.Tiêu chí đánh giá kết quả thực nghiệm....
3.6.5. Phân tích kết quả thực nghiệm....
kết luận.....
Tài liệu tham khảo....
Phụ lục...
53
58
63
70
70
73
76
85
85
Tiếng Việt
TLV
Tập làm văn
CCGD
Cải cách giáo dục
NTLN
Nghi thức lời nói
BT
Bài tập
Pprltm
Phơng pháp rèn luyện theo mẫu
6
Phần mở đầu
1- Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Mục tiêu giáo dỡng của môn học Tiếng Việt trong nhà trờng Tiểu
học hiện nay là giúp học sinh có kỹ năng sử dụng phơng tiện ngôn ngữ để học
tập và giao tiếp.
Xuất phát từ mục tiêu này, chơng trình Tiếng Việt ở Tiểu học đã đặt vấn đề
Chơng trình cũng cha đa ra đợc các chỉ dẫn cụ thể và phù hợp về phơng
pháp dạy học nên đa số giáo viên đều dạy theo cảm tính và kinh nghiệm bản thân;
việc đánh giá kĩ năng hội thoại của học sinh cũng cha có các tiêu chí cụ thể nên
giáo viên còn rất nhiều lúng túng.
Từ những phân tích trên, chúng tôi thấy rằng "Phát triển kỹ năng hội
thoại cho học sinh tiểu học trong dạy học tiếng Việt" là một vấn đề có tính thời
sự, đòi hỏi phải có những công trình nghiên cứu để tháo gỡ những khó khăn về lí
thuyết cũng nh thực tiễn mà các nhà trờng tiểu học đang gặp phải.
2- Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Vấn đề liên quan mật thiết đến việc dạy và học tiếng mẹ đẻ là lý thuyết
hội thoại. Vì vậy, việc nghiên cứu ngôn ngữ hội thoại, ngôn ngữ lời nói là một
mảng đề tài lớn đợc nhiều nhà ngôn ngữ học trên Thế giới quan tâm: L.austin
(1962), D.Winderlich (1972), O.Jacques (1976), E.Roulet (1980), J.Lyons (1980),
J.Searle (1972), Martinet (1986), L.Hagege (1985) và F. armengaud (1993)đều
có công trình nghiên cứu về hội thoại.
2.2. ở Việt Nam, trong những năm gần đây đã có nhiều tác giả có các công
trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề hội thoại và hành vi ngôn ngữ nh: Đỗ Hữu
Châu, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Đức Dân, Lê Đông, Hoàng Tuệ, Hoàng Phê,
Nguyễn Văn Hiệp, Bùi Minh Yến, Trần Thị Thìn, Hồ Lê, Hoàng Trọng Phiến,
Nguyễn Thị Quy, Đỗ Thị Kim Liên... Những công trình của các tác giả này đã đi
sâu nghiên cứu những vấn đề nh: cấu trúc hội thoại, các vận động hội thoại, các
yếu tố kèm ngôn ngữ, các quy tắc hội thoại, ngữ nghĩa lời hội thoại của lý thuyết
hội thoại và một số vấn đề về: cấu trúc của hành vi ở lời, điều kiện sử dụng hành
8
vi ở lời, những vấn đề hiện nay về các hành vi ngôn ngữ.
Có thể nói, việc công bố những công trình nghiên cứu về lý thuyết hội thoại
của các tác giả đã mở ra một hớng mới trong dạy và học tiếng Việt ở các nhà trờng phổ thông nói chung và trờng tiểu học nói riêng.
2.3. Tuy nhiên, từ trớc đến nay, việc ứng dụng lý thuyết hội thoại vào dạy
trò giao tiếp... và các loại bài tập căn cứ vào thao tác nhận biết hành vi ngôn ngữ ở
lời nh nhóm bài tập tiền nhận biết, nhóm bài tập lựa chọn và nhóm bài tập sắp
xếp, nhóm bài tập sáng tạo
Tóm lại, vấn đề ứng dụng Lý thuyết hội thoại, trong dạy học tiếng Việt ở
tiểu học đã có tác giả đề cập đến. Nhng cha có một công trình nào đề cập đến một
cách có hệ thống và toàn diện về nội dung và phơng pháp phát triển kỹ năng hội
thoại của HS tiểu học trong dạy học tiếng Việt.
