TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
GÓP PHẦN KHẢO SÁT THÀNH PHẦN
FLAVONOID TRONG CÂY CỎ LÀO
(CHROMOLAENA ODORATA L.)
HỌ CÚC (ASTERACEAE)
Luận văn Tốt nghiệp
Ngành: Sư Phạm Hóa Học
Giáo viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
ThS. Ngô Quốc Luân
Đặng Minh Khiêm
Lớp: Sư phạm Hóa Học K33
Mã số sinh viên: 2071987
Cần Thơ, 2011
Góp phần khảo sát thành phần flavonoid trong cây cỏ lào - Chromolaena odorata L.
MỞ ĐẦU
Từ xa xưa, khi chưa có các dược phẩm tổng hợp, con người đã biết sử dụng các
loại thảo mộc có nguồn gốc từ thiên nhiên để chữa các bệnh từ đơn giản đến những căn
bệnh nan y. Điều trị theo cách này tuy mang lại những hiệu quả nhưng cũng tồn tại
những mặt hạn chế.
Hầu hết mọi cây cỏ đều chứa từ hàng nghìn đến hàng vạn hợp chất khác nhau. Có
I. TỔNG QUAN VỀ CÂY CỎ LÀO [1], [10], [12]
I.1 Hình thái
Cây cỏ lào còn có tên là yên bạch, cỏ hôi, cỏ Việt Minh, cây Cộng sản (herbe
communiste), cây lốp bốp, cây ba bớp, cây bù xích, cỏ tàu bay, cỏ làm, cỏ kali, cây phân
xanh, cây chùm hôi, cỏ nhật, nhã nhật (Tày), muồng mung phia (Dao), hay tên tiếng Anh
là fragrant thoroughwort, bitter bush, jack in the bush, siam weed, triffid weed... và tên
tiếng Pháp là langue de chat, eupatoire odorante… Tên khoa học: Chromolaena odorata
L. hay Eupatorium odoratum L. (King & Robinson), chi Eupatorium L., thuộc họ Cúc
(Compositae hay Asteraceae).
Thân cây nhỏ, cao 1-2 m, mọc thành bụi, phân nhiều cành ngang. Thân tròn, hình
trụ thẳng, màu nhạt có rãnh và lông nhỏ mịn.
Lá mọc đối, lúc non gần như hình tam giác, khi cây trưởng thành lá biến dạng
thành hình quả trám lệch. Dài 6-8 cm, rộng 2-4 cm, gốc thuôn vát, đầu nhọn, có ba đường
gân chính, mép có răng cưa to, hai mặt trên xanh đậm hơn hai mặt dưới. Lá non có màu
nâu tím, hai mặt lá đều có lông mịn nên chạm vào da có cảm giác ngứa, cuống lá dài 1-2
cm. Vò lá và cành non có mùi thơm hắc.
Hoa mọc thành cụm ở đầu cành thành ngù kép, gồm nhiều hoa có mùi thơm, tụ
hợp thành hình đầu dài khoảng 1 cm. Hoa màu trắng khi còn non, có ánh tím nhạt khi đã
nở rộng. Mỗi cụm hoa có lá bắc xếp thành 3-4 hàng, có lông, mào lông có sợi đều. Tràng
hoa loe dần từ gốc, bao phấn không có tai. Mùa hoa từ tháng 11-12 dương lịch.
Quả bế, hình thoi, có năm cạnh và cũng có lông. Khi khô có thể bay xa theo gió,
nhờ vậy mà cỏ lào có khả năng phát triển lan rộng nhanh. Mùa hoa quả tùy vào khí hậu
từng vùng.
Rễ cọc dạng chùm không đều nhau, màu trắng ngà. Chung quanh gốc mọc nhiều
tua rễ, mỗi tua gồm một cọng chính, chung quanh cọng chính mọc nhiều rễ phụ phân
nhánh.
Cỏ lào khi còn là cây con nhìn rất giống cây hy thiêm (Siegesbeckia orientalis L.),
khi lớn thì phân biệt rõ ràng. Tuổi thọ của cây khoảng từ 1-2,5 năm.
I.2 Phân bố-sinh thái
Eupatorium L. là một chi lớn trong họ Asteraceae. Trên thế giới có khoảng 400
loài, đa số là cây bụi, cây bụi nhỏ hoặc cây thân thảo. Là loài cây ưa sáng, chịu được khí
hậu hanh khô. Phân bố tập trung ở vùng nhiệt đới châu Mỹ, châu Phi, châu Á. Vùng ôn
đới ấm ở châu Âu chỉ có một số ít loài.
