TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
DƯƠNG CẨM TÚ
THỰC TRẠNG LỒNG GHÉP GIÁO DỤC
KỸ NĂNG SỐNG VÀO MÔN ĐẠO ĐỨC 3
TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỐNG ĐA –
VĨNH YÊN – VĨNH PHÚC
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Toán
HÀ NỘI, 2011
1
Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
Hiện nay, nội dung giáo dục kĩ năng sống đã được nhiều quốc gia trên thế
giới đưa vào giảng dạy cho học sinh các trường phổ thông, dưới nhiều hình
thức khác nhau. Chương trình hành động Dakar về Giáo dục cho mọi người (
Senegal – 2000 ) đã đặt trách nhiệm cho mỗi quốc gia phải đảm bảo cho
người học được tiếp cận với chương trình giáo dục kĩ năng sống phù hợp và
kĩ năng sống cần được coi như nội dung của chất lượng giáo dục.
Ngoài ra, nếu xét theo góc độ văn hoá, chính trị, giáo dục kĩ năng sống sẽ
giải quyết một cách tích cực nhu cầu và quyền con người, quyền của công dân
được ghi trong luật pháp Việt Nam và quốc tế. Giáo dục kĩ năng sống còn
giúp con người sống an toàn, lành mạnh và có chất lượng trong một xã hội
hiện đại với văn hoá đa dạng, với nền kinh tế phát triển và thế giới được coi là
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lí luận về lồng ghép giáo dục kĩ năng
sống vào môn Đạo đức lớp 3, tìm hiểu thực trạng vận dụng nó vào thực tế
giảng dạy tại lớp 3a2 trường tiểu học Đống Đa – Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc, từ
đó rút ra một số bài học, kinh nghiệm cho việc lồng ghép giáo dục kĩ năng
sống trong trường tiểu học.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng lồng ghép giáo dục kĩ năng sống vào giảng dạy môn Đạo đức
lớp 3 tại trường tiểu học Đống Đa – Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc.
3.2. Khách thể nghiên cứu
Thực trạng lồng ghép giáo dục kĩ năng sống vào công tác giảng dạy ở
trường tiểu học.
4. Giả thuyết khoa học
Việc lồng ghép giáo dục kĩ năng sống vào chương trình tiểu học nói
chung và môn Đạo đức lớp 3 nói riêng đã có những thành công nhất định, bên
cạnh đó chúng ta cũng thấy được phần nào những ưu điểm, những hạn chế
trong chương trình giảng dạy môn Đạo đức lớp 3 tại trường tiểu học Đống Đa
– Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc. Trên cơ sở phát huy các ưu điểm và tìm các biện
pháp khắc phục những điểm còn hạn chế, người giáo viên sẽ tổ chức hoạt
động dạy học hiệu quả hơn, giúp các em rèn luyện kĩ năng sống có tính tự
3
nhiên tích cực hơn, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục một cách toàn
diện.
4
- Mục đích : nhằm thu thập các thông tin về thực trạng kĩ năng sống của
học sinh, về các biện pháp mà giáo viên đang áp dụng để lồng ghép giáo dục
kĩ năng sống cho các em.
- Cách tiến hành : phỏng vấn trực tiếp và thông qua các hoạt động dạy học
và giáo dục khác ( trong và ngoài giờ lên lớp ).
7.2.3. Phương pháp điều tra
- Mục đích : nhằm thu thập các thông tin, số liệu về thực trạng kĩ năng sống
của học sinh, về các biện pháp mà giáo viên đang áp dụng để lồng ghép giáo
dục kĩ năng sống cho các em.
7.2.4. Phương pháp thống kê toán học
Xử lí số liệu bằng phương pháp toán thống kê các kết quả điều tra được và
thể hiện trên các bảng biểu.
8. Dự kiến cấu trúc đề tài
Mở đầu
1.
Lí do chọn đề tài.
2. Mục đích nghiên cứu.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu.
4. Giả thuyết khoa học.
5.
Nhiệm vụ nghiên cứu.
6.
Giới hạn phạm vi nghiên cứu.
7.
Phương pháp nghiên cứu.
một trong những nghiên cứu có tính hệ thống và tiêu biểu cho hướng nghiên
cứu về kĩ năng sống nêu trên [9].
