Thực hiện dân chủ trong các trường cđ, đh ở tỉnh bình dương hiện nay luận văn ths triết học 5 01 02 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

TRƯƠNG THỊ XỬ

THỰC HIỆN DÂN CHỦ
TRONG CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC
Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2005


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

TRƯƠNG THỊ XỬ

THỰC HIỆN DÂN CHỦ
TRONG CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC
Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số:
5.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. PHÙNG KHẮC BÌNH

HÀ NỘI - 2005

CĐ :

Cao đẳng

CĐSP:

Cao đẳng sư phạm

CB, GV, NV:

Cán bộ, giáo viên, nhân viên

CTQG:

Chính trị Quốc gia

CNDVBC:

Chủ nghĩa duy vật biện chứng

CNDVLS:

Chủ nghĩa duy vật lịch sử

CNXHKH:

Chủ nghĩa xã hội khoa học

CNXH:


THCN:

Trung học chuyên nghiệp

XHCN:

Xã hội chủ nghĩa:

1


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Dân chủ là bản chất của Nhà nước ta, của chế độ ta, thể hiện tính ưu
việt của chế độ xã hội chủ nghĩa.
Đảng ta nhận thức sâu sắc rằng cách mạng là sự nghiệp của quần
chúng, cách mạng chỉ thành công khi có sự đóng góp tích cực của nhân dân.
Đảng luôn coi trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tin yêu nhân
dân, dựa vào nhân dân nên đã đưa cách mạng Việt Nam vượt qua bao gian
nguy, thử thách và đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Ngày nay, trong
công cuộc đổi mới đất nước, vấn đề dân chủ càng được Đảng đặc biệt quan
tâm, Văn kiện Đại hội IX đã nêu: Nhà nước ta là nhà nước dân chủ, dân là
chủ và dân làm chủ “do tổng tuyển cử mà nhân dân bầu ra Quốc hội, Quốc
hội bầu ra Chính phủ, Chính phủ đó thật sự là Chính phủ của nhân dân”.
Nhà nước đã ban hành những quy định làm cơ sở pháp lý cho việc thực
hiện dân chủ, Nghị định 71/1998/NĐ-CP và Quyết định 04/2000/QĐBGD&ĐT nhằm thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân
kiểm tra”.
Ở Bình Dương, là nơi có các khu công nghiệp đang hình thành và ngày
càng phát triển, là nơi các trường cao đẳng, đại học có nhiều đóng góp tích
cực trong việc đào tạo nguồn nhân lực của tỉnh và cả nước. Những năm học

trong văn hóa Hồ Chí Minh” của Nguyễn Trung Thu (Tạp chí Cộng sản,
11/2003); “Dân chủ và hiện đại hóa” của Hà Thúc Minh (Tạp chí Cộng sản,
11/2001); “Dân chủ ở cơ sở - một sức mạnh truyền thống của sức mạnh dân
tộc Việt Nam” của Trần Bạch Đằng (Tạp chí Cộng sản, số 35/ 2003); “Cơ sở
lý luận - thực tiễn của phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm
tra” và “Mấy vấn đề xây dựng Quy chế dân chủ ở cơ sở” của Đỗ Quang Tuấn
(Tạp chí Cộng sản 8/1998).

3


Một số công trình được đăng thành sách: “Thực hiện Quy chế dân chủ
ở cơ sở trong tình hình hiện nay - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” (PGSTS Nguyễn Cúc chủ biên, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002); “Dân chủ
và tập trung dân chủ - lý luận và thực tiễn” (Nguyễn Tiến Phồn - NXB Khoa
hoc xã hội, Hà Nội, 2001); “Sự vận dụng nguyên tắc tập trung dân chủ trong
hoạt động quản lý nhà nước” (PTS Nguyễn Tiến Phồn, NXB Khoa hoc xã
hội, Hà Nội, 1996).
Các luận văn thạc sĩ, tiến sĩ có liên quan đến vấn đề dân chủ: Luận văn
thạc sĩ triết học chuyên ngành CNXHKH của Tô Tuyên “Việc vận dụng một
số quan điểm cơ bản của tư tưởng Hồ chí Minh về dân chủ trong quá trình
đổi mới hệ thống chính trị ở cấp cơ sở”; Luận văn thạc sĩ triết học chuyên
ngành CNXHKH của Phan Văn Bình “Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở
trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh - Những vấn đề đặt ra và giải pháp”;
Luận văn tiến sĩ triết học chuyên ngành CNXHKH của Phạm Văn Bính “Vận
dụng tư tưởng và phương pháp dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá
trình thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”; Luận văn thạc sĩ triết
học chuyên ngành CNXHKH của Nguyễn Minh Thi “Thực hiện Quy chế dân
chủ ở các vùng nông thôn, miền núi của tỉnh Bắc Giang hiện nay"; Tiểu luận
chuẩn hóa thạc sĩ chuyên ngành CNXHKH của Nguyễn Tài Quang “Đảm bảo
và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa trong sinh viên của các trường đại học