Ở Việt Nam chi này có khoảng 10 loài. Trong đó, cỏ lào là loài cây bụi sống lưu
niên quen thuộc nhất, thích hợp với vùng khí hậu chí tuyến. Nằm trong diện quan trọng
của thảm thực vật. Cỏ lào có nguồn gốc từ đảo Antilles, sau đó phát tán sang nhiều nước
Nam Mỹ, Tây - Nam Phi, quanh vùng Địa Trung Hải, đặc biệt là các nước vùng Đông
Nam Á.
Các nước trên thế giới có nhiều cỏ lào như: Brazil, Colombia, Australia, Congo,
Nigieria, Ivory Coast, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam…
Ở Việt Nam, cỏ lào thường gặp ở nhiều nơi từ các tỉnh đồng bằng đến các tỉnh miền
trung du và đồi núi thấp. Cỏ lào là cây ưa sáng, chịu hạn và có thể sống được trên mọi
loại đất, mọc tương đối tập trung trên những diện tích lớn ở đồi, nhất là nương rẫy đã bỏ
hoang, thảo nguyên, bìa rừng. Do đó, có thể xem cỏ lào là loại cây tiên phong số một
trong quá trình diễn thế thứ sinh trên đất sau canh tác.
Cỏ lào ra hoa và kết quả nhiều hàng năm. Với số lượng hạt giống nhiều, lại phát
tán nhờ gió nên cỏ lào có khả năng chiếm lĩnh và mở rộng vùng phân bố cực nhanh. Cây
phát tán hoang dại, mọc rất khỏe, phát triển tốt vào mùa mưa.
Cây có thể sinh sản vô tính rất mạnh. Ngọn non, cành già bẻ trụi lá, cắm xuống đất
chỉ một tuần sau là mọc rễ trắng. Chặt cây sát gốc càng đâm chồi mạnh. Mãi đến năm
1935, các nhà thực vật học mới ghi nhận cây cỏ lào ở Việt Nam. Mặt khác, cỏ lào có
những vai trò rất quan trọng đối với phong trào cộng sản Việt Nam trong những năm
1935-1945. Cỏ lào tươi có thể dùng làm thực phẩm, cầm máu vết thương, ngụy trang cho
quân đội. Vì vậy, nó còn có tên là cỏ Nhật, cỏ Việt Minh, cây Cộng sản.
I.3 Tác dụng dƣợc lý
I.3.1 Trong dân gian
- Về công dụng trong y học, từ lâu dân gian đã biết dùng cỏ lào để cầm máu,
kháng viêm, chữa lành các vết thương phần mềm, vết bỏng và trị một số bệnh do nhiễm
trực khuẩn mủ xanh hoặc bệnh sẽ nặng nếu dùng thuốc nhỏ mắt có cocticoid): Ngọn cỏ
lào và lá non 50g rửa thật sạch, giã nát trong cối chày sạch. Dùng 2 miếng gạc sạch chia
thuốc gói thành 2 gói. Đặt vào bát sạch, cho vào nồi áp suất hấp (15 phút kể từ lúc thấy xì
hơi). Nếu không có nồi áp suất có thể hấp cách thủy 30 phút (kể từ lúc nước sôi đến lúc
ngừng đun). Mắt nạn nhân rửa sạch bằng nước muối 2% đun sôi để nguội, đắp gói thuốc
rồi băng lại, để nạn nhân nằm ngửa. 12 giờ thay thuốc một lần. Nếu bệnh nhẹ thì 24 giờ
là khỏi.
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
-5-
ĐẶNG MINH KHIÊM
Góp phần khảo sát thành phần flavonoid trong cây cỏ lào - Chromolaena odorata L.
+ Tiêu chảy - kiết lỵ: Quả na điếc 20 g đốt tồn tính, cỏ lào ngọn non 50g, gạo tẻ
(rang thật vàng) 30g. Tất cả sắc với 400 ml nước còn 100 ml, uống làm 2-3 lần trong
ngày.
+ Chữa sai khớp và bong gân: Cây cỏ lào dùng lá non và cành rửa sạch, sao nóng
đắp vào vết thương rồi băng chặt.
+ Phòng đỉa cắn: Giã lá cỏ lào xoa khắp chân đùi trước khi lội xuống nước.
