Rèn luyện cho học sinh kỹ năng tự học bằng việc sử dụng phiếu học tập trong dạy học chương thành phần hóa học của tế bào - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ CHÂU GIANG

RÈN LUYỆN CHO HỌC SINH KỸ NĂNG TỰ HỌC
BẰNG VIỆC SỬ DỤNG PHIẾU HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC
CHƯƠNG THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA TẾ BÀO VÀ
CHƯƠNG CẤU TRÚC CỦA TẾ BÀO - SINH HỌC 10
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN SINH HỌC)
Mã số: 60.14.01.11

Người hướng dẫn khoa học: TS. Phan Thị Thanh Hội

HÀ NỘI - 2015


LỜI CẢM ƠN
Luận văn này là kết quả quá trình học tập, nghiên cứu tại trường Đại học Giáo
dục – Đại học Quốc gia Hà Nội và quá trình công tác tại trường THPT Trung Văn,
quận Nam Từ Liêm – TP Hà Nội.
Bằng tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Phan Thị
Thanh Hội – người đã trực tiếp hướng dẫn khoa học và luôn luôn khích lệ tôi trong
suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tôi xin cảm ơn Hội đồng Khoa học và phòng Đào tạo của trường Đại học Giáo
dục – Đại học Quốc gia Hà Nội; Các thầy giáo, cô giáo đã trực tiếp giảng dạy và
giúp đỡ tôi trong suốt khoá học.

Đối chứng

3

ĐV

Động vật

4

GV

Giáo viên

5

HS

Học sinh

6

NXB

Nhà xuất bản

7

PHT


Thực nghiệm

13

TNKQ

Trắc nghiệm khách quan

14

TP

Thành phố

15

TV

Thực vật

ii


MỤC LỤC

Lời cảm ơn .............................................................................................................. i
Danh mục các chữ viết tắt........................................................................................ ii
Mục lục .................................................................................................................. iii
Danh mục các bảng ................................................................................................ vi
Danh mục các hình ................................................................................................ vii

2.3.Quy trình tự học thông qua PHT ...................................................................... 44
2.3.1. Quy trình ..................................................................................................... 44
2.3.2. Giải thích quy trình tự học của học sinh thông qua PHT .............................. 44
2.3.3. Ví dụ vận dụng quy trình tự học thông qua PHT .......................................... 45
2.4. Quy trình rèn luyện kĩ năng tự học bằng sử dụng PHT.................................... 48
2.4.1. Thiết kế quy trình rèn luyện kĩ năng tự học .................................................. 48
2.4.2. Giải thích quy trình rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh bằng việc sử dụng
PHT ....................................................................................................................... 48
2.4.3. Ví dụ vận dụng quy trình rèn luyện kĩ năng tự học bằng sử dụng PHT......... 49
2.5. Tổ chức rèn luyện kĩ năng tự học cho HS bằng việc sử dụng các dạng phiếu học
tập trong mỗi khâu của quá trình dạy học chương I, II - Sinh học 10 THPT........... 52
2.5.1.Sử dụng PHT trong khâu dạy kiến thức mới ................................................. 52
2.5.2. Sử dụng PHT trong khâu củng cố bài học .................................................... 56
2.5.3. Sử dụng PHT trong phần ôn tập cuối chương ............................................... 63
2.6. Thiết kế các tiêu chí đánh giá kĩ năng tự học.................................................. 65
Kết luận chương 2 ................................................................................................. 66
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ...................................................... 67
3.1. Mục đích thực nghiệm .................................................................................... 67
3.2. Đối tượng thực nghiệm ................................................................................... 67
3.3. Kế hoạch thực nghiệm .................................................................................... 67
3.4. Thời gian thực nghiệm .................................................................................... 67
3.5. Nội dung và phương pháp thực nghiệm .......................................................... 67
3.5.1. Nội dung thực nghiệm ................................................................................. 67
3.5.2. Phương pháp thực nghiệm ........................................................................... 67
3.6. Cách đánh giá kết quả thực nghiệm ................................................................ 68
3.7. Kết quả thực nghiệm. ...................................................................................... 68
3.7.1. Kết quả đánh giá định lượng về kĩ năng tự học của HS trong thực nghiệm... 68