đạo thực hiện QCDC ở tỉnh Bình Dương, của Sở Giáo dục và Đào tạo Bình
Dương. Quy chế thực hiện dân chủ trong nhà trường của trường CĐSP Bình
Dương và các trường cao đẳng, đại học khác. Hướng dẫn xếp loại thi đua, báo
cáo tổng kết việc thực hiện QCDC của các trường cao đẳng, đại học trong tỉnh
Bình Dương. Ngoài ra tác giả còn kế thừa có chọn lọc các bài viết của các tác
giả có liên quan đến vấn đề dân chủ đã được công bố.

5


* Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận: sử dụng tổng hợp các phương pháp phân tích,
tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa lý thuyết lịch sử và các phương pháp khác
- Nghiên cứu thực tiễn: quan sát, thu thập thông tin từ thực tiễn, điều tra
xã hội học, tìm hiểu việc thực hiện dân chủ trong các trường, phân tích, tổng
hợp, xử lý, thống kê các số liệu. Khi thực hiện luận văn này, tác giả đã trực
tiếp tiến hành khảo sát ở các trường CĐSP Bình Dương, trường cao đẳng
Kinh tế - Kỹ thuật dân lập Bình Dương, trường Sĩ quan Công binh, trường
Đại học Dân lập Bình Dương, với số phiếu là 471 phiếu, trong đó có 161
phiếu dành cho CB, GV, NV và 310 dành cho SV.
5. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu việc thực hiện dân chủ trong hoạt động nhà trường ở các
trường cao đẳng, đại học tỉnh Bình Dương thông qua CB, GV, NV, SV từ
năm 1998 đến nay.
6. Đóng góp của luận văn
Qua điều tra, nghiên cứu, phân tích quá trình thực hiện dân chủ trong
các trường cao đẳng, đại học ở Bình Dương, luận văn khái quát được kết quả
ban đầu, những hạn chế và nguyên nhân, đồng thời đề xuất những giải pháp
nhằm tăng cường việc thực hiện dân chủ trong nhà trường.
Kết quả đạt được của luận văn sẽ góp phần nâng cao nhận thức và phát

Dân chủ theo nghĩa gốc của nó từ chữ Hy Lạp Demos - Kratos, để chỉ
quyền lực của nhân dân, thuộc về nhân dân. Demos có nghĩa là người bình
dân, là dân chúng, không phải là quý tộc, không phải là nô lệ. Kratos có nghĩa
là quyền lực cai trị, sức mạnh. Dân chủ là một thuật ngữ chính trị - xã hội,
được thể hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Khái niệm dân chủ có thể tiếp cận theo nhiều cách khác nhau. Dân chủ
với tư cách là quyền lực của nhân dân, với tư cách là chế độ nhà nước gắn với
một giai cấp cầm quyền và một quan hệ sản xuất chủ đạo, với tư cách là một
giá trị xã hội, một trình độ phát triển của văn hoá, văn minh, một thuộc tính
bản chất của con người.
Dân chủ với ý nghĩa là chế độ xã hội, là tổ chức nhà nước thì dân chủ là
một phạm trù lịch sử, dân chủ được hiểu là giá trị xã hội thì dân chủ là một
phạm trù được tồn tại lâu dài trong xã hội.
Nội dung, hình thức và tính chất của dân chủ luôn luôn thay đổi cùng
với sự vận động của lịch sử. Càng về sau khái niệm dân chủ càng được mở
rộng về nội hàm và có nhiều nội dung mới.