Tuy vậy, những bài viết này đã mở ra cho chúng tôi một hớng nghiên cứu
mới. Đó là việc ứng dụng lý thuyết hội thoại vào dạy học tiếng Việt tiểu học chơng trình mới nhằm phát triển kĩ năng hội thoại cho học sinh.
3. Mục đích nghiên cứu
2.1.Bớc đầu ứng dụng một số vấn đề của lí thuyết Ngữ dụng học vào việc
xây dựng phơng pháp phát triển kĩ năng hội thoại cho học sinh tiểu học.
2.2. Góp phần giải quyết những khó khăn, vớng mắc của giáo viên khi
dạy- học các kiểu bài tập hội thoại trong phân môn Tập làm văn - chơng trình
Tiếng Việt mới.
4. Đối tợng, khách thể nghiên cứu
4.1.Đối tợng nghiên cứu
Phơng pháp phát triển kỹ năng Hội thoại cho học sinh tiểu học.
4.2. Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học tiếng Việt ở tiểu học.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu lí thuyết hội thoại và đặc điểm ngôn ngữ của học sinh Tiểu học.
- Tìm hiểu thực trạng của việc phát triển kĩ năng hội thoại cho học sinh
10
trong dạy học tiếng Việt theo chơng trình tiểu học mới.
- Đa ra một số đề xuất về phơng pháp phát triển kỹ năng hội thoại cho
học sinh tiểu học.
- Tổ chức thực nghiệm s phạm để kiểm tra tính hiệu quả của phơng pháp
hình thức hoạt động căn bản này . [12. tr 276]
Sách Tiếng Việt 12 cho rằng: Hội thoại là hoạt động giao tiếp bằng
lời (bằng miệng) giữa các nhân vật giao tiếp nhằm trao đổi các nội dung miêu tả
và liên cá nhân theo đích đợc đặt ra [11. tr 3]
Đỗ Thị Kim Liên đã đa ra một định nghĩa cụ thể hơn về hội thoại: Hội thoại
là một trong những hoạt động ngôn ngữ thành lời giữa hai hoặc nhiều nhân vật trực
tiếp, trong một ngữ cảnh nhất định mà giữa họ có sự tơng tác qua lại về hành vi ngôn
ngữ hay hành vi nhận thức nhằm đi đến một đích nhất định [21. tr 18].
Đợc gắn với hành vi phát ngôn, Hồ Lê đa ra quan niệm khác về hội thoại:
Phát ngôn hội thoại là kết quả của một hành vi phát ngôn đợc kích thích bởi một sự
kiện hiện thực (kể cả hội thoại hoặc một xung động tâm lý của ngời phát ngôn, có liên
quan đến những ngời có khả năng trực tiếp tham gia hội thoại, nó tác động vào anh ta
khiến anh ta phải dùng lời để phản ứng lại và hớng lời nói của mình vào những ngời
có khả năng trực tiếp tham gia hội thoại ấy, trên cơ sở của một kiến thức về cấu trúc
câu và về cách xử lý mối quan hệ giữa phát ngôn và ngữ huống và của một dự cảm về
hiệu quả của lời nói ấy đối với ngời thu ngôn hội thoại trực tiếp [20. tr 180]
Nguyễn Quang Ninh định nghĩa: Hội thoại là hoạt động giao tiếp bằng
miệng giữa các nhân vật tham dự giao tiếp nhằm trao đổi những thông tin hoặc
trao đổi t tởng, tình cảm,.. theo một mục đích đã đợc đặt ra. [29. tr 41]
12
Theo từ điển Tiếng Việt: Hội thoại là sử dụng một ngôn ngữ để nói
chuyện
với nhau. [39. tr 444]
Tóm lại, theo chúng tôi: Hội thoại là sử dụng ngôn ngữ để trao đổi thông
tin hoặc t tởng, tình cảmvới nhau bằng miệng.