+ Chữa đỉa cắn, chảy máu không ngừng: Vò lá cỏ lào xát vào chỗ đỉa cắn, máu sẽ
cầm ngay.
I.3.2 Trong hóa y - dược học [10]
Cao chiết với cồn của cả cây cỏ lào (trừ phần rễ) có tác dụng chống co thắt cơ trơn
gây bởi histamine và acetylcholine trên hồi tràng cô lập chuột lang. Đã có nghiên cứu xác
minh tác dụng cầm máu và làm mau liền sẹo của cỏ lào.
Đã có nghiên cứu sử dụng cao lá cỏ lào để điều trị tại chỗ vết thương phần mềm
lượng vượt trội. Nghiên cứu trên bệnh nhân bỏng cho thấy, thuốc mỡ Eupolin sản xuất từ
cây cỏ lào có hiệu quả ức chế vi khuẩn mạnh, kích thích biểu mô phát triển, làm nhanh
liền vết thương và giảm sưng viêm.
Th.S Mai Mạnh Tuấn, Khoa Nghiên cứu Đông y Thực nghiệm bệnh, Viện Y học
Cổ truyền Trung ương cho biết: Dịch chiết từ lá cây cỏ lào, ở những nồng độ nhất định có
tác dụng kích thích sự tăng trưởng của tế bào gốc dây cuống rốn. Đây sẽ là cơ sở để tiến
hành nghiên cứu các chế phẩm điều trị bệnh nan y. Ngoài ra còn có tác dụng chữa vết
thương ở mắt do xước hoặc loét giác mạc.
I.3.3 Các công dụng khác
- Cỏ lào chứa nhiều đạm (N: 2,65% trọng lượng khô), lân (P2O5: 0,03% trọng
lượng khô), và kali (K2O: 1,9% trọng lượng khô) nên được dùng làm phân xanh rất tốt.
- Ngâm nát cỏ lào trong nước ruộng, ao 1-2 ngày có tác dụng diệt một số loại ấu
trùng có thể phát triển thành sâu bọ hay động vật có hại cho nông nghiệp.
- Làm thuốc trừ hay xua đuổi sâu mọt.
- Bón trực tiếp cỏ lào tươi trong đất có thể làm giảm tuyến trùng có hại cho cây
trồng.
II. MỘT SỐ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÂY CỎ LÀO [4]
II.1 Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam
- Năm 1989, công trình nghiên cứu cho luận án phó tiến sỹ khoa học y dược của
Trương Minh Kháng (Học Viện Quân Y Hà Nội), đã nghiên cứu tách chiết cao toàn phần
của cỏ lào và các dạng bào chế của nó như cao lỏng, cao đặc, thuốc mỡ (SH-91) để điều
trị vết thương, vết bỏng.
- Phát triển từ công trình này, Viện Bỏng Quốc Gia đã trực tiếp nghiên cứu và
hoàn thiện quy trình sản xuất thuốc mỡ Eupolin có nguồn gốc nguyên liệu từ cây cỏ lào
để điều trị bỏng. Kết quả này được công bố từ ngày 28/06/2006.
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
-7-
Công nghệ Hóa học) đã ly trích tinh dầu và khảo sát thành phần hóa học cây cỏ lào. Kết
quả đã thu được tinh dầu cỏ lào và các flavonoid như: odoratin, ombuin, 5,7-dihydroxy4-methoxyflavanone, 3,5,7-trihydroxy-4-methoxyflavone, 4,2’-dihydroxy-4’,5’,6’-
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
-8-
ĐẶNG MINH KHIÊM
Góp phần khảo sát thành phần flavonoid trong cây cỏ lào - Chromolaena odorata L.
trimethoxychalcone. Tinh dầu và các flavonoid này đều được thử nghiệm hoạt tính sinh
học, kháng oxi hóa, kết quả có khả năng kháng một số loại vi khuẩn gram âm, gram
dương, nấm men, nấm mốc.
- 2010, Đào Thị Vân Trang, Đào Hùng Cường (Trường Đại học Sư phạm, Đại học
Đà Nẵng) đã khảo sát quá trình chiết flavonoid từ lá cây cỏ lào. Kết quả đã xác định được
điều kiện chiết thích hợp: tỉ lệ H2O:EtOH = 1:1, tỉ lệ nguyên liệu rắn:dung môi = 1:25,
nhiệt độ: 85oC, thời gian là 3 giờ.