iv



vii


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông theo
hướng phát triển năng lực học tập cho học sinh
Trong những năm gần đây, đứng trước quá trình toàn cầu hóa và sự phát triển
nhanh chóng của khoa học, kỹ thuật, công nghệ, một trong những đặc trưng được
thể hiện là sự thay đổi nhanh chóng của thế giới, môi trường. Làm thế nào để mỗi
người có thể kịp thời nắm bắt những tri thức khoa học kĩ thuật tiên tiến trong khi
thời gian có hạn? Đây là một thách thức lớn của ngành giáo dục nước ta.
Luật giáo dục 2005 quy định:”Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực
tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng cho người học năng lực
tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên…” [26].
Vì vậy, điều quan trọng trong đổi mới PPDH là phải rèn luyện phương pháp tự
học của HS; HS tự học trong mối tương tác giữa HS với nhau, tương tác với tài liệu
và sách giáo khoa, dưới sự chỉ dẫn của thầy để chiếm lĩnh được tri thức.
1.2. Xu hướng dạy học toàn cầu là định hướng hình thành và phát triển năng
lực/kĩ năng cho người học.
Trong những năm gần đây, xu hướng giáo dục toàn cầu chuyển sang hình thành và
phát triển năng lực cho người học trong quá trình dạy học thay vì chỉ tập trung vào truyền
đạt nội dung dạy học như trước đây. Hầu hết các nước đều cho rằng năng lực tự học là một
trong những năng lực quan trọng bậc nhất đối với người học bên cạnh các năng lực như:
giải quyết vấn đề, tư duy, hợp tác, giao tiếp, tính toán….
1.3. Xuất phát từ ưu điểm phiếu học tập trong dạy học
Trong các biện pháp tổ chức dạy học thì việc tổ chức việc học cá nhân là quan
trọng nhất vì trong quá trình chính lĩnh kiến thức mỗi cá nhân phải chủ động tự
nghiên cứu các thông tin như trong sách giáo khoa, quan sát các phương tiện hay

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Rèn luyện cho
HS kĩ năng tự học bằng việc sử dụng phiếu học tập trong dạy học chương Thành
phần hóa học của tế bào và chương Cấu trúc của tế bào - Sinh học 10 Trung Học
Phổ Thông"
2. Mục đích nghiên cứu
Thiết kế quy trình rèn luyện kĩ năng tự học và sử dụng công cụ là các PHT để
rèn luyện kĩ năng tự học cho HS trong dạy học chương Thành phần hóa học của tế
bào và chương Cấu trúc của tế bào - Sinh học 10.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc sử dụng PHT trong DH;
cơ sở của việc rèn luyện kĩ năng tự học của HS THPT.

2


3.2. Phân tích cấu trúc nội dung và thành phần kiến thức chương I: Thành phần hóa
học của tế bào và chương II: Cấu trúc của tế bào phần Sinh học tế bào - Sinh học
10 THPT làm cơ sở thiết kế các PHT.
3.3. Điều tra thực trạng về: Kĩ năng tự học của HS trong quá trình học môn Sinh
học ở THPT và tình hình rèn luyện kĩ năng tự học cho HS trong quá trình DH môn
Sinh học ở THPT.
3.4. Thiết kế quy trình rèn luyện kĩ năng tự học cho HS trong DH môn Sinh học 10
THPT. Thiết kế công cụ là các PHT phù hợp với nội dung các bài học trong
chương Thành phần hóa học của tế bào và chương Cấu trúc của tế bào - Sinh học
10 THPT theo hướng rèn luyện kĩ năng tự học cho HS.
3.5. Thiết kế bài dạy có sử dụng PHT theo hướng rèn luyện kĩ năng tự học trong
DH chương Thành phần hóa học của tế bào và chương Cấu trúc của tế bào - Sinh
học 10 THPT nhằm rèn luyện kĩ năng tự học cho HS.
3.6. Xây dựng các tiêu chí đánh giá kĩ năng tự học của HS.
3.7. Tổ chức cho HS học tập thông qua sử dụng PHT để rèn luyện kĩ năng tự học

