So sánh sự khác biệt giữa những từ hán việt tự tạo với các từ hán tương đương luận văn ths ngôn ngữ học 60 22 01 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
============================

ĐẶNG NGỌC XUÂN
(DENG YUCHUN)

SO SÁNH SỰ KHÁC BIỆT GIỮA NHỮNG TỪ HÁN
VIỆT TỰ TẠO VỚI CÁC TỪ HÁN TƯƠNG ĐƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Hà Nội, 2011


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
============================

ĐẶNG NGỌC XUÂN
(DENG YUCHUN)

SO SÁNH SỰ KHÁC BIỆT GIỮA NHỮNG TỪ HÁN VIỆT
TỰ TẠO VỚI CÁC TỪ HÁN TƯƠNG ĐƯƠNG

Chuyên ngành: Lí luận ngôn ngữ
MÃ SỐ: 60 22 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Người hướng dẫn khoa học:GS.TS.Trần Trí Dõi


1


2.1. Tiêu chí và cách thức khảo sát.................................................................31
2.1.1. Tiêu chí khảo sát..................................................................................31
2.1.2. Phương thức khảo sát..........................................................................32
2. 2. Nhận xét về các từ tự tạo.......................................................................33
2.2.1. Nhận xét 1: Về mô hình cấu tạo...........................................................34
2.2.2. Nhận xét 2: Đặc điểm về ngữ âm.........................................................36
2.2.3. Nhận xét 3: Đặc điểm về ngữ nghĩa....................................................37
2.2.4. Nhận xét 4: Đặc điểm về hoạt động ngữ pháp....................................38
2.3. Tiểu kết...................................................................................................40
Chương III : Ứng dụng trong việc giảng dạy tiếng Việt...............................41
3.1. Sự phức tạp của từ Hán - Việt tự tạo khi người Trung Quốc dạy và học
tiếng Việt.......................................................................................................41
3.1.1. Nhận xét chung....................................................................................41
3.1.2. Những dạng thường gặp của từ Hán - Việt tự tạo................................42
3.1.3. Những dạng Hán - Việt tự tạo theo phương thức tắt từ vựng.............58
3.2 Tiểu kết....................................................................................................58
Phần III : Kết luận.........................................................................................61
Tài liệu tham khảo.........................................................................................63
Phụ lục...........................................................................................................67

2


MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài.
Trong quá trình phát triển lịch sử, tiếng Việt đã có những vay mượn quan

Từ trước đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về từ Hán - Việt.
Những công trình nghiên cứu này chủ yếu xoay quanh một số vấn đề như truy
tìm nguồn gốc của các từ Hán - Việt, cách đọc từ Hán - Việt, phân loại từ Hán
- Việt, giải nghĩa từ Hán - Việt .v.v. Tuy nhiên, trong thực tế có những từ Hán
- Việt mà nghĩa của nó có khác biệt so với nghĩa của từ Hán hiện đại có ngữ
âm tương đương. Điều này dễ khiến cho người Trung Quốc học tiếng Việt bị
nhầm lẫn, dẫn tới việc sử dụng sai. Vì vậy, mục đích của đề tài này là khảo sát
những từ Hán - Việt đó rồi lập ra một danh sách khả dĩ so sánh chúng với các
từ Hán có vỏ ngữ âm tương đương để giúp cho người Trung Quốc học tiếng
Việt có phương tiện đối chiếu, giúp cho việc học và dạy tiếng Việt được thuận
lợi hơn.
Như vậy, đối tượng của luận văn là những từ Hán - Việt tự tạo trong tiếng
Việt. Những từ này thường có vỏ ngữ âm tương ứng với từ tiếng Hán hiện nay.
Đồng thời, giữa từ Hán - Việt và từ tiếng Hán hiện nay ấy có sự khác biệt về ý
nghĩa trong sử dụng.
b, Phương pháp nghiên cứu.
Khi thực hiện nhiệm vụ này, chúng tôi sử dụng phương pháp truyền thống
của ngôn ngữ học là phương pháp miêu tả. Thông qua miêu tả những từ Hán Việt tự tạo trong tiếng Việt, trên cơ sở phân tích và lý giải, chúng tôi sẽ nêu
lên những nhận xét của mình về đối tượng này. Đây là cách làm việc xuyên
suốt các tiểu mục của luận văn.
Để hỗ trợ cho phương pháp nghiên cứu chính nói trên, trong luận văn
chúng tôi cũng sử dụng thêm một vài thao tác nghiên cứu. Thao tác phụ trợ
thứ nhất là thao tác thống kê nhằm tập hợp danh sách những từ Hán - Việt tự