II.2 Các công trình nghiên cứu trên thế giới
- 1967-1969, Ahmad M., Nabi MN. đã khảo sát thành phần hóa học của lá cỏ lào.
Kết quả thu được một số alcol béo sterol và flavonoid từ cao EtOH và PE.
- 1974, Talapatra S.K. và các cộng sự đã có công trình nghiên cứu về thành phần
hóa học của cỏ lào. Kết quả thu được một số flavonoid và tritecpen từ cao PE.
- 1978, Baruah RN. và cộng sự đã công bố công trình nghiên cứu thành phần hóa
học và đi sâu về hợp chất flavonoid trong cây cỏ lào mọc ở Ấn Độ. Kết quả cho thấy đã
xác định được cấu trúc của bảy hợp chất thuộc ba nhóm: flavone, flavonone, chalcone.
- 1993, Dieneba Bamba và các cộng sự đã công bố kết quả nghiên cứu thành phần
hóa học và thử hoạt tính sinh học của tinh dầu cỏ lào ở Bờ Biển Ngà. Kết quả cho thấy
thành phần tinh dầu cỏ lào có khoảng 38 hợp chất, trong đó có 26 hợp chất đã được xác
(4,2%).
- 2004, Apichart Suksamrarn (Đại học Ramkhamhaeng, Thái Lan) và cộng sự đã
công bố công trình nghiên cứu hoạt tính kháng khuẩn gây bệnh lao phổi (mycobacterium)
và độc tính tế bào của các hợp chất flavonoid từ hoa cỏ lào. Kết quả cho thấy đã cô lập và
nhận danh được 8 hợp chất thuộc 3 phân nhóm: flavanone, chalcone và flavone.
- 2005, Nisit Pisutthanan (Đại học Chiang Mai, Đại học Naresuan, Thái Lan) đã
công bố công trình nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của cỏ lào
mọc ở Thái Lan. Kết quả cho thấy cao chiết DMC/H2O phần trên mặt đất của cỏ lào có
hoạt tính kháng một số chủng vi khuẩn gây bệnh cho người và kháng viêm khá tốt. Đã cô
lập và xác định được 15 hợp chất flavonoid trong đó có một hợp chất hoàn toàn mới,
trong số 14 flavonoid còn lại có 6 hợp chất lần đầu tiên được cô lập từ loại cây này.
- 2005, Owoyele VB, Adediji JO và Soladoye AO (Đại học Ilorin, Nigieria) đã có
công trình khảo sát hoạt tính kháng viêm của cao chiết nước lá cỏ lào trên chuột. Kết quả
cho thấy với liều lượng 200mg/kg thì có hiệu quả đến 80,5%.
- 2006, A. Ngono Ngane (Đại học Douala, Cameroun) đã công bố kết quả nghiên
cứu hoạt tính kháng viêm của cao chiết nước và EtOH của lá cỏ lào. Theo báo cáo thì cao
này có thể kháng được các loại nấm như: Cryptococcus neoformans, Microsporum
gypseum, Trichophyton mentagrophytes và Trichophyton rubrum với nồng độ thấp.
- 2006, Nisit Pisutthanan (Đại học Chiang Mai, Đại học Naresuan, Thái Lan) tiếp
tục công bố kết quả nghiên cứu thành phần hóa học của tinh dầu các bộ phận trên mặt đất
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
- 10 -
ĐẶNG MINH KHIÊM
Góp phần khảo sát thành phần flavonoid trong cây cỏ lào - Chromolaena odorata L.
của cỏ lào mọc tại Thái Lan. Thành phần chính tinh dầu cỏ lào gồm: pregeijerence
11
Pipette Pasteur
20
Cân kỹ thuật
3
Ống đong các loại 12
Pipette nhựa
21
Cân phân tích
4
Lọ thủy tinh 50ml 13
Giá ống nghiệm
22
Tủ sấy
5
25
Túi vải
8
Ống nghiệm
17
Lưới amiang
26
Tủ hút
9
Bình sắc ký
18
Muỗng nhựa, inox
27
Bản mỏng sắc ký
I.2 Hóa chất
H2SO4đđ
II. NGUYÊN LIỆU
II.1 Thu hái nguyên liệu
Nguyên liệu là lá cây cỏ lào, được thu hái tại Khu II – Trường Đại học Cần Thơ.