Có thể rèn luyện được kĩ năng tự học cho HS bằng việc sử dụng PHT trong DH
chương Thành phần hoá học của tế bào và chương Cấu trúc tế bào – Sinh học 10
THPT.
8. Phương pháp nghiên cứu
8.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu các tài liệu, công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài như: lý luận
DH, đổi mới PPDH, cải tiến PPDH theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức
cho HS, tâm lí DH, PPDH Sinh học…
Nghiên cứu các tài liệu về sinh học: Giáo trình sinh học tế bào, Sách giáo khoa,
SGV Sinh học 10, SGK, SGV Sinh học 10 nâng cao.
Nghiên cứu tài liệu kĩ năng tự học và rèn luyện kĩ năng tự học trong DH.
8.2. Phương pháp điều tra cơ bản
Điều tra GV về tình hình vận dụng các PPDH tích cực để rèn luyện kĩ năng tự
học cho HS trong dạy HS học ở trường THPT bằng bộ câu hỏi trắc nghiệm.
Điều tra thực trạng việc DH môn Sinh học theo hướng rèn luyện cho HS kĩ năng
tự học thông qua dự giờ các GV sinh học. Điều tra thông qua nghiên cứu giáo án
của GV, đề kiểm tra, đáp án.
Điều tra chất lượng học tập của HS thông qua vở ghi, kết quả bài kiểm tra, điểm
tổng kết.
8.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Sau khi thiết kế PHT và xây dựng quy trình sử dụng hệ thống PHT cho quá trình
DH chương Thành phần hóa học của tế bào và chương Cấu trúc của tế bào - Sinh

4


học 10 THPT theo hướng rèn luyện kĩ năng tự học cho HS, chúng tôi đưa vào thực
nghiệm tại trường THPT để kiểm tra tính đúng đắn của giả thuyết thông qua giờ
dạy trên lớp.
Chọn trường thực nghiệm: Trường THPT Trung Văn, quận Nam Từ Liêm, TP

1.1. Tổng quan những vấn đề nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.1.1. Trên thế giới
Trong lịch sử giáo dục đã xuất hiện nhiều tư tưởng lớn đề cao vai trò của tự học.
Những tư tưởng này đến nay vẫn giữ nguyên giá trị và tiếp tục phát huy trong nền
giáo dục hiện đại.
Khổng tử (551-479 trước CN) quan tâm và coi trọng mặt tích cực suy nghĩ sáng
tạo của HS. Cách dạy của ông là gợi mở để học trò tự tìm ra chân lý, thầy chỉ là
người giúp trò cái mấu chốt nhất, còn mọi vấn đề khác trò phải từ đó tìm ra, người
thầy không được làm cho học trò. Ông nói”Không giận mà muốn biết thì không gợi
mở cho, không bực vì không rõ được thì không bày vẽ cho. Vật có 4 góc, bảo cho
biết 1 góc mà không suy ra 3 góc kia thì không dạy nữa” [39].
T.Makiguchi (1871 - 1944) nhà sư phạm lỗi lạc người Nhật, cho rằng: “Giáo dục
có thể coi là quá trình hướng dẫn tự học, mà động lực của nó là kích thích người
học sang tạo ra giá trị để đạt tới hạnh phúc của bản than và cộng đồng” [36].
Vai trò của tự học đã được khẳng định trong nhiều công trình nghiên cứu, điển
hình là:
N.A.Rubakin (1862 - 1946) trong tác phẩm “Tự học như thế nào” đã trình bày
nhiều vấn đề phương pháp tự học, đặc biệt là phương pháp sử dụng SGK. Ông tự tin
cho rằng “Tự tìm thấy kiến thức - có nghĩa là tự học”.
Intel ISEF là hội thi khoa học lớn nhất thế giới dành cho HS phổ thông từ lớp 9
– 12, ở 17 lĩnh vực nghiên cứu khoa học khác nhau nhằm tăng cường hiệu quả và
sáng kiến sử dụng công nghệ trong dạy và học, sự thông thạo và kỹ năng giải quyết
vấn đề ở giới trẻ, thúc đẩy sự tiến bộ trong dạy và học các môn khoa học:Toán học,
Kỹ thuật, v.v…
Như vậy trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về tự học trên nhiều
phương diện khác nhau, các công trình đã đưa ra các quan điểm, luận điểm, các biện
pháp, giải pháp nhằm phát huy vai trò của cá nhân trong quá trình tự học. Vẫn còn ít
các nghiên cứu về việc sử dụng PHT để rèn luyện kỹ năng tự học.

