Rèn luyện một số kỹ năng sống cho học sinh thông qua dạy học môn tự nhiên và xã hội ở lớp 3 (KL03759) - Pdf 33

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

PHẠM THỊ HƯƠNG THẢO

RÈN LUYỆN MỘT SỐ KỸ NĂNG SỐNG CHO
HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN
TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 3
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tự nhiên và xã hội

HÀ NỘI, 2011


PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Sự nghiệp giáo dục với mục tiêu trọng tâm, xuyên suốt là hướng tới đào tạo
con người Việt Nam phát triển toàn diện (về nhận thức, trí tuệ, phẩm chất đạo
đức...); trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành
và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân; đáp ứng yêu cầu
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (theo điều 2, chương 1, Luật Giáo dục 2005). Mục
tiêu của GDTH là nhằm “hình thành ở HS những cơ sở ban đầu của sự phát triển
đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ…” (theo điều 27, Luật
Giáo dục 2005). Có thể nói, chất lượng giáo dục bậc Tiểu học không chỉ quyết
định nền tảng cho sự hình thành nhân cách cá nhân mà còn là căn cứ quan trọng
để đánh giá chất lượng giáo dục của mỗi quốc gia. Vì vậy, nâng cao hiệu quả và
chất lượng GDTH đã và đang là mối quan tâm hàng đầu của các tổ chức, cá nhân
và toàn xã hội.
Tốc độ phát triển nhanh chóng của xã hội trên mọi lĩnh vực (kinh tế, văn hóa,
thương mại, trao đổi và hợp tác quốc tế...) kéo theo những thay đổi trong cuộc

nhiên. Có thể nói đây là môn học có nhiều ưu thế trong việc giáo dục KNS cho
HSTH, nhất là chủ đề “Con người sức khỏe” với các bài cụ thể như vệ sinh cá
nhân, vệ sinh môi trường, phòng chữa bệnh, dinh dưỡng, an toàn ở nhà, ở trường
và nơi công cộng,... là những bài có nội dung liên quan trực tiếp đến cuộc sống
hàng ngày của các em, giúp các em biết được vị trí của mình trong các mối quan


hệ xã hội và biết cách xử lý các mối quan hệ (từ góc độ xã hội học). Hình thức
tích hợp tùy thuộc vào mục tiêu và từng nội dung của từng bài học. Qua đó giúp
các em có bản lĩnh chống lại sự cám dỗ hay tác động xấu cuả môi trường xung
quanh.
GD KNS là vấn đề cần thiết cho mọi đối tượng, ở mọi nơi. Đây là vấn đề đặc
biệt quan trọng và cần thiết với học sinh Tiểu học. Việc tiếp cận KNS qua dạy
học trong đổi mới giáo dục trong thực tế chưa được như mong đợi, vì nội dung
bài học còn dài và cách thiết bài học chưa phản ánh tiếp cận KNS của giáo viên
còn hạn chế. Để giáo dục KNS có hiệu quả cần tăng cường tích hợp nội dung
giáo dục KNS và tiếp cận KNS trong quá trình đào tạo thông qua các môn học
trong chương trình học tiểu học.
Trên thế giới và trong nước đã có nhiều tác giả nghiên cứu về lĩnh vực KNS
với nhiều góc độ khác nhau như: Nguyễn Thanh Bình “GD KNS ở Việt Nam”,
Chu Shiu – Kee – Understanding Life skills, Báo cáo tại hội thảo “Chất lượng
giáo dục và KNS”… Tuy nhiên, khi nói đến việc GD KNS cho HSTH, các tác
giả chỉ mới đề cập đến sự cần thiết phải GD KNS cho HS, các quan niệm, các
phương pháp GD KNS như thế nào mà chưa đi sâu tìm hiểu thực trạng thực hiện
GD KNS cho học sinh trong các nhà trường phổ thông.
Những lí do trên là căn cứ để người nghiên cứu lựa chọn đề tài: “Rèn luyện một
số KNS cho HS thông qua dạy học môn TN & XH ở lớp 3”.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả việc rèn luyện KNS cho HS thông
qua dạy học môn TN & XH ở lớp 3.