Do yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội và xu thế hội nhập cùng
phát triển của các quốc gia nên hệ thống giáo dục của các nước đã và đang
thay đổi theo định hướng khơi dậy và phát huy tối đa các tiềm năng của người
học; đào tạo một thế hệ trẻ năng động, sáng tạo, có những năng lực chủ yếu
để thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của xã hội. Theo đó, vấn đề
giáo dục kĩ năng sống cho thế hệ trẻ nói chung, cho học sinh phổ thông nói
riêng được đông đảo các nước quan tâm. Kế hoạch hành động DaKar về giáo
dục cho mọi người (Senegan 2000) yêu cầu mỗi quốc gia cần đảm bảo cho
người học được tiếp cận chương trình giáo dục kĩ năng sống phù hợp [7].
Mặc dù, giáo dục kĩ năng sống cho học sinh đã được nhiều nước quan tâm
và cùng xuất phát từ quan niệm chung về kĩ năng sống của WHO ( Tổ chức Y
tế thế giới ) hoặc của UNESCO, nhưng quan niệm và nội dung giáo dục kĩ
năng sống ở các nước không giống nhau. Ở một số nước, nội hàm của khái
6
niệm kĩ năng sống được mở rộng, trong khi một số nước khác xác định nội
hàm của khái niệm kĩ năng sống chỉ gồm những khả năng tâm lí, xã hội. Quan
niệm, nội dung giáo dục kĩ năng sống được triển khai ở các nước vừa thể hiện
cái chung, vừa mang tính đặc thù của từng quốc gia.
Mặt khác, ngay trong một quốc gia, nội dung giáo dục kĩ năng sống trong
lĩnh vực giáo dục chính quy và không chính quy cũng có sự khác nhau. Trong
giáo dục không chính quy ở một số nước, những kĩ năng cơ bản như đọc, viết,
nghe, nói được coi là những kĩ năng sống cơ sở, trong khi trong giáo dục
chính quy, các kĩ năng sống cơ bản lại được xác định phong phú hơn theo các
lĩnh vực quan hệ của cá nhân. Do phần lớn các quốc gia đều mới bước đầu
triển khai giáo dục kĩ năng sống nên những nghiên cứu lí luận về vấn đề này
Cùng với việc triển khai các chương trình về kĩ năng sống và giáo dục kĩ
năng sống, vấn đề kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống cho học sinh đã
được quan tâm nghiên cứu. Những nghiên cứu về các vấn đề trên ở giai đoạn
này có xu hướng xác định những kĩ năng cần thiết ở các lĩnh vực hoạt động
mà thanh thiếu niên tham gia và đề xuất các biện pháp để hình thành những kĩ
năng này cho thanh thiếu niên ( trong đó có học sinh Tiểu học ). Một số công
trình nghiên cứu tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là: Cẩm nang tổng hợp
kĩ năng hoạt động thanh thiếu niên, của tác giả Phạm Văn Nhân (1999) [10].
Một trong những người đầu tiên có những nghiên cứu mang tính hệ thống
về kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống ở Việt Nam là tác giả Nguyễn
Thanh Bình. Với một loạt các bài báo, các đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ
và giáo trình, tài liệu tham khảo như : Chuyên đề cao học Giáo dục kĩ năng
sống ( 2006, ĐHSP Hà Nội ); Giáo trình dành cho sinh viên Cao đẳng sư
phạm Giáo dục kĩ năng sống ( 2007, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội ); Đề tài
cấp Bộ mã số B 2007 – 17 – 57 “Xây dựng và thực nghiệm một số chủ đề giáo
dục kĩ năng sống cơ bản cho học sinh Trung học phổ thông”; “Những nghiên
cứu và thực hiện chương trình giáo dục kĩ năng sống ở Việt Nam” ( đồng tác
giả Nguyễn Kim Dung, Lưu Thu Thuỷ, Vũ Thị Sơn, 2003, Viện Chiến lược
và Chương trình giáo dục ). Tác giả Nguyễn Thanh Bình đã góp phần đáng kể
vào việc tạo ra những hướng nghiên cứu về kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng
sống ở Việt Nam.
Nghiên cứu về kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống ở Việt Nam được
thực hiện theo các hướng chính sau:
- Xác định những vấn đề lí luận cốt lõi về kĩ năng sống và giáo dục kĩ
năng sống. Theo hướng nghiên cứu này có một số công trình nghiên cứu như:
Kĩ năng sống cho tuổi vị thành niên của tác giả Nguyễn Thị Oanh ( 2005,
NXB Trẻ ); Bài viết cho Đề tài cấp Bộ mã số B 2007 – 17 – 57 “Một số cơ sở
8
phát
triển.