6

1.2.1. Lý thuyết về kỹ năng tự học
1.2.1.1..Khái niệm kỹ năng
Theo Trần Bá Hoành thì “Kỹ năng là khả năng vận dụng những tri thức thu nhận
được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tiễn” [19].

7


Theo A.V. Pêtrôpxki thì “Kỹ năng là cách thức hành động dựa trên cơ sở tổ hợp
những tri thức và kỹ xảo. Kỹ năng được hình thành bằng con đường luyện tập tạo
khả năng cho con người thực hiện hành động không chỉ trong những điều kiện quen
thuộc mà trong cả những điều kiện thay đổi”.
Trong khi đó, Hoàng Thị Kim Huyền cho rằng “Kỹ năng là năng lực của con
người biết vận hành các thao tác của một hành động theo đúng quy trình”[22].
Theo Nguyễn Bá Minh thì “Kỹ năng là khả năng thực hiện có hiệu quả một hành
động hay một loạt hành động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những kiến thức
đã có để giải quyết một nhiệm vụ, thực hiện một công việc nào đó ở một cấp độ tiêu
chuẩn xác định” [28]. Cũng theo Nguyễn Bá Minh khi xem xét kỹ năng, cần chú ý một
số điểm sau:
Kỹ năng bao giờ cũng gắn với một hành động cụ thể và được xem như một đặc
điểm của hành động. Kỹ năng là một mặt kỹ thuật của hành động, biểu hiện mức độ
đúng đắn và thành thục của hành động. Không có kỹ năng chung chung, hay nói
cách khác kỹ năng không phải là một hiện tượng tự thân mà nó luôn gắn với một
hành động cụ thể.
Bất cứ kỹ năng nào cũng phải dựa trên cơ sở lý thuyết (phải hiểu mục đích, biết
cách thức đi đến kết quả và hiểu những điều kiện cần thiết để triển khai cách thức
đó). Kỹ năng chỉ có được khi con người biết vận dụng kiến thức vào trong thực tiễn
một cách có hiệu quả. Ngược lại, kỹ năng được hình thành vững chắc sẽ làm cho
việc ghi nhớ kiến thức thêm vững vàng và sâu sắc hơn.
Tính đúng đắn, sự thành thạo, linh hoạt và mềm dẻo là một tiêu chuẩn quan

Kỹ năng được xây dựng trên nền tảng kiến thức và muốn đạt được kỹ năng thì
đối tượng phải được rèn luyện hoặc tự rèn luyện theo một quy trình nhất định nào
đó. Điều này cũng có nghĩa là kỹ năng chỉ có thể đạt được qua quá trình đào tạo và
có cơ hội vận dụng vào trong thực tế.
1.2.1.2. Các loại kỹ năng
Ngày xưa, nhà trường là nơi duy nhất để ta có thể tiếp cận với kiến thức. Thế
giới ngày càng phẳng hơn, nhờ internet mọi người đều có thể tiếp cận được thông
tin, dữ liệu một cách bình đẳng, mọi lúc, mọi nơi. Kiến thức ngày càng nhiều và từ
việc có kiến thức đến thực hiện một công việc để có kết quả cụ thể không phải chỉ
có kiến thức là được. Từ biết đến hiểu, đến làm việc chuyên nghiệp với năng suất
cao là một khoảng cách rất lớn. Vậy câu hỏi đặt ra là: “Kỹ năng nào là cần thiết cho
mỗi con người để thành công trong công việc và cuộc sống?”
Ngân hàng Thế giới gọi thế kỷ 21 là kỷ nguyên của kinh tế dựa vào kỹ năng Skills Based Economy ( Năng lực

9


của con người được đánh giá trên cả 3 khía cạnh: kiến thức, kỹ năng và thái độ.
Các nhà khoa học thế giới cho rằng: để thành đạt trong cuộc sống thì kỹ năng mềm
(trí tuệ cảm xúc) chiếm 85%, kỹ năng cứng (trí tuệ logic) chỉ chiếm 15%
( />Tại Mỹ, Bộ Lao động Mỹ (The U.S. Department of Labor) cùng Hiệp hội Đào
tạo và Phát triển Mỹ (The American Society of Training ADN Development) gần
đây đã thực hiện một cuộc nghiên cứu về các kĩ năng cơ bản trong công việc. Kết
luận được đưa ra là có 13 kĩ năng cơ bản cần thiết để thành công trong công việc:
Kĩ năng học và tự học (learning to learn)
Kĩ năng lắng nghe (Listening skills)
Kĩ năng thuyết trình (Oral communication skills)
Kĩ năng giải quyết vấn đề (Problem solving skills)
Kĩ năng tư duy sáng tạo (Creative thinking skills)
Kĩ năng quản lý bản thân và tinh thần tự tôn (Self esteem)