Hoạt động hội thoại hình thành là do vận động trao lời và trao đáp của
nhân vật giao tiếp. Mục đích của hội thoại là giao tiếp, là làm mất đi sự khác
biệt, đối lập, thậm chí là trái ngợc nhau về các mặt: hiểu biết, tâm lý, tình cảm,
1.1.2.2. Vận động đáp lời
Khi đã có trao lời mà không có đáp lời thì không thành hội thoại. Khi đã có
trao lời và đáp lời thì hình thành một vận động trao đáp, hình thành một hội thoại.
Vận động trao lời và vận động đáp lời là hai vận động cơ bản của hội thoại.
Vận động trao đáp chịu sự chi phối bởi:
- Sự có mặt của ngời nghe trong lời trao và trong lời đáp.
- Vị thế giao tiếp.
1.1.3. Cấu trúc hội thoại
Cấu trúc hội thoại do các đơn vị hội thoại tổ chức lại làm thành. Cấu trúc này gồm:
1.1.3.1. Hành vi ở lời
Khi tìm hiểu về câu, chúng ta thấy một câu gồm có: một nội dung miêu
tả (sự vật) và một cách thức nói năng nào đó để thể hiện nội dung miêu tả.
Cách thức nói năng này chính là hành vi ở lời.
Ví dụ, ta có một nội dung miêu tả sau đây: Bây giờ là 9 giờ.
Với nội dung miêu tả này, ta có những hành vi ở lời khác nhau:
- Bây giờ là 9 giờ. ( hành động miêu tả, kể )
- Bây giờ là 9 giờ phải không ?( hành động hỏi)
- Bây giờ đã là 9 giờ rồi đấy ! ( hành động nhắc nhở)
- Bây giờ mà đã 9 giờ rồi à ! ( hành động tỏ ý nghi ngờ)
Nh vậy, là từ một lõi miêu tả, chúng ta có thể có nhiều hành vi ở lời
14
khác nhau. Ta gọi nội dung miêu tả của câu là lõi miêu tả, còn hiệu quả mà các
hành vi ở lời mang lại cho ngời nghe là lực ở lời. Khi tiếp nhận hành vi ở lời, ngời
nghe cần phải có một hành vi ở lời khác thích hợp đáp lại. Ví dụ, khi tiếp nhận hành
vi hỏi Bây giờ là 9 giờ phải không ? thì ngời nghe sẽ phải đáp lại Phải, bây giờ
đúng là chín giờ, hoặc Không phải, bây giờ mới tám giờ. Các hành vi ở lời kiểu
Bây giờ là 9 giờ phải không ?đòi hỏi một hành vi hồi đáp đợc gọi là hành vi ở lời
dẫn nhập. Hành vi hồi đáp và hành vi ở lời dẫn nhập làm thành từng cặp kế cận.
- Các đơn vị đơn thoại
Đó là những đơn vị do một ngời tạo ra trong một lần trao lời. Đơn vị đơn
thoại gồm có:
+ Tham thoại
Tham thoại là đơn vị đơn thoại do một ngời nói ra cùng với các tham thoại
khác lập thành một cặp thoại.
+ Hành vi ngôn ngữ
Đơn vị tối thiểu tạo nên một tham thoại là một hành vi ngôn ngữ.
Mỗi một tham thoại cần đợc đáp lại bằng một hành vi ở lời tơng ứng,
phù hợp. Nhng một tham thoại có thể do nhiều hành vi ngôn ngữ tạo nên, song
trong đó chỉ có một hành vi đòi hỏi ngời nghe phải dùng hành vi ở lời tơng ứng
đáp lại, còn hành động kia thì không cần.
Ví dụ: - Trời nóng quá ! Mở cửa sổ ra đi Mai ơi !
- ừ, mình mở đây.
Trong tham thoại thứ nhất có hai hành vi ngôn ngữ. Hành vi thứ nhất bày tỏ
ý kiến về thời tiết và hành vi thứ hai là lời đề nghị, yêu cầu mở cửa sổ. Nhng ở hai
hành vi này chỉ cần dùng một hành vi ở lời tơng ứng đáp lại là đủ.