1.2. Giáo dục kĩ năng sống
1.2.1. Kĩ năng sống
1.2.1.1. Khái niệm kĩ năng sống
9
Kĩ năng sống (life skills) là khái niệm được sử dụng rộng rãi nhằm vào
mọi lứa tuổi trong lĩnh vực hoạt động thuộc các lĩnh vực khác nhau của đời
sống xã hội. Ngay những năm đầu thập kỉ 90, các tổ chức Liên Hợp Quốc (
LHQ ) như WHO ( Tổ chức Y tế Thế giới ), UNICEF (Quĩ cứu trợ Nhi đồng
LHQ ), UNESCO ( Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của LHQ ) đã
chung sức xây dựng chương trình giáo dục kĩ năng sống cho thanh thiếu niên.
Tuy nhiên, cho đến nay, khái niệm này vẫn nằm trong tình trạng chưa có một
định nghĩa rõ ràng và đầy đủ.
Quan điểm của Tổ chức Văn hoá, Khoa học và Giáo dục của Liên
Hợp quốc ( UNESCO )
Kĩ năng sống là năng lực của mỗi cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức
năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày.[1]
Với quan điểm như vậy thì kĩ năng sống chính là những kĩ năng tâm lí xã
hội liên quan đến tri thức, giá trị và thái độ. Đó cũng là sự kết hợp các kĩ năng
tâm lí xã hội như học để biết, học để tự khẳng định, học để cùng chung sống.
Quan điểm của Tổ chức Y tế Thế giới ( WHO )
Kĩ năng sống là những kĩ năng thiết thực mà con người cần để có cuộc sống
an toàn, khoẻ mạnh. Đó là những kĩ năng mang tính tâm lí xã hội và kĩ năng
giao tiếp được vận dụng trong những tình huống hàng ngày để tương tác một
cách có hiệu quả với người khác và giải quyết có hiệu quả những vấn đề,
những tình huống của cuộc sống hàng ngày. [1]
Các nhóm kĩ năng chung bao gồm :
- Nhóm kĩ năng nhận thức, gồm các kĩ năng cụ thể như : tư duy phê
phán, giải quyết vấn đề, nhận thức hậu quả, ra quyết định, khả năng sáng tạo,
tự nhận thức về bản thân, đặt mục tiêu, xác định giá trị, ...
- Nhóm kĩ năng đương đầu với cảm xúc, gồm : động cơ, ý thức trách
nhiệm, kiềm chế căng thẳng, kiểm soát được cảm xúc, tự quản lí, tự giám sát
và tự điều chỉnh, ...
- Nhóm kĩ năng xã hội hay kĩ năng tương tác, gồm : kĩ năng giao tiếp,
tính quyết đoán, kĩ năng thương thuyết, kĩ năng từ chối, kĩ năng hợp tác, lắng
nghe tích cực, sự thông cảm, nhận biết sự thiện cảm của người khác, ...
Các kĩ năng chuyên biệt
Ngoài những kĩ năng chung như 3 nhóm nêu trên, kĩ năng sống còn thể
hiện trong những vấn đề cụ thể khác nhau trong đời sống xã hội như : các vấn
đề về giới, giới tính, sức khoẻ sinh sản ; vấn đề về vệ sinh an toàn thực phẩm,
vệ sinh sức khoẻ, vệ sinh dinh dưỡng ; gia đình và cộng đồng ; ngăn ngừa
thiên tai, bạo lực, rủi ro ; đề phòng tai nạn thương tích ; hoà bình và giải quyết
xung đột; bảo vệ thiên nhiên và môi trường ; văn hoá ; ngôn ngữ ; công nghệ ;
...
Điều này có nghĩa là bên cạnh những kĩ năng sống chung thì còn có những
kĩ năng sống riêng trong từng lĩnh vực của đời sống con người.
11
1.2.1.2.2. Cách phân loại kĩ năng sống theo UNICEF
Theo cách phân loại này, kĩ năng sống được chia làm 3 loại chính:
- Nhóm kĩ năng nhận biết và sống với chính mình , gồm : kĩ năng tự
nhận thức, lòng tự trọng, sự kiên định, kĩ năng đương đầu với cảm xúc, đương
đầu với căng thẳng, ...