4


tạo trong tiếng Việt. Thao tác phụ trợ thứ hai là thao tác đối chiếu nhằm so
sánh những đơn vị gốc Hán trong tiếng Việt với những đơn vị tương đương
trong tiếng Hán, qua đó nhận diện sự khác nhau và giống nhau giữa chúng.

diện bình thường của những quan hệ kinh doanh hay buôn bán, hoặc có thể là
một sự vay mượn hay trao đổi những giá trị tinh thần, nghệ thuật, khoa học,
tôn giáo. Như vậy, sự xuất hiện của từ nước ngoài trong một ngôn ngữ có thể
được xem là hiện tượng tất nhiên, khó tránh khỏi, dù muốn hay không“ [21,9].
Tiếng Việt , vì thế, cũng không phải là một trường hợp ngoại lệ.
Điều đó có nghĩa là, ngoài những từ có nguồn gốc khác, từ gốc Hán trong
tiếng Việt là một bộ phận góp phần làm phong phú thêm vốn từ của tiếng Việt.
Chính vì thế, hiểu rõ thêm về lớp từ này trong vốn từ tiếng Việt sẽ giúp ích
cho việc học và sử dụng chúng.
1.1.1. Sơ lược về quá trình tiếp xúc giữa tiếng Việt và tiếng Hán trong
lịch sử.
Tiếng Việt và tiếng Hán đều là những ngôn ngữ có lịch sử lâu đời. Sự tiếp
xúc giữa hai ngôn ngữ này bắt đầu khi phong kiến Trung Hoa bắt đầu thời kì
đô hộ ở phương Nam, trong đó có phần lãnh thổ mà người Việt cư trú và xây

6


dựng nhà nước của mình.
Trong quá trình tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ, tiếng Việt đã tiếp nhận một
khối lượng từ ngữ rất lớn của tiếng Hán để làm giàu thêm kho từ ngữ của
mình. Hiện tượng này diễn ra không giống nhau trong các thời kì lịch sử. Nếu
như trong giai đoạn đầu Công nguyên, hiện tượng tiếp nhận từ ngữ Hán của
tiếng Việt chỉ có tính chất rời rạc, lẻ tẻ và chủ yếu bằng con đường khẩu ngữ
qua sự tiếp xúc trực tiếp với người Việt với người Hán thì đến đời Đường,
tiếng Việt đã tiếp nhận các từ ngữ Hán một cách có hệ thống bằng con đường
sách vở và chính thức.
Thời nhà Đường, các trường lớp dạy chữ ở Việt Nam được mở ra ở nhiều
nơi. Vì vậy mà tiếng Hán đời Đường đã du nhập vào Việt Nam một cách có
hệ thống: các từ Hán đã nhập vào Việt Nam từ trước dưới dạng ngữ âm cổ thì

nhau, nhà nước Việt Nam vẫn tiếp tục quan hệ giao lưu với Trung Quốc. Việc
giao lưu này cũng dẫn đến sự tiếp xúc và vay mượn ngôn ngữ.
1.1.2. Một số quan niệm liên quan đến từ gốc Hán
Về mặt lý thuyết người ta có thể phân chia vốn từ tiếng Việt theo nguồn
gốc thành một bên là các từ ngữ Việt ( hay còn quen gọi là thuần Việt ) và một
bên là các từ gốc ngoại. Các từ ngữ gốc Hán thuộc các từ ngữ gốc ngoại được
tiếng Việt vay mượn từ tiếng Hán.
Trước hết, để hiểu đầy đủ về khái niệm từ gốc Hán trong tiếng Việt,
chúng ta không thể không nhắc tới một loạt các khái niệm quan trọng trong
tiếp xúc ngôn ngữ Việt – Hán. Những khái niệm này cần được phân biệt rõ
ràng vì nó giúp chúng ta hiểu đúng bản chất của từ . Những khái niệm đó là
cách đọc Hán - Việt, yếu tố gốc Hán, âm Hán - Việt, âm Hán - Việt cổ, âm
Hán - Việt Việt hoá, từ Hán - Việt
1.1.2.1. Quan niệm của Nguyễn Tài Cẩn.
Theo quan niệm của Nguyễn Tài Cẩn trong công trình nghiên cứu