rèn KNS cho HSTH hiện nay.
6.2.2. Điều tra
Người nghiên cứu sử dụng các phiếu khảo sát để điều tra thực trạng rèn luyện
KNS cho HS thông qua dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở lớp 3; dựa vào đó để
xác định các hướng đề xuất của luận văn.
6.2.3. Phỏng vấn
Việc phỏng vấn GV nhằm bổ sung các thông tin về thực tiễn rèn luyện KNS
cho HS, lấy đó làm một trong các căn cứ cho những đề xuất của luận văn.
6.2.3. Thực nghiệm khoa học
Thực nghiệm sư phạm được tiến hành nhằm đánh giá hiệu quả những đề xuất
của đề tài với việc nâng cao chất lượng rèn luyện KNS cho HS.
6.3. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng thống kê toán học để xử lý, phân tích các số liệu đã điều tra, khảo sát.
7. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được một số biện pháp rèn luyện KNS cho HS thông qua dạy
học môn TN & XH ở lớp 3 dựa trên con đường hình thành kỹ năng nói chung và
phù hợp với đặc điểm của HS từng lứa tuổi thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả
GD KNS cho HS.
8. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của đề tài bao gồm những
chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc rèn luyện kỹ năng sống cho HSTH.


Chương 2: Thực trạng rèn luyện KNS cho HS thông qua dạy học môn TN &
XH ở lớp 3 .
Chương 3: Một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả rèn luyện KNS cho HS
thông qua dạy học môn Tn & XH ở lớp 3



cực. Điều đó làm ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của học sinh tiểu học nói
riêng và học sinh nói chung. Một số gia đình mải mê với công việc mà bỏ bê, sao
nhãng tới việc quan tâm, chăm sóc con cái khiến trẻ bị thiếu hụt về tinh thần.
Một số khác lại thiếu sự hiểu biết, chia sẻ với nhau giữa bố mẹ và con cái buộc
chúng phải tìm đến bạn bè mà chúng cho là có thể tìm thấy lời khuyên. Hoặc có
một số gia đình do hoàn cảnh khó khăn, trẻ phải lang thang kiếm sống. Tỉ lệ li
hôn , bạo lực gia đình tăng, bố mẹ vướng vào các tệ nạn xã hội ngày càng nhiều
đã khiến nhiều trẻ bị bỏ rơi và bị khủng hoảng tinh thần.
Lứa tuổi HSTH bao gồm trể em có độ tuổi 6 – 7 tuổi đến 11 – 12 tuổi. Mỗi
HSTH là một nhân cách đang hình thành, đang phát triển. Các em đều có những
đặc điểm chung của lứa tuổi tiểu học nhưng cũng có những đặc điểm riêng từ cá
tính, tâm lí, trí tuệ, thể chất,…cho đến những nhu cầu khả năng tiềm ẩn. Nhà
trường cần có những chiến lược khơi dậy và phát triển đầy đủ tiềm năng đó.
Theo chương trình mới, GV tập trung vào dạy cách học và HS học cách học,
cách nhận biết nhu cầu và học phương pháp tự học. GV coi trọng và khuyến
khích HS học tập tích cực, chủ động, sáng tạo, tự phát hiện và giải quyết yêu cầu
của bài học. Do đó HS có thể tự chiếm lĩnh các kiến thức: bước đầu biết vận
dụng kiến thức vào việc giải bài tập trên lớp sau đó biết vận dụng sáng tạo vào
việc giải quyết một cách hợp lý các tình huống diễn ra trong đời sống của bản
thân, gia đình và cộng đồng theo cách riêng của mình. Ở lứa tuổi này, hành vi
của các em dễ có tính tự phát, tính cách của các em thường biểu hiện thất