- Nhóm kĩ năng nhận biết và sống với người khác , gồm : kĩ năng quan
Hoạt động giáo dục là những hoạt động do các cơ sở giáo dục
(
trường học và các cơ sở khác ) tổ chức thực hiện theo kế hoạch, chương trình
giáo dục, trực tiếp điều hành và chịu trách nhiệm về chúng. Trong các hoạt
động giáo dục, hoạt động dạy học là nền tảng và chủ đạo không chỉ trong các
môn học, mà ở tất cả các hoạt động giáo dục khác trong nhà trường. Nó là
hoạt động giáo dục cơ bản nhất, có vị trí nền tảng và chức năng chủ đạo trong
hệ thống các hoạt động giáo dục. Hoạt động giáo dục được tổ chức có định
hướng về mặt giá trị nhằm tạo ra những môi trường hoạt động và giao tiếp có
định hướng của người học. Khi tham gia các hoạt động giáo dục, người học
tiến hành các hoạt động của mình theo những nguyên tắc chung, những mục
tiêu chung, những chuẩn mực giá trị chung và những biện pháp chung, như
vậy họ được giáo dục theo những tiêu chí chung ( tùy hoạt động của mọi
người luôn diễn ra ở cấp độ cá nhân).
Kĩ năng sống được hình thành thông qua quá trình xây dựng những hành
vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp
người học có cả kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ năng thích hợp. Do vậy, kĩ
năng sống phải được hình thành cho học sinh thông qua con đường đặc trưng
– hoạt động giáo dục. Theo UNICEF, giáo dục dựa trên kĩ năng sống cơ bản
là sự thay đổi trong hành vi hay một sự phát triển hành vi nhằm tạo sự cân
bằng giữa kiến thức, thái độ, hành vi [7].
Từ nội hàm của khái niệm kĩ năng sống và quan niệm về hoạt động giáo
dục đã trình bày ở trên, có thể hiểu giáo dục kĩ năng sống là một quá trình với
những hoạt động giáo dục cụ thể nhằm tổ chức, điều khiển để học sinh biết
cách chuyển dịch kiến thức ( cái học sinh biết ) và thái độ, giá trị ( cái học
sinh nghĩ, cảm thấy, tin tưởng ) thành hành động thực tế ( làm gì và làm cách
nào ) một cách tích cực và mang tính chất xây dựng. Giáo dục kĩ năng sống
cho học sinh là giáo dục cho các em có cách sống tích cực trong xã hội
hiện đại, là xây dựng hoặc thay đổi ở các em các hành vi theo hướng tích
cực phù hợp với mục tiêu phát triển toàn diện nhân cách người học dựa
mỗi hoạt động của các em giai đoạn này đều để lại dấu ấn sâu sắc trong cuộc
đời của các em và đặc biệt nó sẽ góp phần quyết định cho sự thành công hay
thất bại ở giai đoạn tiếp theo.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cơ chế thị trường hiện nay, các em
thường xuyên chịu tác động đan xen của những yếu tố tích cực và tiêu cực,
luôn được đặt vào hoàn cảnh phải lựa chọn các giá trị, phải đương đầu với
những khó khăn, thách thức, những áp lực tiêu cực. Nếu không được giáo dục
kĩ năng sống, nếu thiếu kĩ năng sống, các em dễ bị lôi kéo vào các hành vi
tiêu cực, bạo lực, vào lối sống ích kỉ, lai căng, thực dụng, dễ bị phát triển lệch
lạc về nhân cách.
14
Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh ở lứa tuổi này sẽ định hướng cho các
em những con đường sống tích cực trong xã hội hiện đại : từ việc trang bị
những kiến thức cơ bản, những kĩ năng cơ bản để học sinh có thể tự tin học
lên, tự tin bước vào đời nhằm thích ứng được sự phát triển nhanh như vũ bão
của khoa học công nghệ, cho đến việc quan tâm, chú trọng phát triển những kĩ
năng sống có liên quan mật thiết đến sự hình thành, phát triển toàn diện con
người khoẻ mạnh cả về thể chất lẫn tâm hồn. Cụ thể là :
Trong quan hệ với chính mình, giáo dục kĩ năng sống giúp học sinh biết
gieo những kiến thức vào thực tế để gặt hái những hành động cụ thể và biến
hành động thành thói quen, rồi lại gieo hạt những thói quen tích cực để tạo ra
số phận cho mình.