8


“Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán - Việt” thì dường như " nói
đến cách đọc Hán - Việt là nói đến cái vỏ ngữ âm mà người Việt gán cho hệ
thống văn tự Hán, bất luận những chữ được đọc đó là những chữ như thế nào:
những chữ ghi những tiếng đã được du nhập vào trong tiếng Việt như : tuyết

(雪), học(学), cao(高), tuy(虽), hay những chữ không liên quan
gì với tiếng Việt như : chẩm(怎), giá(架) [7, 20].
Từ quan niệm về cách đọc Hán - Việt như trên cũng có thể hiểu, cách
đọc Hán - Việt là cách xử lý về ngữ âm mà người Việt dùng để đọc mọi chữ
Hán, bất kể là những chữ gì, có nghĩa hay không có nghĩa trong tiếng Việt.
Phần ngữ âm cụ thể của cách đọc Hán - Việt đó được gọi là âm Hán - Việt.

精), ca la thầu(卡啦头), vằn thắn(云吞), xá xíu(叉烧)…
c/ Khu vực III : là những yếu tố mượn từ tiếng Hán thông qua cách đọc
Hán - Việt. Khu vực này gồm hai loại: loại chỉ là tiếng (tức chỉ tương đương
với một âm tiết), nhưng không là từ, không dùng độc lập như : quốc(国),
gia(家), sơn(山), thuỷ(水)… và loại vừa là tiếng vừa là từ, có thể
dùng độc lập như : cao(高), thành(成), học(学), xã(社)…
Căn cứ vào cách phân chia và giải thích nói trên của Nguyễn Tài Cẩn,
chỉ những yếu tố gốc Hán thuộc khu vực thứ ba này mới thuộc vào lớp từ .
Như vậy, qua cách giải thích này có thể hiểu từ Hán - Việt là những từ gốc
Hán có cách đọc . Những từ này có thể do ghép hai yếu tố gốc Hán có cách

10


đọc mà mỗi yếu tố trong đó không được dùng “độc lập” trong tiếng Việt;
những từ này cũng có thể chỉ là một yếu tố gốc Hán có cách đọc và yếu tố
đó được dùng “độc lập” trong tiếng Việt. Có thể nói qua cách giải thích như
trên, Nguyễn Tài Cẩn đã giúp chúng ta hiểu rõ các khái niệm cách đọc Hán Việt, yếu tố gốc Hán, âm Hán - Việt, từ Hán - Việt mà chúng ta đang quan
tâm.
1.1.2.2. Quan niệm của những nhà nghiên cứu khác ở Việt Nam.
Theo quan điểm của Nguyễn Văn Thạc trong “ “Về vấn đề lạm dụng từ
Hán - Việt ”, Vấn đề giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt ” [30] thì có thể chia
lớp từ mượn tiếng Hán trong tiếng thành ba nhóm: nhóm Hán- Việt cổ, nhóm
Hán - Việt và nhóm từ mượn qua tiếng địa phương.
Các tác giả Hoàng Văn Hành và Hồ Lê trong “Bàn về cách dùng thuật
ngữ thuần Việt thay từ ngữ Hán - Việt”, Vấn đề giữ gìn sự trong sáng của
tiếng Việt “ [17] lại cho rằng theo cách hiểu thông thường từ ngữ Hán - Việt là
những từ ngữ gốc Hán đọc theo âm Hán - Việt. Cũng theo cách hiểu của các
tác giả này, trong thực tế hầu như tất cả các từ Hán - Việt một âm tiết đều đã
được Việt hoá hoàn toàn và được coi như từ thuần Việt.

mượn Hán là những đơn vị từ vựng còn mang cái vỏ " âm Hán bác học ". Ví
dụ : âm vị, từ vị, khoái chá …
Còn từ gốc Hán là những từ đã có sự biến đổi ở hai phương diện sau đây :
a/ biến đổi ở ngữ âm. Ví dụ : gan < can; bằng < bình …
b/ biến đổi ở ngữ pháp. Ví dụ :
- Những từ đơn tiết và đơn tiết hoá như : áo, quần, bảng ( đơn tiết ) và