1.1.4. Các quy tắc hội thoại
Trong bất kỳ một cuộc hội thoại nào, muốn giao tiếp đạt hiệu quả thì
những ngời tham gia hội thoại phải nắm đợc các quy tắc nói năng để chủ động
tạo ra những lời nói phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp miệng. Hay nói cách khác,
16
để việc giao tiếp đợc tiến hành thuận lợi, những ngời tham gia hội thoại phải
tuân thủ các quy tắc sau:
1.1.4.1. Quy tắc thơng lợng hội thoại
Đó là sự thoả thuận công khai (hoặc thoả thuận ngầm ẩn) của những
ngời tham gia giao tiếp về hình thức, về nội dung, về vị thế, và về cấu trúc hội
thoại để việc giao tiếp đợc tiếp tục diễn ra theo hớng đã định. Điều đó có nghĩa
phải biết nhờng lời, phải biết dừng lại để lắng nghe và phải nhận biết đợc dấu hiệu
kết thúc (nh ngữ điệu, hoặc sự có mặt của các từ kiểu nh: nhé, nhớ, à, đấy, hả,
phải không, quá,...) để sẵn sàng tiếp lời làm cho cuộc hội thoại diễn ra liền mạch.
Mỗi lần A nói hay B nói đợc coi là một lợt lời.
Ví dụ: A: Bé con đi đâu sớm thế ?
B: Đón thầy mo về cúng cho mẹ ốm.
{TV3, tập 1, tr112}
Trong sự luân phiên lợt lời này những cặp kế cận là lõi của cuộc hội thoại.
Cặp lợt lời kế cận là những cặp có sự hoà phối chặt chẽ với nhau.
Ví dụ:- Con vẽ gì đấy?
- Con ngựa đấy, mẹ ạ!
Hay: - Tên em là gì?
- Tên em là Lan.
Hai cặp lợt lời trên là hai cặp kế cận.
Nhng những lợt lời dới đây không phải là một cặp kế cận:
Ví dụ: - Bố cháu đã về cha?
- Bố cháu đi lúc 8 giờ sáng rồi.
Việc chỉ định và phân phối lợt lời sẽ không đặt ra đối với những cuộc
song thoại mặt đối mặt. ở những cuộc đối thoại này thông thờng ngời đang nói,
nói xong thì ngời nói sau sẽ tiếp lời. Nh vậy, muốn cho cuộc hội thoại có kết
quả tốt thì phải vận hành quy tắc luân phiên lợt lời.
1.1.4.3. Quy tắc liên kết hội thoại
Trong hội thoại, nếu giữa các lời của nhân vật hội thoại không có liên kết
thì cuộc hội thoại sẽ không xẩy ra.
Sự liên kết hội thoại này đợc thể hiện ở cả nội dung lẫn hình thức hội thoại.
- Về nội dung, các lợt lời phải thống nhất về đề tài, nghĩa là cùng hớng tới
một nội dung hiện thực nhất định. Sẽ không có sự liên kết hội thoại về mặt nội
19
- Canh ngon lắm, chỉ cái hơi mặn một chút thôi.
- Cho tớ mợn cái bút của cậu một lúc nhé!
Trong hội thoại nguyên tắc này còn đòi hỏi chúng ta đừng xâm phạm lãnh
địa hội thoại của ngời khác, đừng trả lời thay, đừng nói hớt, đừng cớp lời, giành
phần nói của ngời khác. [12, tr 292]
Ví dụ: ở xã hội á Đông, hỏi về đời t, tuổi tác là đợc phép, là tỏ ra quan tâm
tới ngời đợc hỏi. Trái lại, ở xã hội phơng Tây thì đề tài đó lại bị xem là không lịch
sự, là "dí mũi" vào đời t ngời khác.
1.1.4.5. Quy tắc khiêm tốn
Quy tắc này đòi hỏi ngời nói không nên nói về mình quá nhiều. Đặc biệt
ngời nói càng không nên tự khen, tự đề cao hay tán dơng bản thân mình. Điều
này khiến ngời nghe khó chịu.
Hãy nói về mình ít thôi, hãy hạ mình đi một chút thì hiệu quả giao tiếp
sẽ tăng lên. Đây là điều chú ý khi hội thoại.