8


Trong xã hội nguyên thủy do lực lượng sản xuất thấp kém, để có thể
tồn tại được trước sức mạnh huyền bí của thiên nhiên hoang sơ, con người
phải gắn bó với nhau nhằm tạo nên sức mạnh của cộng đồng. Như vậy, ngay từ
buổi bình minh của lịch sử nhân loại, con người đã biết sử dụng sức mạnh của
cộng đồng để thực hiện quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.
Sự phát triển của lực lượng sản xuất, cùng với nó là sự ra đời của chế
độ tư hữu và xã hội có sự phân chia giai cấp. Một bộ phận quyền lực đặc biệt
thuộc về một số người ra đời, đó là nhà nước. Giai cấp chủ nô chiếm đoạt nhà
nước và biến nhà nước thành công cụ thực hiện quyền lực chính trị của mình.
Nhà nước chủ nô là hình thái đầu tiên của chế độ dân chủ trong xã hội có giai

Dân chủ trong giáo dục cao đẳng, đại học cũng là một bộ phận của nền
dân chủ XHCN, nó phải mang bản chất của nền dân chủ XHCN.
1.1.2. Quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin về dân chủ
Chủ nghĩa Mác-Lênin đã kế thừa những nhân tố hợp lý những hoạt
động thực tiễn và nhận thức của nhân loại về dân chủ, đặc biệt là tán thành
cho rằng dân chủ là nhu cầu khách quan của nhân dân lao động, dân chủ là
quyền lực của nhân dân, chế độ dân chủ theo C.Mác nói đó là “Sự tự quy định
của nhân dân”.
Theo chủ nghĩa Mác - Lênin, khi xã hội có giai cấp và nhà nước thì chế độ
dân chủ thể hiện chủ yếu thông qua nhà nước. Mỗi chế độ dân chủ gắn với nhà
nước đều mang bản chất giai cấp thống trị xã hội. Dân chủ tư sản mang bản chất
giai cấp tư sản. Nền dân chủ XHCN mang bản chất của giai cấp công nhân.
Từ khi có nhà nước dân chủ, thì dân chủ còn với ý nghĩa là một hình
thức nhà nước, có chế độ bầu cử, bãi miễn các thành viên nhà nước, có quản
lý xã hội theo pháp luật nhà nước và thừa nhận ở nhà nước đó quyền lực
thuộc về nhân dân.
Với một chế độ dân chủ và nhà nước tương ứng, đều do một giai cấp
thống trị cầm quyền chi phối tất cả các lĩnh vực của toàn xã hội, nên giai cấp

10


thống trị cũng gắn liền và chi phối tính dân tộc, tính chất của chế độ kinh tế,
chính trị, văn hoá, xã hội.
Dân chủ XHCN
Đó là nền dân chủ đảm bảo cho nhân dân lao động tham gia ngày càng
nhiều vào quá trình quản lý nhà nước. Dân chủ đi đôi với tập trung, gắn liền
với chuyên chính, dân chủ không tách rời kỷ cương, kỷ luật, pháp luật và
trách nhiệm công dân.
Để có nền dân chủ, giai cấp vô sản mỗi nước phải tiến hành cách mạng

cho lợi ích thiểu số, còn dân chủ XHCN là nền dân chủ cho đại đa số nhân
dân lao động và được thể hiện toàn diện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội.
Về chính trị, nhân dân được quyền làm chủ nhà nước, nhà nước XHCN
là “Nhà nước của dân, do dân, vì dân”, nhân dân có quyền giới thiệu đại biểu
tham gia vào bộ máy chính quyền các cấp, tham gia đóng góp ý kiến xây
dựng pháp luật, xây dựng bộ máy, Lênin coi sự tham gia quản lý nhà nước
của những người lao động là mục đích của chính quyền Xô viết, Người viết:
“Việc thu hút người lao động tham gia quản lý là một trong những ưu thế
quyết định của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa... vì rằng một thiểu số người, tức
là Đảng không thể thực hiện được chủ nghĩa xã hội” [40, tr.67-68].
Về kinh tế, nhân dân được làm chủ tư liệu sản xuất chủ yếu, không
ngừng nâng cao đời sống vật chất...
Về văn hoá, nhân dân được làm chủ các giá trị văn hoá và có điều kiện
phát triển toàn diện.
Theo Lênin, dân chủ XHCN có vai trò quan trọng trong quá trình phát
triển kinh tế và văn hoá “Chủ nghĩa xã hội chiến thắng sẽ không giữ được
thắng lợi của mình và sẽ không dẫn được nhân loại đi đến chỗ thủ tiêu nhà
nước, nếu không thực hiện đầy đủ chế độ dân chủ” [38, tr.167].