Cỏ lào được thu hái vào 08/2010, thời điểm này đang vào mùa mưa nên cây trong
giai đoạn phát triển xanh tốt, chưa có hoa.
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
- 12 -
ĐẶNG MINH KHIÊM
Góp phần khảo sát thành phần flavonoid trong cây cỏ lào - Chromolaena odorata L.
II.2 Xử lý nguyên liệu
Cỏ lào tươi chứa hàm lượng nước khá cao, lá cỏ lào nhẹ hơn nhiều so với các bộ
phận khác, chẳng hạn như thân (nhiều xenlulose) nên cùng lượng cân thì hàm lượng các
chất tập trung nhiều ở lá. Vì vậy, lá là nguyên liệu được dùng chủ yếu.
Lá sau khi thu hái đem về loại bỏ những lá sâu, úa, rửa sạch, để khô tự nhiên ở
nhiệt độ phòng. Sau đó đem sấy khô trong tủ sấy ở nhiệt độ 50-60oC đến khối lượng
không đổi, vò nát thành bột.
Hình 7: Nguyên liệu tươi
Hình 9: Ngâm dầm
Sau 3 lần thực hiện, kết quả được trình bày ở bảng sau:
Bảng 3: Độ ẩm lá cỏ lào
Khối lượng mẫu (g)
Lần 1
Lần 2
Lần 3
23,35
24,39
22,67
Trung bình (g)
23,47
Độ ẩm A (%)
76,53
Vậy độ ẩm lá cỏ lào nguyên liệu là 76,53%.
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
- 14 -
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
- 15 -
ĐẶNG MINH KHIÊM
Góp phần khảo sát thành phần flavonoid trong cây cỏ lào - Chromolaena odorata L.
V. ĐỊNH TÍNH SƠ BỘ THÀNH PHẦN HÓA HỌC CÂY CỎ LÀO [4], [6], [7], [11]
V.1 Khảo sát sự hiện diện của các hợp chất steroid
* Cân 1g bột khô, cho vào 20ml CHCl3 và ngâm trong 2 giờ. Sau đó lọc lấy dịch
trong là mẫu thử.
* Thuốc thử:
- Salkowsky: H2SO4đđ (1ml).
- Libermann-Burchard: (CH3CO)2O (20ml), H2SO4đđ (1ml).
* Tiến hành: Cho vào ống nghiệm 1ml dịch mẫu, nghiêng ống và nhỏ từ từ từng
giọt đến hết 1ml các thuốc thử theo thành ống nghiệm. Để yên quan sát.
- Thuốc thử Salkowsky: Nếu dung dịch có màu đỏ đến nâu đỏ là dương tính.
- Thuốc thử Libermann-Burchard: Nếu thấy xuất hiện một vòng ngăn cách giữa hai lớp
chất lỏng có màu từ hồng đến xanh lá là dương tính.
V.2 Khảo sát sự hiện diện của các hợp chất flavonoid
* Đun hoàn lưu 5g bột mẫu trong 50ml EtOH 95% trong 30 phút. Lọc lấy dịch
trong làm mẫu thử.
* Thuốc thử: HClđđ + Mgbột + alcol isoamylic, dung dịch (CH3COO)2Pb bão hòa,
dung dịch FeCl3 1%.
* Tiến hành: Cho vào ống nghiệm 1ml dịch mẫu, thêm vài giọt HClđđ, sau đó cho
một ít bột Mg vào và lắc. Thêm từ từ từng giọt alcol isoamylic, để yên quan sát nếu thấy
xuất hiện vòng màu hồng hay dung dịch có màu tím thì có flavonoid trong mẫu.
Dung dịch mẫu tạo kết tủa màu xanh lục đen với dung dịch FeCl3 1%, kết tủa
10ml. Bịt miệng ống nghiệm rồi lắc theo chiều dọc của ống trong 15 giây. Mỗi giây lắc 2
lần. Để yên trong 15 phút. Sau đó đo chiều cao các cột bọt.
* Chỉ số bọt được tính theo công thức:
CSB 100.
Trong đó:
10
i
CSB: Chỉ số tạo bọt.
i: ống nghiệm thứ i có cột bọt cao 1cm.
* Nếu cột bọt trong các ống nghiệm thấp dưới 1cm (tức chỉ số tạo bọt dưới 100)
thì coi thư không có saponin.