Ví dụ: Mình chơi cầu lông không giỏi đâu, nhng chúng ta thử đánh vài
hiệp có đợc không?
Hay: - Bài toán này khó quá, bạn có thể giảng giúp mình đợc không?
1.1.4.6. Quy tắc cộng tác
Chỉ có ngời nói không có ngời nghe hoặc ngợc lại chỉ có ngời nghe
không có ngời nói thì không thành hội thoại. Khi có cả hai rồi thì họ phải có sự
cộng tác với nhau thì hội thoại mới diễn ra đợc.
Vì thế khi nói, ngời nói phải nói những thông tin đúng với đích đặt ra,
không nói những điều gì không đúng hoặc cha chắc chắn, cha đủ bằng chứng,
tránh lối nói tối nghĩa, nói mập mờ, nói phải ngắn gọn, rõ ràng và nói những gì
có quan hệ với nội dung hội thoại.
1.1.4.7. Quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân phép lịch sự
- Anh có thể bỏ giúp tôi lá th đợc không?
- Quy tắc khuyến khích tình cảm bạn bè. Quy tắc này thích hợp với những
bạn bè gần gũi hoặc thật sự thân mật với nhau. Theo quy tắc này thì đã là bạn bè
phải chân tình, thẳng thắn, không phải rào đón, hàm ẩn khi nói chuyện với nhau.
Ví dụ:
Bạn lấy cho tôi cái ấm!
21
Đừng có làm nh thế, không hay đâu!
Tóm lại, những quy tắc hội thoại đã chứng minh rằng, hội thoại - sự giao
tiếp bằng ngôn ngữ - không phải là sự kiện ngẫu nhiên, tùy tiện, không có quy
luật. Nhng đây cũng cha phải là toàn bộ những nguyên tắc có thể chi phối hội
thoại. Các nguyên tắc này khá linh hoạt, mềm dẻo và dễ dàng bị vi phạm,
chuyển hóa tùy theo các hoàn cảnh giao tiếp cụ thể. Tuy vậy, những quy tắc đợc nêu trên là quy tắc chính nên khi hội thoại chúng ta phải tôn trọng những
quy tắc này thì hội thoại mới thành công.
1.2. Hành vi ngôn ngữ và hội thoại
1.2.1.Hành vi ngôn ngữ
Thực chất đơn vị nhỏ nhất của hội thoại là cặp trao - đáp. Mỗi cặp trao đáp
bao gồm các hành vi ngôn ngữ. Hành vi ngôn ngữ có tính chất đơn thoại trong cấu
trúc hội thoại. Đó là hành động phát ngôn, hành động nói năng.
Đỗ Hữu Châu viết: Khi chúng ta nói năng là chúng ta hành động, chúng ta
thực hiện một loạt hành động đặc biệt mà phơng tiện là ngôn ngữ. [13, tr. 88]
Xét trong quan hệ hội thoại, các hành vi ngôn ngữ có thể chia thành hai
nhóm: những hành vi có hiệu lực ở lời và những hành vi liên hành vi. Những
hành vi có hiệu lực ở lời tức là những hành vi có hiệu lực thay đổi quyền lực
và trách nhiệm của ngời tham gia hội thoại. Theo cách hiểu của O.Ducrot thì
hành vi ở lời là những hành vi xét trong quan hệ giữa các tham thoại của các
A - Hồng có nhà không cậu?
B - Có, hỏi làm gì thế?
Lời của B có hai hành vi: Có: mang chức năng thông tin; Hỏi làm gì thế? Có
chức năng ở lời dẫn nhập buộc B phải cung cấp thông tin thúc đẩy cuộc hội thoại tiếp
tục.
Hay: A - Hè này cậu đi nghỉ mát ở đâu?