12


Chế độ dân chủ XHCN sẽ tiêu vong cùng với sự tiêu vong của nhà
nước, khi đó dân chủ với tư cách là quyền của con người trong việc sử dụng
sức mạnh vật chất và tinh thần, khách quan và chủ quan... để thực hiện quyền
lực, lợi ích của mình sẽ hiện hữu một cách đích thực như bản chất vốn có của
nó, trở thành giá trị nhân văn, đóng vai trò là động lực cho sự phát triển bền
vững của xã hội. Dân chủ XHCN là thành quả của quá trình hoạt động tự giác
của quần chúng nhân dân lao động, đồng thời với tư cách là một chế độ chính

tư sản dân tộc. Chữ dân đồng nhất với nhân dân, quần chúng, dân chúng, đó
là toàn dân Việt Nam không phân biệt nòi giống, gái hay trai, giàu hay
nghèo, không phân biệt dân tộc, tôn giáo trừ bọn tay sai cho đế quốc thực
dân, bọn phản bội lợi ích Tổ quốc, đi ngược lại con đường độc lập tự do và
CNXH.
Khi trả lời câu hỏi “Dân chủ là như thế nào?” Hồ Chí Minh viết: “Là
dân làm chủ. Dân làm chủ thì Chủ tịch, bộ trưởng, thứ trưởng, uỷ viên này
khác làm gì? Làm đày tớ. Làm đày tớ cho dân , chứ không phải làm quan
cách mạng” [46, tr.375]. Muốn bảo đảm quyền làm chủ của dân một cách
thực sự thì phải xác định rõ trách nhiệm của người cán bộ tức người đày tớ
của nhân dân cũng như quyền hạn và bổn phận của người chủ. Nhân dân có
quyền giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình chính phủ làm tròn nhiệm vụ
đày tớ của dân “Nếu chính phủ làm hại thì dân có quyền đuổi chính phủ... nếu
chính phủ sai thì phải phê bình, phê bình không phải là chửi... ” [43, tr.60].
Nhân dân và chính phủ có mối quan hệ mật thiết, nếu không có nhân
dân thì chính phủ không đủ lực lượng, nếu không có chính phủ thì nhân dân
không ai dẫn đường. Vì thế, nhân dân phải tổ chức ra nhà nước, nhà nước là
cơ quan hướng dẫn nhân dân, bảo đảm quyền làm chủ của dân. Người cán bộ
muốn được dân tin, dân yêu thì phải “siêng năng, tiết kiệm, trong sạch, chính
đáng” [43, tr.208].

14


Cả cuộc đời cách mạng luôn hướng về dân, mọi suy nghĩ và việc làm
của Hồ Chủ tịch đều vì dân và để phục vụ lợi ích nhân dân. Người dạy, việc
gì có lợi cho dân thì phải làm cho kỳ được, việc gì có hại cho dân thì phải hết
sức tránh. Ngay từ những ngày đầu tiên của chế độ xã hội mới, sau khi Cách
mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở
“Nước ta là một nước dân chủ. Mọi công việc đều gì lợi ích của nhân dân mà