Trong quan hệ với gia đình, giáo dục kĩ năng sống giúp học sinh biết kính
trọng ông bà, hiếu thảo với cha mẹ, quan tâm chăm sóc người thân khi ốm
đau, động viên an ủi nhau khi gia quyến có chuyện chẳng lành,...
Trong quan hệ với xã hội, giáo dục kĩ năng sống giúp học sinh biết cách
ứng xử thân thiện với môi trường tự nhiên, với cộng đồng như : chấp hành
những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình
huống của cuộc sống rõ ràng là phù hợp với mục tiêu giáo dục phổ thông,
nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục phổ thông.
Giáo dục kĩ năng sống là thực hiện quan điểm hướng vào người học, một
mặt đáp ứng nhu cầu của người học có năng lực để đáp ứng những thách thức
của cuộc sống và nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi cá nhân. Mặt khác,
thực hiện giáo dục kĩ năng sống thông qua những phương pháp và kĩ thuật
tích cực hướng đến người học (lấy học sinh làm trung tâm) như : hoạt động
nhóm, giải quyết vấn đề, nghiên cứu trường hợp điển hình, đóng vai, trò chơi,
dự án, tranh luận, động não, hỏi chuyên gia, viết tích cực, ... đề cao vai trò
tham gia chủ động, tự giác của người học và vai trò chủ đạo của người dạy sẽ
có những tác động tích cực đối với những mối quan hệ giữa người dạy và
người học, người học với người học. Đồng thời, người học cảm thấy họ được
tham gia vào các vấn đề có liên quan đến cuộc sống của bản thân, sẽ thích thú
và học tập tích cực hơn. Điều này cũng phù hợp với định hướng về đổi mới
phương pháp giáo dục ở trường phổ thông.
Tóm lại, việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong các trường phổ
thông nói chung và các trường tiểu học nói riêng là rất cần thiết để đáp ứng
yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông.
1.2.2.2.3. Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong các nhà trường phổ
thông là xu thế chung của nhiều nước trên thế giới
Hiện nay, đã có hơn 155 nước trên thế giới quan tâm đến việc đưa kĩ năng
sống vào nhà trường, trong đó có 143 nước đã đưa vào chương trình chính
16
khoá ở Tiểu học và Trung học [14]. Việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh
ở các nước được thực hiện theo ba hình thức :
- Kĩ năng sống là một môn học riêng biệt.
17
Học để biết, học để làm, học để tự khẳng định và học để cùng chung sống (
Delor, 1996 ).
Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông nhằm các
mục tiêu sau :
- Trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ năng phù
hợp. Trên cơ sở đó hình thành cho học sinh những hành vi, thói quen lành
mạnh, tích cực; loại bỏ nhũng hành vi, thói quen tiêu cực trong các mối quan
hệ, các tình huống và hoạt động hàng ngày.
- Tạo cơ hội thuận lợi để học sinh thực hiện tốt quyền, bổn phận của
mình và phát triển hài hoà về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức.
1.2.2.3.2. Nguyên tắc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong nhà trường
phổ thông
1.2.2.3.2.1. Tương tác
Kĩ năng sống không thể được hình thành qua việc nghe giảng và tự đọc tài
liệu. Việc nghe người khác giảng và tự đọc tài liệu chỉ giúp học sinh thay đổi
nhận thức về một vấn đề nào đó. Học sinh chỉ có kĩ năng khi chúng tự làm
việc đó, chứ không chỉ nói về việc đó. Nhiều kĩ năng sống được hình thành
trong quá trình người học tương tác với người lớn hoặc bạn cùng học ( kĩ
năng thương lượng, kĩ năng giải quyết vấn đề, …). Trong khi tham gia các
hoạt động, học sinh có dịp thể hiện các ý tưởng của mình, được trải nghiệm,
được đánh giá, xem xét lại những kinh nghiệm sống của mình trước đây dưới
một cách nhìn nhận khác. Vì vậy, việc tổ chức các hoạt động có tính chất
tương tác cao cho học sinh tham gia là nguyên tắc quan trọng đảm bảo giáo
dục kĩ năng sống đạt hiệu quả.