12


trạng trong ( trạng lợn, trạng Quỳnh ) ( đơn tiết hoá ).
- Những đơn vị có thể kết hợp với những đơn vị thuần Việt hoặc có dấu
hiệu hoá về ngữ âm như : áo ( áo xống), bạc (bạc bẽo) …
Nguyễn Thiện Giáp trong “Từ vựng học tiếng Việt” [15] cho rằng: cần
phân biệt từ gốc Hán trong tiếng Việt và các từ Hán đọc theo âm Hán - Việt.
Từ gốc Hán trong tiếng Việt gồm hai bộ phận chính sau đây:
a/ Các từ ngữ gốc Hán đọc theo âm Hán - Việt ( các từ Hán - Việt ) gồm:
- Những từ ngữ Hán - Việt được tiếp nhận từ đời Đường đến nay ( gồm
một loại là những từ tiếng Việt trực tiếp tiếp nhận từ tiếng Hán (chiếm đa số).
Ví dụ: anh hùng(英雄), cáo trạng(告状), công nghiệp(工业), văn
chương(文章) … và một loại khác là những từ tiếng Việt tiếp nhận của các
ngôn ngữ khác, thông qua tiếng Hán. Ví dụ : câu lạc bộ ( tiếp nhận từ tiếng
Anh )
- Những từ ngữ Hán - Việt được cấu tạo ở Việt Nam - những từ ngữ do
người Việt sử dụng các yếu tố gốc Hán để tạo ra các từ mới không có trong
tiếng Hán, gồm có hai loại:
* Những đơn vị được tạo ra do kết hợp với các yếu tố gốc Hán. So sánh:
an trí(安知), náo động(闹动), tiểu đoàn(小团), đại đội(大队) … .
Tuy nhiên, trong số các ví dụ nêu trên có trường hợp không phản ánh đúng
với quan niệm của tác giả. Chẳng hạn hai từ : an trí(安知), đại đội(大


- Tất cả từ Hán có cách đọc Hán - Việt được nhập vào tiếng Việt trở
thành yếu tố của hệ thông từ vựng Hán - Việt thì đều là từ Hán - Việt.
- Những truờng hợp mà một từ Hán nhập vào và hoạt động trong tiếng
Việt còn có cách đọc khác, ngoài cách đọc phiên thiết thì phải được xem xét
từng trường hợp cụ thể. Sẽ chấp nhận là từ Hán - Việt nếu nó tồn tại ít nhất
trong một tổ hợp Hán - Việt ( với một yếu tố kia là Hán - Việt ). Ví dụ như :
ảo(幻), chánh(正) …
- Tuỳ mục đích mà quy định đối tượng, nghĩa là tuỳ theo mục đích
nghiên cứu và sử dụng cụ thể để giới hạn phạm vi từ Hán - Việt.
Dựa vào đặc điểm cấu tạo âm thanh của đối tượng, Nguyễn Đức Tồn
trong “Cách nhận diện và phân biệt từ thuần Việt với từ Hán - Việt” [31] đã
nhận diện từ Hán - Việt qua ba loại như sau:
Loại 1/ Các cấu tạo âm thanh chỉ có ở tiếng Hán - Việt. Ví dụ :
Uyên (ngọai lệ, trừ : chuyền, nguyền, chuyện), duyên(缘), truyện

(传) …
Uyết: quyết(决), thuyết(说), tuyệt(绝), tuyết(雪)…
Loại 2/ Các cấu tạo âm thanh có ở cả tiếng Hán - Việt lẫn thuần Việt.
Gần đây nhất, La Văn Thanh [31] trong luận án Tiến sỹ của mình cũng
đã bàn những vấn đề liên quan đến những khái niệm nói trên. Trong chương 2
của luận án, khi bàn về “bức tranh tổng quát về tổ hợp song tiết ”, tác giả này
cũng đã bàn về từ Hán Việt, các yếu tố Hán Việt. Đặc biệt, tác giả đã đưa ra
những khái niệm bổ sung như “tổ hợp gốc thuần Hán”, khái niệm “tổ hợp gốc
không thuần Hán”. Trong tổ hợp loại thứ hai, La Văn Thanh đã nói đến khái

16


niệm “tổ hợp song tiết Việt tạo” và lập nên một danh sách của mình.