thường, bướng bỉnh. Phần lớn các em có những phẩm chất tốt như vị tha, ham
hiểu biết, hiếu học, hồn nhiên, chân thật,…các em sống hồn nhiên, cả tin trong
các mối quan hệ với bạn bè đồng trang lứa, với người lớn, đặc biệt với thầy cô
giáo. Đến cuối bậc học các en dần chuyển sang lứa tuổi vị thành niên, vì thế tính
cách có sự thay đổi lớn như có xu hướng tò mò, thích khám phá những điều mới
lạ, thích được khẳng định mình, thích làm người lớn. Tuy nhiên, kinh nghiệm
sống còn ít ỏi, suy nghĩ chưa đủ chín chắn để các em trở thành người lớn, dẫn

tiếp cận KNS.
Hiện nay có khá nhiều quan niệm khác nhau về KNS. Tùy từng góc nhìn khác
nhau, người ta có những quan niệm về KNS khác nhau:
- Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), KNS là khả năng để có hành vi thích
ứng và tích cực, giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và
thách thức của cuộc sống hàng ngày.
(Chu Shiu Kee – Understanding Life Swkijlls, Báo cáo tại hội thảo “Chất
lượng giáo dục kỹ năng sống”, Hà Nội 23 – 25/10/2003)
Tương đồng với quan điểm này, Thuyết hành vi đưa ra khái niệm về KNS: Là
những kỹ năng tâm lỹ xã hội liên quan đến tri thức, giá trị, thái độ. Đó là những
hành vi làm cho cá nhân có thể thích nghi và giải quyết có hiệu quả các yêu cầu
và thách thức của cuộc sống. Quan niệm này nhấn mạnh kỹ năng ứng phó nhạy
bén của cá nhân trước những tình huống xảy ra trong cuộc sống.
(Lục Thị Nga: Tích hợp dạy KNS cho HSTH qua môn Khoa học và hoạt động
ngoài giờ lên lớp. NXB GD Việt Nam, 2009, Tr. 10)


- Theo Tổ chức UNICEF, KNS là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành
hành vi mới. Quan niệm này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình
thành thái độ và kĩ năng.
- Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO),
KNS là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào
cuộc sống hàng ngày – đó là những kĩ năng cơ bản như kỹ năng đọc, viết, tính
toán,…
(UNESCO: Kỹ năng sống – Cầu nối tới khả năng con người. Tiểu ban giáo dục
UNESCO 2003)
Từ những quan niệm trên đây, có thể thấy KNS bao gồm một loạt các kĩ năng
cụ thể, cần thiết với cuộc sống hàng ngày của con người. Bản chất của KNS là kĩ
năng tự quản lý bản thân và kĩ năng xã hội để cá nhân tự lực trong cuộc sống,
học tập và làm việc hiệu quả.

Với mục đích giúp cho người học có những kĩ năng ứng phó với các vấn đề
của cuộc sống và tự hoàn thiện mình, UNICEF đưa ra cách phân loại KNS theo
các mối quan hệ như sau:
- Kĩ năng nhận biết và sống với chính mình bao gồm: kĩ năng tự nhận thức,
lòng tự trọng, sự kiên định, đương đầu với cảm xúc, đương đầu với căng thẳng.
- Những kĩ năng nhận biết và sống với người khác bao gồm: kĩ năng quan hệ tương tác liên nhân cách, sự cảm thông – thấu cảm, đứng vững trước áp lực tiêu
cực của bạn bè hoặc của người khác, thương lượng, giao tiếp có hiệu quả.


- Các kĩ năng ra quyết định một cách hiệu quả: Tư duy phê phán, tư duy sáng
tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề
Bloom đưa ra cách phân loại KNS dựa trên cách phân chia các lĩnh vực học tập:
- Nhóm kĩ năng thuộc lĩnh vực nhận thức bao gồm: kĩ năng sáng tạo và tư duy
phê phán.
- Nhóm kĩ năng thuộc lĩnh vực tình cảm là kĩ năng tự nhận thức và thấu cảm,
tự trọng và trách nhiệm xã hội.
- Nhóm kĩ năng thuộc lĩnh vực tâm vận động là kĩ năng quan hệ liên nhân
cách, giao tiếp có hiệu quả, ra quyết định, giải quyết vấn đề, đương đầu với cảm
xúc và căng thẳng.
Tùy thuộc vào những khía cạnh xem xét hoặc những góc độ nhìn nhận mà một
KNS có thể được xếp vào các nhóm KNS mang các tên gọi khác nhau. Có nhiều
cách phận loại như vậy, nhưng dù phân loại theo hình thức nào thì một số kĩ
năng vẫn được coi là những kĩ năng cốt lõi như
- Kĩ năng tự nhận thức
- Kĩ năng giao tiếp
- Kĩ năng xác định giá trị
- Kĩ năng ra quyết định
- Kĩ năng đặt mục tiêu…
Như vậy hướng nghiên cứu đề tài mà người nghiên cứu đưa ra chủ yếu sẽ chỉ
đề cập tới những kỹ năng cơ bản sau:



tuệ được định nghĩa là năng lực hoàn thành các nhiệm vụ trong hoàn cảnh có sự
tương tác với người khác.
Từ những phân tích về KNS và mục tiêu của GD KNS có thể rút ra quan niệm
về GD KNS như sau: “GD KNS là hình thành cách sống tích cực trong xã hội
hiện đại, là xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những thói quen hành
vi tiêu cực trên cơ sở giúp người học có cả kiến thức, thái độ, kĩ năng thích hợp”.
1.2.3. Các nguyên tắc GD KNS
1.2.3.1. Các nguyên tắc thay đổi hành vi
GD KNS có thể vận dụng các nguyên tắc thay đổi hành vi. Vì GD kỹ năng
sống chủ yếu hướng vào thay đổi thói quen, hành vi không tích cực của người
học. Thay đổi hành vi luôn là một việc khó. Viện hàn lâm khoa học Mỹ (NAS)
Đã nghiên cứu và giới thiệu mô hình bảy nguyên tắc thay đổi hành vi của con
người như sau:
(Nguyễn Thanh Bình, Giáo dục kỹ năng sống, giáo trình cao đẳng sư phạm,
NXB ĐHSP, 2007)
- Cung cấp thông tin là điểm khới đầu tất yếu của bất cứ sự cố gắng mong
muốn thay đổi hành vi nào. Thông tin cần dễ hiểu và phù hợp với người học
- Tập trung vào những thông điệp mang tính tích cực, hình thành, duy trì và
củng cố những hành vi mang tính tích cực. Từ đó hướng tới cuộc sống tốt hơn
cho mọi người trong cộng đồng.
- GD theo quy mô nhỏ và cần có một khoảng thời gian đủ lâu để động viên
người tham gia chấp nhận những hành vi mới, có điều kiện dạy mô hình các kỹ
năng cần thiết nhằm đạt được hành vi đó. Qua đó, tiếp tục củng cố những kỹ
năng mới cho đến khi người tham gia cảm thấy có thể thực hiện được những
hành vi lành mạnh.


- Khuyến khích tư duy phê phán trong các tình huống lựa chọn: Mỗi cá nhân

dạy và người học.
1.2.4. Các con đường giáo dục kỹ năng sống
1.2.4.1.Giáo dục kỹ năng sống được thực hiện trước hết trong quá trình giáo
dục ở nhà trường
Năng lực tâm lý xã hội là một quá trình học tập được thực hiện thông qua
truyền thống văn hóa của gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên tốc độ phát triển
kinh tế xã hội đã làm cho con người ngày càng biệt lập và mang tính cá nhân.
Gia đình trở nên nhỏ hơn và con người ít có cơ hội để học khả năng tâm lý xã
hội qua truyền thống và văn hóa cộng đồng hơn trước đây. Mọi người đều hiếu
khả năng tâm lý xã hội và phát triển. Vì vậy cần tăng cường năng lực tâm lý xã
hội cho người học ngay trong đời sống nhà trường thông qua GD KNS. Một số
nghiên cứu nhấn mạnh rằng KNS cần được dạy trong chương trình của nhà
trường hơn là nhiệm vụ biệt lập tách khỏi chương trình bình thường của nhà
trường.
(Brolin & Dalozen 1979, Cipani 1988, Cronin, Lord & Wending 1991, Lewis
& Taymens 1992)
Dạy KNS còn cần phải được chứa đựng trong tất cả các môn khoa học thông
qua nhấn mạnh mối quan hệ giữa học tập và các hoạt động diễn ra trong cuộc
sống hàng ngày. Đồng thời cần coi việc dạy kỹ năng xã hội với tư cách là một
khía cạnh của KNS.