1.2.2.3.2.2. Trải nghiệm
Kĩ năng sống chỉ được hình thành khi người học được trải nghiệm qua các
là bạn cùng học hay các thành viên cộng đồng. Trong nhà trường phổ thông,
giáo dục kĩ năng sống được thực hiện trên các giờ học, trong các hoạt động
ngoài giờ lên lớp, các hoạt động lao động và các hoạt động giáo dục khác.
1.2.2.3.3. Một số phương pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh.
Cách thức giáo dục kĩ năng sống được hiểu bao gồm những phương pháp
tiếp cận chung và những phương pháp cụ thể cùng với các hình thức tổ chức
hoạt động giáo dục kĩ năng sống.
- Phương pháp tiếp cận chung
+ Tiếp cận cùng tham gia: quan tâm đến vai trò tham gia của học sinh trong
việc thực hành kĩ năng.
+ Tiếp cận hướng vào người học: dựa vào kinh nghiệm sống và nhu cầu của
người học để khai thác sự chia sẻ và đáp ứng nhu cầu chính đáng.
+ Tiếp cận hoạt động: tổ chức cho học sinh hoạt động và đặt các em vào
những tình huống được trải nghiệm và thực hành cách giải quyết vấn đề.
19
+ Tiếp cận cá nhân và quá trình: thay đổi hành vi giáo dục kĩ năng sống được
tổ chức theo các nhóm nhỏ thì hiệu quả hơn. Thông qua giao tiếp thường
xuyên và tiếp xúc trực tiếp, quan sát và tìm kiếm cùng học sinh thì sẽ đảm bảo
tính liên tục và duy trì những hành vi lành mạnh để các em dần chấp nhận
những hành vi mới.
+ Tiếp cận đồng bộ / tổng hợp: cũng như bất kì nội dung giáo dục nào sự
thống nhất, phối hợp giữa nhà trường và gia đình, cộng đồng trong giáo dục
kĩ năng sống có ý nghĩa quan trọng. Vì sự thay đổi hành vi sẽ dễ dàng hơn
nếu môi trường cũng khuyến khích sự thay đổi đó đối với cá nhân.
- Một vài phương pháp cụ thể:
Những phương pháp học tập chủ động được vận dụng nhiều trong giáo dục
kĩ năng sống có thể kể ra đây, đó là:
và văn hoá, đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến người khác ngay cả khi
bất đồng quan điểm. Bày tỏ ý kiến bao gồm cả bày tỏ về suy nghĩ, ý tưởng,
nhu cầu, mong muốn và cảm xúc, đồng thời nhờ sự giúp đỡ và sự tư vấn khi
cần thiết.
1.2.2.4.2. Vị trí, vai trò của kĩ năng giao tiếp
Kĩ năng giao tiếp giúp con người biết đánh giá tình huống giao tiếp và điều
chỉnh cách giao tiếp một cách phù hợp, hiệu quả; cởi mở bày tỏ suy nghĩ, cảm
xúc nhưng không làm hại hay gây tổn thương cho người khác. Kĩ năng này
giúp chúng ta có mối quan hệ tích cực với người khác, bao gồm biết giữ gìn
mối quan hệ tích cực với các thành viên trong gia đình – nguồn hỗ trợ quan
trọng cho mỗi chúng ta; đồng thời biết cách xây dựng mối quan hệ với bạn bè
mới và đây là yếu tố rất quan trọng đối với niềm vui cuộc sống. Kĩ năng này
cũng giúp kết thúc các mối quan hệ khi cần thiết một cách xây dựng.
Kĩ năng giao tiếp là yếu tố cần thiết cho nhiều kĩ năng khác như bày tỏ sự
cảm thông, thương lượng, hợp tác, tìm kiếm sự giúp đỡ, giải quyết mâu thuẫn,
kiểm soát cảm xúc. Người có kĩ năng giao tiếp tốt biết dung hoà đối với mong
đợi của những người khác; có cách ứng xử phù hợp khi làm việc cùng và ở
cùng với những người khác trong một môi trường tập thể, quan tâm đến
những điều người khác quan tâm và giúp họ có thể đạt được những điều họ
mong muốn một cách chính đáng.