từ Hán Việt đều là những từ gốc Hán về mặt ngữ âm được đọc theo cách đọc .
Đây là cách đọc được biến đổi hàng loạt theo một quy luật ngữ âm thống nhất.
Quy luật này được thể hiện qua khả năng đọc tất cả các từ mượn Hán bằng
cách đọc Hán Việt, dù cho chúng có nguồn gốc như thế nào.
Theo Nguyễn Tài Cẩn, cách đọc Hán - Việt “là một cách đọc bắt nguồn
từ tiếng Hán đời Đường và cụ thể là Đường âm dạy học ở Giao Châu vào giai
đoạn thế kỉ VIII, IX nhưng … đã bị biến dạng đi dưới tác động của quy luật
ngữ âm và ngữ âm lịch sử tiếng Việt, tách xa hẳn cách đọc của người Hán để
trở thành một cách đọc riêng biệt của người Việt và những người thuộc khu
vực văn hóa Việt “ [7,19]
Cách đọc Hán - Việt là một sản phẩm của sự tiếp xúc giữa tiếng Việt và
tiếng Hán, là một sáng tạo của người VIệt trong cách thức tác động làm biến
đổi hàng loạt các từ mượn Hán về mặt ngữ âm.
Về cơ bản, hệ thống ngữ âm Hán - Việt vẫn mang những nét chung của
hệ thống ngữ âm tiếng Hán đời Đường nhưng những bộ phận không phù hợp
với ngữ âm tiếng Việt đã bị biến đổi. Sự biến đổi này diễn ra ở hệ thống phụ
âm, hệ thống vần và thanh điệu Hán.
Đặc điểm nổi bật nhất về ngữ âm của các từ Hán - Việt là chúng biến
đổi một cách có hệ thống và nhất quán. Các từ ngữ tiếp nhận của tiếng Hán
đọc theo âm Hán - Việt là bộ phận chủ yếu trong các từ ngoại lai của tiếng
Việt. Nó được chia ra :
a. Những từ Hán - Việt được tiếp nhận từ đời Đường và các triều đại
tiếp theo cho đến ngày nay.
Do có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp một cách lâu dài với tiếng Hán
nên tiếng Việt đã tiếp nhận có hệ thống một khối lượng to lớn các từ ngữ của

18


tiếng Hán thuộc đủ mọi lĩnh vực hoạt động. Chẳng hạn như :


(病院)…
Đối với các từ tiếp nhận kiểu này cần phân biệt hai loại nhỏ :
a.1. Những từ tiếng Việt trực tiếp nhận của tiếng Hán.
Loại từ này chiếm tuyệt đại đa số các từ Hán - Việt, và nghĩa của những
từ Hán - Việt này có quan hệ với nghĩa gốc của các từ Hán tương ứng.
Chẳng hạn như :
+) anh là chúa các loài hoa, hùng là chúa các loài thú => anh hùng cũng
có nghĩa là người hào kiệt xuất chúng.
+) bá là kẻ xưng hùng, quyền là cầm đầu một nước => bá quyền có
nghĩa là quyền lực mà một nước tự cho là mình có thể đi thoogns trị
nước khác.
a.2. Những từ tiếng Việt tiếp nhận của các ngôn ngữ khác thông qua
tiếng Hán.
Một số từ của ngôn ngữ khác khi du nhập vào Việt Nam có sự biến
chuyển về âm đọc theo cách đọc của tiếng Hán.
Ví dụ như :
Mátcơva => Mạc Tư Khoa.
Montesquieu => Mạnh Đức Tư Cưu.
Italia => Ý Đại Lợi.
Philippin => Phi Luật Tân.

20


b. Những từ Hán - Việt được cấu tạo ở Việt Nam.
Nhiều từ Hán - Việt du nhập vào Việt Nam từ rất lâu nên chúng đã trở
thành một phần của từ vựng tiếng Việt. Người Việt đã dùng những từ này làm
chất liệu để cấu tạo nên những từ mới theo cách của họ. Do đó sẽ không thể
tìm được từ tương ứng với nó trong vốn từ vựng của tiếng Hán hiện nay.

tiếng Hán trước đời Đường. Vì vay mượn thời ấy không nhiều, không hệ
thống nên những từ này có số lượng ít, lẻ tẻ nên không làm thành hệ thống

21


như các loại từ Hán - Việt về sau này. Ví dụ :



Hẹn 限

Bụa 餐

Hòm 含

Buồm 帆

Kéo 交

Bia

Buồn 痒

Kim 金

Buồng 房

Lìa 理


Chuông 钟

Thua 透

Chuộng 重

Tựa 自

Chứa 盛

Vua 王

Cởi 解

Xe 车

22


Đũa 筷

Xét 察

Đục 铸
Đuổi

Xưa 初




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status