bình trước nhân dân và hoan nghênh thấy nhân dân phê bình mình; Sẵn sàng
học hỏi nhân dân; Tự mình làm gương mẫu cần, kiệm, liêm, chính, để nhân
dân noi theo” [44, tr.292-293].
Dân là chủ, dân làm chủ, nhưng theo Người trong quá trình làm chủ
người dân phải luôn luôn gắn liền quyền và nghĩa vụ với nhau. Trong quyền
lợi có nghĩa vụ thực hiện bổn phận là đem lại quyền lợi cho cá nhân, cho đất
nước. Người dân có quyền thực hành dân chủ, nhưng dân chủ trong khuôn
khổ Hiến pháp và pháp luật, dân chủ có kỷ cương, phép nước, không phải thứ
dân chủ tự do, tùy tiện, vô chính phủ.
Quyền và nghĩa vụ trong quá trình thực hành dân chủ phải thực hiện
mọi lúc, mọi nơi. Trong trường học cần có dân chủ. Dân chủ trong trường học
là một bộ phận của tự do dân chủ nói chung, là thành quả đấu tranh cách
mạng lâu dài của con người trong xã hội muốn khẳng định vị trí của mỗi cá
nhân, của mối quan hệ vốn có của nó trong cộng đồng xã hội. Dân chủ trong
nhà trường chính là cơ sở không thể thiếu được để khơi dậy sức mạnh của đội
ngũ cán bộ giáo dục và tính độc lập, tích cực của học sinh. Hồ Chí Minh căn
dặn: “trong trường cần có dân chủ. Đối với mọi vấn đề, thầy và trò cùng nhau
thảo luận, ai có ý kiến gì đều thật thà phát biểu. Điều gì chưa thông suốt thì
hỏi, bàn cho thông suốt... Dân chủ, nhưng trò phải kính thầy, thầy phải giúp
trò, chứ không phải là “cá đối bằng đầu” [45, tr.456]. Theo Người, phải bàn
bạc dân chủ, có công việc gì, ban phụ trách trường bàn bạc với anh em, làm
cho tư tưởng thông suốt, động viên mọi người cùng làm, chứ không nên ban
phụ trách định kế hoạch rồi bắt mọi người làm.

16


Hồ Chí Minh còn đề cập đến giới hạn của dân chủ là cần phát huy đầy
đủ dân chủ XHCN, xây dựng mối quan hệ thật tốt, đoàn kết thật chặt chẽ giữa
thầy và thầy, giữa thầy và trò, giữa học trò với nhau, giữa cán bộ các cấp, giữa

1.2. Quan điểm về dân chủ của Đảng và Nhà nƣớc ta
1.2.1. Quan điểm về dân chủ của Đảng ta
Hơn 75 năm lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh giành độc lập dân tộc và
xây dựng CNXH, Đảng ta lúc nào cũng xem dân chủ là một nội dung quan
trọng được đưa ra trong đường lối cách mạng của mình. Mở rộng dân chủ,
phát huy quyền làm chủ của nhân dân là mục tiêu, là động lực để nhân dân ta
thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chiến lược và đó cũng là bản chất của chế độ xã
hội mới - chế độ XHCN. Những yếu tố dân chủ, tinh thần dân chủ, lấy dân
làm gốc, coi trọng dân, chăm lo cho dân, thương yêu dân, phục vụ lợi ích
chân chính của dân... vốn được hình thành trong lịch sử dựng nước và giữ
nước của dân tộc ta, được Đảng ta kế thừa và phát huy trong điều kiện lịch sử
mới.
Ngay từ khi mới ra đời, trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của mình,
Đảng đã xác định nhiêm vụ cụ thể của cách mạng Việt Nam gồm hai nội
dung: dân tộc và dân chủ. Hai nội dung dân tộc và dân chủ có gắn bó mật
thiết và không tách rời nhau. Nội dung dân chủ trong giai đoạn trước khi cách
mạng dân tộc dân chủ thành công chủ yếu là đem lại ruộng đất cho dân cày
nghèo, họ là thành phần đông đảo trong xã hội.
Sau khi cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân thành công. Đảng đã lãnh
đạo nhân dân chuyển sang giai đoạn cách mạng mới - cách mạng XHCN.
Thực hiện cuộc cách mạng XHCN là để giải phóng xã hội, giải phóng con
người và phát huy quyền làm chủ của nhân dân một cách đầy đủ hơn, để tiến
tới xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Kể từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (1976), Đảng xác định,
việc xây dựng chế độ làm chủ tập thể XHCN là một trong bốn mục tiêu cơ