Trong giao tiếp, mỗi học sinh vừa là nguồn phát ra thông tin, vừa là nơi
tiếp nhận thông tin. Thu nhận và xử lý thông tin là con đường quan trọng để
hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách. Qua giao tiếp, các em thiết lập
và vận hành được mối quan hệ với bạn, với thầy cô, nhờ vậy mà tìm được sự
bình yên trong đời sống tình cảm để vượt qua những khó khăn trong cuộc
sống nhà trường, đặc biệt là trong học tập. Hơn thế, nhờ giao tiếp, các em
hiểu nhau, có được những ấn tượng tốt về nhau qua đó có tình cảm với nhau.
21
tiếp.
- Nét mặt: Biểu lộ thái độ cảm xúc của con người, các công trình nghiên cứu
thống nhất rằng nét mặt của con người biểu lộ 6 cảm xúc: Vui mừng, buồn,
ngạc nhiên, tức giận, sợ hãi, ghê tởm. Ngoài ra, nét mặt còn cho ta biết về cá
tính
của
con
người.
- Nụ cười: Trong giao tiếp, người ta có thể dùng nụ cười để biểu lộ tình cảm,
thái độ của mình. Con người có bao nhiêu kiểu cười thì có bấy nhiêu cá tính.
Do đó, trong giao tiếp ta phải biết tinh nhạy quan sát nụ cười của đối tượng
giao
tiếp.
- Ánh mắt: Nó phản ánh trạng thái cảm xúc, bộc lộ tình cảm, tâm trạng và
22
ước nguyện của con người. Trong giao tiếp, nó phụ thuộc vào vị trí xã hội của
mỗi
bên.
- Các cử chỉ: Gồm các chuyển động của đầu, bàn tay, cánh tay… vận động
của
chúng
có
ý
nghĩa
nhất
định
trong
23
- Hệ thần kinh cấp cao đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư duy
của các em chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy hình tượng, tư
duy trừu tượng. Do đó, các em rất hứng thú với các trò chơi trí tuệ như đố vui
trí tuệ, các cuộc thi trí tuệ,...Dựa vào cơ sinh lý này mà có thể cuốn hút các
em với các câu hỏi nhằm phát triển tư duy của các em.
1.3.2. Đặc điểm về hoạt động và môi trường sống
Hoạt động chủ đạo của các em là hoạt động học tập. Tuy nhiên, song song
với hoạt động học tập ở các em còn diễn ra các hoạt động khác như:
- Hoạt động vui chơi: Trẻ thay đổi đối tượng vui chơi từ chơi với đồ vật
sang các trò chơi vận động.
- Hoạt động lao động: Trẻ bắt đầu tham gia lao động tự phục vụ bản
thân và gia đình như tắm giặt, nấu cơm, quét dọn nhà cửa,...Ngoài ra, trẻ còn
còn tham gia lao động tập thể ở trường lớp như trực nhật, trồng cây, trồng
hoa,...
- Hoạt động xã hội: Các em đã bắt đầu tham gia vào các phong trào của
trường, của lớp và của cộng đồng dân cư, của Đội thiếu niên tiền phong,...
Về môi trường hoạt động :
- Trong gia đình: các em luôn cố gắng là một thành viên tích cực, có thể
tham gia các công việc trong gia đình. Điều này được thể hiện rõ nhất trong
các gia đình neo đơn, hoàn cảnh, các vùng kinh tế đặc biệt khó khăn,...các em
phải tham gia lao động sản xuất cùng gia đình từ rất nhỏ.
- Trong nhà trường: do nội dung, tích chất, mục đích của các môn học
đều thay đổi so với bậc mầm non đã kéo theo sự thay đổi ở các em về phương
pháp, hình thức, thái độ học tập. Các em đã bắt đầu tập trung chú ý và có ý
thức học tập tốt.
- Ngoài xã hội: các em đã tham gia vào một số các hoạt động xã hội
Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển, các em bắt đầu phát triển khả
năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh,.... Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong
giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình
ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em.
Ngôn ngữ
Kết thúc lớp 1, ngoài năng lực nghe và nói đã được hình thành trước đó, ở
trẻ em 7 tuổi bước đầu hình thành năng lực mới, đó là năng lực sử dụng chữ
viết: đọc và viết. Đây là bước chuyển đặc biệt có ý nghĩa, đó là bước chuyển
từ mù chữ đến sáng chữ (biết chữ). Trẻ biết đọc và biết viết là sự kiện của đời
người, vì ở trẻ lúc này có thêm một năng lực mới, mà năng lực này tạo ra
được những năng lực khác như năng lực toán, năng lực văn... kết thúc bậc tiểu
25