V.4.2 Dựa vào các phản ứng đặc trưng
* Cân 5g bột khô, thêm vào 50ml EtOH 70o và đun cách thủy sôi trong 5 phút rồi
lọc. Cô cạn dưới áp suất kém đến cặn khô. Cặn khô này dùng làm mẫu thử.
* Thuốc thử: Liebermann-Burchard: (CH3CO)2O, H2SO4đđ.
* Tiến hành: Hòa mẫu bằng 1ml (CH3CO)2O, thêm từ từ 0,3-0,5ml H2SO4đđ. Nếu
xuất hiện vòng ngăn cách:
- Có màu hồng đến đỏ tím thì sơ bộ nhận định có saponin triterpenoid.
- Có màu xanh lá cây thì sơ bộ nhận định có saponin steroid.
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
- 17 -
ĐẶNG MINH KHIÊM
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
- 18 -
ĐẶNG MINH KHIÊM
Góp phần khảo sát thành phần flavonoid trong cây cỏ lào - Chromolaena odorata L.
V.7 Khảo sát sự hiện diện của các hợp chất coumarine
* Đun hoàn lưu 5g bột mẫu trong 50ml EtOH 95% trong 30 phút. Lọc lấy dịch
trong làm mẫu thử.
* Thuốc thử: dung dịch NaOH 10% (0,5ml), HClđđ (vài giọt), H2O (12ml), dung
dịch Na2CO3 10% (2ml).
* Tiến hành:
- Phản ứng mở vòng lacton: Cho vào 2 ống nghiệm, mỗi ống 2ml dịch thử, thêm vào 1
trong 2 ống 0,5ml dung dịch NaOH 10%. Đun cả hai ống trên bếp cách thủy đến sôi, lấy
ra để nguội, thêm vào mỗi ống 4ml H2O. Nếu chất lỏng trong ống có kiềm trong hơn ống
không kiềm có thể xem là dương tính. Tiếp tục đem acid hóa ống có kiềm với vài giọt
HClđđ, nếu dung dịch đang trong suốt lại xuất hiện vẩn đục hoặc kết tủa thì đó là dấu hiệu
dương tính.
- Phản ứng diazo hóa: Lấy 2ml mẫu vào ống nghiệm, thêm vào 2ml dung dịch Na 2CO3
10% và 4ml H2O. Nếu dung dịch trong ống chuyển sang màu đỏ thẫm là dương tính.
V.8 Kết quả
Kết quả tổng hợp định tính các nhóm hợp chất có trong cỏ lào được trình bày
trong bảng 4.
Bảng 4: Kết quả định tính các nhóm hợp chất trong cây cỏ lào
STT
Wasicky
Kết tủa hình sao
++
Bouchardat
Kết tủa vàng nâu
+++
Tạo bọt
CSB > 100
+
Libermann-Burchard
Vòng màu đỏ tím
+
(CH3COO)2Pb
Kết tủa vàng nhạt
+++
Tollens
Kết tủa đen
+++
Fehling
Kết tủa đỏ
+++
GLYCOSYDE
Phản ứng mở vòng lacton
7
COUMARINE
Phản ứng diazo hóa
Ống có kiềm trong, acid
hóa thì đục
Dung dịch màu đỏ thẫm
+
+
Chú thích:
+
Góp phần khảo sát thành phần flavonoid trong cây cỏ lào - Chromolaena odorata L.
Bản mỏng được dùng là bản nhôm silicagel 60F254 tráng sẵn, kích thước 20x20
cm, độ dày lớp hấp phụ 2,2mm của hãng Merck, Germany. Khi dùng cắt thành những
bản nhỏ có độ cao 5cm, chiều rộng tùy theo số vết cần chấm.
Silicagel sắc ký cột có kích thước 230-400 mesh, dùng cho sắc ký cột cổ điển của
hãng Himedia, India.
Cột sắc ký nhanh bằng thủy tinh cao 80cm, đường kính 6cm, sản xuất tại Việt
Nam. Các loại dung môi có xuất xứ từ Trung Quốc (PE, EtOAc) và Việt Nam (MeOH,
EtOH).