1.2.4.2. GD KNS cho HS thông qua việc tiếp cận 4 trụ cột trong GD
Hội nghị giáo dục thế giới đã làm sáng tỏ một quan điểm rằng: GD muốn bồi
dưỡng năng khiếu và tiềm năng của cá nhân , phát triển cá tính của người học
giúp cải thiện đời sống của họ và thay đổi xã hội thì cần phải chú trọng đến việc
nắm được các kỹ năng. Bên cạnh các kỹ năng thực hành, kỹ năng thể chất, chúng
ta còn cần thêm các KNS – những kỹ năng làm cho con người có thể học và sử
dụng kiến thức để phát triển khả năng phân tích, phán đoán và từ đó con người
làm chủ được cảm xúc, cuộc sống và có quan hệ phù hợp với người khác.

Bước 1: Khám phá
- Mục tiêu: Khuyến khích người học xác định những khái niệm, kỹ năng liên
quan đến bài học.
- Tiến trình: Giáo viên và người học lập kế hoạch để tạo ra trải nghiệm. Giáo
viên giúp người học xử lý các kiến thức đó.
- Các kỹ thuật quan trọng bao gồm: Động não, phân loại, thảo luận, phản hồi,
những câu hỏi đóng mở. Vai trò của giáo viên là lập kế hoạch, bắt đầu, hỏi và
ghi nhận. Vai trò của người học là chia sẻ, trao đổi và phân tích kiến thức của
học bằng cách trả lời các câu hỏi quá trình và ghi nhận thông tin.
Bước 2: Kết nối
- Mục tiêu: Giới thiệu những thông tin và kỹ năng mới bằng cách xây dựng
cầu nối để gắn kết kinh nghiệm trước đó của người học (cái đã biết) và cái chưa
biết (thông tin mới). Kết nối kinh nghiệm của người học và chủ đề bài học.


- Tiến trình: Giáo viên giới thiệu mục tiêu của bài học và liên hệ với những
kiến thức thu nhập được chia sẻ trong bước khám phá. Giáo viên sau đó tổ chức
giới thiệu những thông tin mới và kiểm tra sự nắm bắt thông tin mới đồng thời
cung cấp ví dụ bổ sung ( nếu cần) để người học có thể hiểu được.
- Các kỹ thuật dạy học quan trọng bao gồm: Chia nhóm, trình bày của người
học, thảo luận nhóm, sử dụng các thông tin dạy học, sử dụng mẫu đóng vai…
Giáo viên giả định vai trò của nhà giáo dục, còn người học đóng vai trò của
người tiếp nhận và phản hồi quan điểm của mình, hỏi và trình bày thông tin.
Bước 3: Thực hành
- Mục tiêu: Tạo cơ hội cho người học thực hành sử dụng những kiến thức và
kỹ năng mới trong ngữ cảnh đầy đủ ý nghĩa. Giáo viên đưa ra những hướng dẫn
để người học tránh được những cách thực hiện không đúng do chưa hiểu.
- Tiến trình: Giáo viên giới thiệu hoạt động mà để thực hiện nó người học phải
sử dụng thông tin và kỹ năng mới. Người học làm việc theo nhóm, theo cặp hoặc
cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ. Giáo viên hỏi các câu hỏi để người học phản

thách niềm tin và những suy nghĩ không lành mạnh để từ đó phát triển một triết
lý sống niềm tin mới hiệu quả. Chính triết lý và niềm tin đó làm điểm tựa và chi
phối cho những thái độ và hành vi tích cực mang tính xây dựng làm cho bản thân
học sinh có KNS.
1.2.5.Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục kỹ năng sống
Để đảm bảo chất lượng GD nói chung và chất lượng GD KNS nói riêng cần
phải xem xét đến các yếu tố sau:


1.2.5.1. Tương tác giữa người dạy và người học
Nhìn chung, trung tâm của mọi việc trong GD là tương tác giữa người dạy và
người học. Điều đó có nghĩa là chất lượng được tạo ra trong quá trình tương tác
này.
(Life skills The bridge to human kapabilities, UNESCO euaton sector
positison paper, Draft 13 UNESCO 6/2003)
1.2.5.2. Nội dung chương trình và tài liệu dạy học
Nội dung GD cần phù hợp với kinh nghiệm, nhu cầu của cả HS nam, nữ cũng
như nhu cầu của xã hội. Các chương trình KNS về bất cứ chủ đề nào được coi là
hiệu quả thì cần phải đưa ra mô hình thực hành về kỹ năng tư duy phê phán, kỹ
năng giải quyết vấn đề , kỹ năng ra quyết định ( học để biết), các kỹ năng để tự
kiểm soát bản thân, đương đầu với những cú sốc, tình cảm (học để tự khẳng
định) và các kỹ năng giao tiếp liên nhân cách (học để chung sống với mọi người)
cũng như các kỹ năng thực hành (học để chung sống với mọi người) cũng như
các kỹ năng thực hành (học để làm) để thực hiện những hành vi mong muốn.
Chương trình và tài liệu day – học là những thành tố cốt lõi của giáo dục, là
một phần bổ trợ cho người giáo viên giỏi và người học muốn tìm tòi. Do đó, điều
quan trong với người biên soạn chương trình là phải tính đến cả người dạy và
người học khi xây dựng tài liệu dử dung cách tiếp cận KNS, gắn kết trực tiếp các
ví dụ, hình ảnh minh họa với các kinh nghiệm và hứng thú của cả học sinh nam
và nữ. Ngoài các tài liệu thông thường như: tranh ảnh, tạp chí, sách,… vẫn cần



thảo luận nhóm, rèn luyện,…cũng thường xuyên được sử dụng khi dạy môn học
này, điều này góp phần làm cho việc giáo dục KNS trở nên dễ dàng và hiệu quả
hơn.
Môn TN & XH (lớp 1,2,3), môn Khoa học (lớp 4,5) cũng là những môn học
có chú trọng nhiều đến GD KNS . Trong đó, KNS chủ yếu được GD qua chủ đề
“Con người và sức khỏe” (lớp 1, 2,3,4,5) và chủ đề “Xã hội” (lớp 1, 2, 3).
Những KNS cụ thể mà người nghiên cứu đưa ra sau đây được tích hợp một
cách tương đối đầy đủ qua các môn học: Đạo đức, TN & XH, Khoa học, đó là:
a. Kỹ năng giao tiếp
Hiểu được các quy tắc giáo tiếp chung như: chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi, nói lời
yêu cầu, đề nghị, biết cách ứng xử phù hợp, bày tỏ sự cảm thông, chia sẻ, giúp
đỡ,…với một số đối tượng gần gũi, quen thuộc với các em như: thầy cô giáo, bạn
bè, người thân trong gia đình hoặc đối với những đối tượng đặc biệt như phụ nữ
có thai, người già, người có hoàn cảnh khó khăn, người nước ngoài, người bị
nhiễm HIV/AIDS…
b. Kỹ năng tự nhận thức
Tự nhìn nhận, đánh giá bản thân để xác định được mặt mạnh, mặt yếu của
mình; nhận biết sự thay đổi về tâm lý và sinh lý của bản thân khi bước vào tuổi
vị thành niên. Từ đó hình thành những thái độ, hành vi đúng đắn như: không
hoảng hốt, không lo sợ khi có sự thay đổi về sinh lý, có ý thức giữ vệ sinh ở tuổi
dậy thì, có lối sống lành mạnh về thể chất và tinh thần; hiểu rõ vị trí của mình
trong các mối quan hệ ở nhà, ở trường cũng như ngoài xã hội thông qua các hoạt
động giao tiếp hàng ngày với các thầy cô giáo, bạn bè, người thân và những
người xung quanh.
c. Kỹ năng tự phục vụ và tự bảo vệ




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status