Kĩ năng sáng tạo và mạo hiểm (Initiative ADN enterprise skills)
Kĩ năng lập kế hoạch và tổ chức công việc (Planning ADN organising skills)
Kĩ năng quản lý bản thân (Self-management skills)
Kĩ năng học tập (Learning skills)
Kĩ năng công nghệ (Technology skills)
(Nguồn: />Tổng hợp các nghiên cứu của các nước và thực tế VN, 10 kĩ năng sau là căn bản
và quan trọng hàng đầu cho người lao động trong thời đại ngày nay:
Kĩ năng học và tự học (Learning to learn)
Kĩ năng lãnh đạo bản thân và hình ảnh cá nhân (Self leadership & Personal
brADNing)
Kĩ năng tư duy sáng tạo và mạo hiểm (Initiative ADN enterprise skills)
Kĩ năng lập kế hoạch và tổ chức công việc (Planning ADN organising skills)
Kĩ năng lắng nghe (Listening skills)
Kĩ năng thuyết trình (Presentation skills)
Kĩ năng giao tiếp và ứng xử (Interpersonal skills)
Kĩ năng giải quyết vấn đề (Problem solving skills)
Kĩ năng làm việc đồng đội (Teamwork)
Kĩ năng đàm phán (Negotiation skills)
Như vậy, có nhiều nhà nghiên cứu, nhiều tổ chức đã đề xuất các kĩ năng khác
nhau mà người học, người lao động cần có trong thế kĩ XXI, trong đó kĩ năng tự

11


học bao giờ cũng có và đóng vai trò quan trọng bậc nhất, vì vậy, việc hình thành và
phát triển kĩ năng tự học đóng vai trò quan trọng trong các trường phổ thông.
1.2.1.3..Khái niệm về học
Học ngày nay được nhìn nhận bằng nhiều góc độ khác nhau. Nếu quan tâm đến
kết quả cuối cùng đạt được là sản phẩm học hay hành vi nhận biết được -đó là cách
tiếp cận theo hành vi – đáp lại phản xạ của PavLôp.

Từ những điều trình bày trên, ta có thể khái quát lại quan niệm về việc học ngày
nay là: Học là một quá trình trong đó chủ thể tự biến đổi mình, tự làm phong phú
mình bằng cách thu lượm và xử lý thông tin từ môi trường sống xung quanh mình,
nói cách khác, học là quá trình người học tự lực, tích cực tìm ra nội dung cần học,
xác định bản chất, xác định được quan hệ giữa các nội dung, hệ thống hoá được các
nội dung và sử dụng được các nội dung đã học vào giải quyết thành công các tình
huống thực tiễn đặt ra.
1.2.1.4..Khái niệm về tự học
Trong các giáo trình, tài liệu, các tác giả đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về
tự học, sau đây là một số định nghĩa cơ bản:
Trong cuốn “Học tập hợp lí” R.Retke chủ biên, coi “Tự học là việc hoàn thành
các nhiệm vụ khác không nằm trong các lần tổ chức giảng dạy” - Theo tác giả Lê
Khánh Bằng: thì tự học (self learning) là tự mình suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí
tuệ, các phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nhất định.
Theo các tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức trong cuốn “Lý luận dạy học đại
học” thì Tự học là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở đại học. Đó là một hình
thức nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kĩ năng do chính
người học tự tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc không theo chương
trình và sách giáo khoa đã được qui định.
Theo tác giả Nguyễn Văn Đạo: “Tự học phải là công việc tự giác của mỗi người
do nhận thức được đúng vai trò quyết định của nó đến sự tích luỹ kiến thức cho bản
thân, cho chất lượng công việc mình đảm nhiệm, cho sự tiến bộ của xã hội”.
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học – là tự mình động não, suy
nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp...) và có
khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động
cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, có
chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý
muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi..vv...) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu
biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” [31].
Từ những quan điểm về tự học nêu trên, chúng tôi đi đến định nghĩa về tự học

Hình thức 1: Tự học không có sự hỗ trợ trực tiếp của GV: Thông qua SGK, tài
liệu tham khảo, tài liệu hướng dẫn của GV, người học tự thu nhận kiến thức, kĩ
năng trong quá trình tự học.
Hình thức 2: Tự học có sách giáo khoa, có tài liệu hướng dẫn và có thầy giáp mặt
hướng dẫn trực tiếp để HS tự lực qua 2 tài liệu trên mà tìm kiếm được kiến thức.