18


bản của cách mạng XHCN. Nội dung làm chủ tập thể bao gồm nhiều mặt: làm

lớn của Đảng và Nhà nước. Thực hiện tốt cơ chế làm chủ của nhân dân, làm
chủ thông qua đại diện, làm chủ trực tiếp cùng các hình thức tự quản tại cơ
sở” [26, tr.43].
Đại hội lần thứ IX của Đảng (2001), Đại hội của “Trí tuệ, dân chủ,
đoàn kết và đổi mới”. Trải qua các kỳ Đại hội VI, VII, VIII đến Đại hội IX thì
“dân chủ” mới thật sự được đưa vào mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh”. Đảng đã nhấn mạnh, thực hiện dân chủ
XHCN là bản chất, là quy luật hình thành, phát triển và tự hoàn thiện của Nhà
nước ta. Mặt khác, Đảng luôn quan tâm “chăm lo cho con người, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người, tôn trọng và thực hiện các điều ước
quốc tế về quyền con người mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia” [27, tr.75].
Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng
khoá IX đã đưa ra một trong những vấn đề cần tập trung giải quyết để đổi mới
và nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị ở cơ sở là: “Thực hành dân chủ
thật sự trong nội bộ các tổ chức của hệ thống chính trị ở cơ sở theo nguyên tắc
tập trung dân chủ và phát huy quyền làm chủ của dân trên cơ sở thực hiện
quyền dân chủ trực tiếp, phát huy quyền dân chủ đại diện, quy định cụ thể
việc thực hiện quyền của dân giám sát tổ chức và cán bộ ở cơ sở và thay thế
những người không đủ tín nhiệm. Phát huy dân chủ phải đi liền với củng cố
và nâng cao kỷ luật, kỷ cương, theo pháp luật” [2, tr.163-164].
Ngày 18-2-1998, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị 30/ CT-TW về việc xây
dựng và thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở. Chỉ thị này ra đời chứng tỏ rằng
Đảng đã nắm bắt được yêu cầu của thực tiễn xây dựng CNXH và vấn đề dân
chủ đã được Đảng ta ngày càng quan tâm và nhận thức sâu sắc hơn.
Ngày 15-11-2004, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã có Thông báo
số 159-TB/TW, kết luận của Ban Bí thư về kết quả 6 năm thực hiện Chỉ thị

20




có 4 chương và 19 điều, trong đó nêu rõ mục đích, nguyên tắc thực hiện dân
chủ trong nhà trường; Quy định trách nhiệm của Hiệu trưởng, trách nhiệm của
nhà giáo, cán bộ, công chức; Những việc người học được biết, được tham gia
ý kiến; Trách nhiệm của nhà trường, của các đơn vị, các đoàn thể, các tổ chức
nhà trường; Quan hệ giải quyết công việc giữa nhà trường và cơ quan quản lý
cấp trên, chính quyền địa phương...
Căn cứ vào Chỉ Thị 30/CT- TW và các Chỉ thị, Nghị định của Chính
phủ, Ban chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ tỉnh Bình Dương đã ra những
công văn số 423/ CV-BCĐ ngày 2-11-2000 và Công văn số 189/HD-BCĐ
ngày 21-3-2001.
Công văn số 423/CV-BCĐ ngày 2-11- 2000, về việc “Tăng cường thực
hiện tốt các loại hình Quy chế dân chủ”, thường trực Ban chỉ đạo thực hiện
QCDC tỉnh đề nghị Ban chỉ đạo thực hiện QCDC ở các huyện, thị, giám đốc
các sở, ngành, doanh nghiệp nhà nước thuộc tỉnh thực hiện một số nội dung
sau: tăng cường công tác học tập, tuyên truyền các nội dung thực hiện QCDC
mà các Nghị định của Chính phủ quy định, chủ động triển khai công tác kiểm
tra tình hình thực hiện QCDC trên địa bàn quản lý, chú trọng việc kiểm tra
thực hiện công khai các nội dung QCDC đã quy định; Qua kiểm tra cần uốn
nắn, chấn chỉnh các sai sót để đảm bảo thực hiện tốt QCDC đúng tinh thần
Chỉ thị 30/CT-TW; Sơ kết thực hiện QCDC theo định kỳ, chú ý tìm hiểu,
phân tích và có nhận định đúng đắn các kết quả và tồn tại cùng những nguyên
nhân đạt được và chưa đạt được trong quá trình thực hiện ở địa phương, cơ
quan, đơn vị; Xem xét khen thưởng và đề nghị tỉnh xét khen thưởng những
tập thể và cá nhân có nhiều đóng góp trong việc thực hiện QCDC theo quy
định của Trung ương và tỉnh.
Công văn số 189/HD-BCĐ ngày 21-3-2001 về việc “Hướng dẫn xếp
loại thi đua thực hiện Quy chế dân chủ trong hoạt động của cơ quan” và công

22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status