Khối lượng silicagel nhồi cột là 250g. Khối lượng cao EtOAc là 30g được trộn với
30g silicagel, sau đó xay nhuyễn thành bột đồng nhất, sấy khô. Đổ 500ml PE vào cột
(khoảng 1/4 cột). Sau đó hòa 250g silicagel vào PE tạo thành hỗn hợp sệt rồi đưa lên cột,
xả cột liên tục. Sau khi nhồi cột xong, để qua một đêm cho cột cân bằng. Đưa cao EtOAc
lên cột, rót PE lên đầu cột, bắt đầu sắc ký. PE là dung môi khởi đầu. Hệ dung môi giải ly
là PE:EtOAc có độ phân cực tăng dần. Dung môi giải ly TLC cũng là PE:EtOAc với tỷ lệ
được giữ cố định là 1:1. Thuốc hiện màu là H2SO4 20% trong EtOH.
Hình 11: Sắc ký bản mỏng LA8
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Hình 12: Cột sắc ký
flash
- 21 -
Hình 13: Tinh thể chất LA8
PE = 100%
1500
Không thấy vết
PE:EtOAc = 8:2
400
Vệt kéo dài
0,85
LA7
81 - 86
PE:EtOAc = 8:2
250
Vệt mờ
1,32
LA8
87 - 95
PE:EtOAc = 7:3
400
Vết đậm kéo dài
PE:EtOAc = 7:3
300
Vệt kéo dài
1,79
LA12
124 - 131
PE:EtOAc = 6:4
350
Nhiều vết
1,33
LA13
132 - 139
PE:EtOAc = 6:4
350
Nhiều vết
PE:EtOAc = 5:5
450
Nhiều vết
2,20
LA17
178 - 190
PE:EtOAc = 5:5
600
Nhiều vết
1,72
LA18
190 - 211
EtOAc = 100%
1050
Không thấy vết
VII. KHẢO SÁT CẤU TRÚC HÓA HỌC VÀ NHẬN DANH [2], [3], [4], [5], [9]
LA8 là chất rắn, kết tinh trong EtOAc cho tinh thể dạng tấm, màu vàng, tan tốt
trong MeOH, EtOH, DMSO, mp = 220-222oC (EtOAc).
Rf = 0,37 (PE:EtOAc = 1:1).
* Phổ 1H-NMR (DMSO, δ ppm) cho mười mũi tín hiệu proton:
2 mũi đơn trong khoảng 3,84-3,85: 6 proton của hai nhóm -OCH3 gắn vào vòng thơm.
5 mũi trong khoảng 6,33-7,72 là tín hiệu của các proton loại C-H kề nối đôi, trong đó:
. 1 mũi đôi đôi (dd): 1 proton (7,68).
. 4 mũi đôi (dd): 4 proton (6,33; 6,68; 7,08; 7,72).
3 mũi đơn ở 9,29; 9,52 và 12,43: 3 proton của 3 nhóm -OH.
Vậy LA8 có tất cả 14 proton.
* Các phổ
13
C-NMR (CDCl3, δ ppm), kết hợp với DEPT90, DEPT135 cho thấy chất
LA8 có 17 mũi tín hiệu carbon:
Phổ DEPT90 cho 5 mũi dương trong khoảng 91,9-119,8 gồm các carbon loại C-H kề
nối đôi.
Phổ DEPT135 cho 7 mũi dương nằm trong khoảng 55,6-119,8, ngoài 5 mũi dương đã
xuất hiện trong phổ DEPT90 còn xuất hiện thêm 2 mũi dương nằm trong khoảng 55,6-56:
2 carbon của hai nhóm -OCH3 gắn vào vòng thơm (55,6; 56). Không xuất hiện mũi âm
chứng tỏ LA8 không có carbon loại -CH2-.
10 mũi còn lại không xuất hiện trên phổ DEPT nên có thể kết luận chúng là những
carbon bậc 4 (không gắn trực tiếp với proton):
. 9 mũi trong khoảng 104-164,9: 9 carbon bậc bốn (104; 123,5; 136,5; 146,4; 147;
149,6; 156,2; 160,5 và 165,1)
. 1 mũi ở 176: carbon của nhóm C=O đặc trưng của hợp chất flavone.
Vậy LA8 có tất cả 17 nguyên tử carbon.
146,7
3
136,4
136,4
4
176,0
176,0
5
160,4
160,3
97,4
97,4
164,9
164,9
91,9
4’
149,4
149,4
6
6,33
LA5-14
13
6,35
7
8
2’
6,68
7,72
6,71
7,73
5’
3,84
3,86
55,6
55,6
3’-OH
9,29
9,30
3-OH
9,52
9,53
5-OH
12,43
12,44
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
- 24 -