B - Tớ định đi Sầm Sơn
23
A - Sầm Sơn, tuyệt vời ! (không nhằm trực tiếp vào nhân vật tham
gia hội thoại)
Trong hội thoại, những ngời tham gia sử dụng ngôn ngữ để thuyết giải cho
nhau nghĩa của các sự kiện hiện hữu hay tiềm ẩn vây bọc xung quanh họ, từ đó rút
ra những hệ quả cho những hành động đã qua hoặc sẽ tới của họ. [12,tr.146]
Hội thoại là địa bàn ở đó phép lịch sự phát huy tác dụng. Theo phép lịch sự,
các hành vi ở lời lại có thể sử dụng theo hai cách: trực tiếp và gián tiếp nhằm tôn
vinh thể diện của ngời đối thoại.
1.2.2. Hành vi ở lời trực tiếp là hành vi đợc thực hiện bằng những phơng
tiện ngôn ngữ chuyên dùng cho nó.
Ví dụ: - Hành vi hỏi thờng đợc thực hiện một cách trực tiếp bằng câu nghi
vấn có chứa những phơng tiện ngôn ngữ chuyên dùng nh:
Đại từ nghi vấn: ai, gì, nào, đâu,..
Cặp phụ từ nghi vấn: có..không, đã...cha,..
Tiểu từ nghi vấn: à, ừ, chăng, sao,...
Quan hệ từ nghi vấn: hay (trong cấu trúc hỏi lựa chọn)
- Hành vi cầu khiến thờng đợc thực hiện một cách trực tiếp bằng câu khiến
có chứa những phơng tiện chuyên dùng biểu thị ý nghĩa cầu khiến nh:
Phụ từ: hãy , đừng, chớ,..
Tiểu từ tính thái: đi, thôi, nào, với, đã
chuẩn bị (có khả năng thực hiện A - có hút thuốc lá) thì hỏi ngời đối thoại (ngời nghe)
về khả năng thực hiện A nghĩa là yêu cầu thực hiện A (cho một điếu thuốc)
Có những hành vi ngôn ngữ đợc dùng với hiệu lực ở lời gián tiếp và đợc lặp
lại, trở thành một thứ quy ớc, có tính chất là một nghi thức ngôn ngữ trong giao tiếp.
Đó là những câu hỏi để chào nh: Anh có khoẻ không? Đi đâu đấy?... hay những câu
trách móc: Về đây làm gì nữa? Sao mà về sớm thế? Sao không đi luôn đi?
Hành vi ở lời gián tiếp đợc thực hiện bởi các biểu thức ngữ vi nguyên cấp
(biểu thức không có động từ nói năng). Trong đó, biểu thức nghi vấn có nhiều khả
năng diễn đạt các đích giao tiếp theo lối gián tiếp, hàm ẩn hơn cả. Chẳng hạn:
Hành vi chào: Bác ăn cơm cha?
Hành vi mời: Chị ơi, chị có mua rau không? Rau của em non lắm.
Hành vi đe doạ: Mày có im đi không?
25
Hành vi chê bai: Sao mà nó lắm mồm thế?
Nh vậy, các hành vi ở lời gián tiếp đợc thực hiện không chỉ thông qua các
điều kiện sử dụng hành vi ở lời trực tiếp mà chúng còn bị quy định bởi phép lịch
sự, bởi các quy tắc hội thoại, bởi các phơng châm hội thoạiViệc thực hiện hành
vi ngôn ngữ với hiệu lực ở lời gián tiếp chắc chắn sẽ đa chúng ta vào sự sống
động, phong phú, đa dạng của hoạt động ngôn ngữ, nó giúp chúng ta ý thức đợc
và lý giải từng bớc cái sự thật là: trong giao tiếp thờng nhật, chúng ta truyền báo
đợc nhiều hơn điều mình nói ra. Sự hiểu biết sâu sắc các cách thức tạo các hành vi
ở lời gián tiếp là cơ sở tạo nên sự tinh tế, tế nhị trong giao tiếp.
1.3. Vai trò của môn Tiếng Việt trong việc phát triển kỹ năng hội thoại
cho HS tiểu học
1.3.1. Kỹ năng hội thoại
1.3.1.1. Kỹ năng là những hành động thực hành mà học sinh có thể thực
hiện trên cơ sở những kiến thức thu nhận đuợc và về sau những hành động thực
hành này lại giúp HS thu nhận đợc những kiến thức mới.