14


Hình thức 3: Tự học hoàn toàn (không có GV): Thông qua tài liệu, qua tìm hiểu
thực tế, học kinh nghiệm của người khác.Với hình thức tự học này, HS gặp nhiều khó
khăn do có nhiều lỗ hổng kiến thức, khó thu xếp tiến độ kế hoạch tự học, không tự
đánh giá được kết quả tự học của mình…Từ đó dễ chán nản và không tiếp tục tự học.
Hình thức 4: Tự học thông qua phương tiện truyền thông (học từ xa): HS được
nghe GV giảng giải, nhưng không được tiếp xúc với GV, không được hỏi và nhận
sự giúp đỡ của GV khi gặp khó khăn. Với hình thức này, HS cũng không đánh giá
được kết quả học tập của mình.
Trong đó ở trường phổ thông hiện nay hình thức tự học chủ yếu của HS là tự
học thông qua SGK, tài liệu, phương tiện thông tin…có sự hướng dẫn của GV.
Mỗi GV có thể lựa chọn một hoặc nhiều phương tiện khác nhau trong quá trình
dạy học, phù hợp với đối tượng HS để rèn luyện các kỹ cho HS.
1.2.1.7. Vai trò của kĩ năng tự học đối với HS
Hoạt động tự học của HS không chỉ nâng cao năng lực nhận thức, rèn luyện thói
quen, kĩ năng, kỹ xảo vận dụng tri thức của bản thân vào cuộc sống mà còn giáo
dục tình cảm và những phẩm chất đạo đức của bản thân. Vì trên cơ sở những tri
thức họ tiếp thu được nó có ý nghĩa sâu sắc đến việc giáo dục tư tưởng đạo đức, lối
sống, niềm tin, rèn luyện phong cách làm việc cá nhân cũng như những phẩm chất ý
chí cần thiết cho việc tổ chức lao động học tập của mỗi HS; Bên cạnh đó còn rèn
luyện cho họ cách suy nghĩ, tính tự giác, độc lập… trong học tập cũng như rèn
luyện thói quen trong hoạt động khác. Nói cách khác hoạt động tự học hướng vào

Hoạt động dạy có hai chức năng luôn liên hệ chặt chẽ với nhau, đó là: Truyền
thụ thông tin dạy học và điều khiển hoạt động học. Mối tương quan của hai chức
năng này thay đổi qua lịch sử phát triển của PPDH và việc lựa chọn các PPDH.

ND

MT
PP
GV
V

PT

HĐ tự học của HS

Kiến thức, kĩ năng, thái độ của HS

Hình 1.1: Sự vận động và tương tác giữa các yếu tố của quá trình dạy học
Quá trình dạy học luôn có sự tác động qua lại giữa ba yếu tố: mục tiêu, nội dung
và phương pháp. Trong dạy học - tự học thì yếu tố quyết định kết quả học tập là hoạt

16


động tự học của HS. Cho nên có thể nói cốt lõi của yếu tố phương pháp là phương
pháp hoạt động nhận thức của HS. Hoạt động của GV là nhằm tổ chức, điều khiển,
tạo điều kiện cho HS hoạt động có kết quả. Phương tiện dạy học có tác dụng cung
cấp cho HS những tư liệu khách quan để thực hiện những hoạt động nhận thức.
Theo quan niệm dạy trên có thể hiểu khái niệm hướng dẫn tự học là sự hỗ trợ
của GV trong việc định hướng cho HS. Nội dung định hướng bao gồm: định hướng

Trích đoạn Sử dụng PHT trong khâu củng cố bài học Thiết kế các tiêu chí đánh giá kĩ năng tự học Kế hoạch thực nghiệm Phân tích định tính
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status