ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------
HOÀNG THỊ NGA
CẤU TRÚC HAI MẶT VÀ TÍNH LIÊN THÔNG
CỦA TỪ ĐIỂN ĐỊA DANH LỊCH SỬ QUÂN SỰ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------
HOÀNG THỊ NGA
CẤU TRÚC HAI MẶT VÀ TÍNH LIÊN THÔNG
CỦA TỪ ĐIỂN ĐỊA DANH LỊCH SỬ QUÂN SỰ
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 602201
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Phạm Văn Tình
HÀ NỘI - 2015
MỞ ĐẦU
Chƣơng 1:
3
CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1. Một số khái niệm cơ bản
6
6
1.1.1. Vài nét về sự ra đời và phát triển của từ điển và từ điển học
6
1.1.2. Chức năng và đặc điểm cơ bản của từ điển
8
1.1.3 Cách phân loại từ điển
11
1.2. Nhận thức chung về từ điển bách khoa
14
1.2.1. Chức năng, đặc điểm của từ điển bách khoa
14
CẤU TRÚC VĨ MÔ – TÍNH TỔNG THỂ
CỦA TỪ ĐIỂN ĐỊA DANH LỊCH SỬ QUÂN SỰ
2.1. Đặt vấn đề
2.1.1. Khái niệm Địa danh Lịch sử Quân sự
35
35
35
2.2. Cấu trúc tổng thể
39
2.3. Tính hệ thống
39
2.3.1. Địa danh – một chỉ dẫn địa lí có giá trị văn hóa
39
2.3.2. Địa danh phản ánh những hoạt động quân sự
40
2.3.3. Tính hệ thống trong cấu trúc vĩ mô
47
57
3.2.4 Thƣ mục tham khảo
60
3.2.5. Tên ngƣời biên soạn
65
3.2.6. Tài liệu tham khảo
66
Chƣơng 4
TÍNH LIÊN THÔNG CỦA TỪ ĐIỂN ĐỊA DANH
LỊCH SỬ QUÂN SỰ
4.1. Đặt vấn đề
67
67
4.2. Cấu trúc vĩ mô và tính hệ thống trong cấu trúc vĩ mô
của Từ điển thuật ngữ Địa danh Lịch sử Quân sự
68
KẾT LUẬN
78
TÀI LIỆU THAM KHẢO
79
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Từ điển là loại sách có chức năng xã hội rộng lớn. Nó cung cấp vốn
từ ngữ và cách sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp, giúp cho việc học tiếng
mẹ đẻ và học ngoại ngữ, mở rộng vốn hiểu biết của con ngƣời về sự vật,
khái niệm trong thế giới tự nhiên và xã hội. Từ điển là một sản phẩm khoa
học có tác dụng đặc biệt đối với sự phát triển văn hoá, giáo dục, nâng cao
dân trí và mở rộng giao lƣu giữa các cộng đồng ngôn ngữ khác nhau.
Trong thời đại ngày nay, số lƣợng phát hành, số lƣợng, chủng loại và
chất lƣợng của từ điển nói chung, từ điển bách khoa chuyên ngành nói riêng
là một tiêu chí quan trọng để đánh giá trình độ phát triển văn hoá, giáo dục,
khoa học kĩ thuật của một quốc gia. Chính vì vậy, việc nghiên cứu từ điển
học, cả lí luận và thực tiễn có tác dụng lớn trong việc nâng cao chất lƣợng
biên soạn từ điển.
Việc biên soạn và xuất bản từ điển ở nƣớc ta đã có nhiều dấu hiệu đổi
mới. Số lƣợng và chủng loại từ điển tăng trƣởng đáng kể trong vài ba năm
gần đây. Một số quyển từ điển đã phần nào đáp ứng đƣợc yêu cầu của
ngƣời sử dụng. Tuy nhiên, bên cạnh đó, còn có nhiều quyển từ điển chất
lƣợng chƣa đáp ứng yêu cầu, thậm chí có những sai sót lớn về nội dung
cũng nhƣ in ấn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu làm rõ một số vấn đề về cấu
trúc vi mô của Từ điển Địa danh Lịch sử Quân sự . Đó là: một số mẫu định
nghĩa đƣợc sử dụng; và, những nội dung đƣợc đƣa vào lời giải thích của
mục từ trong Từ điển Địa danh Lịch sử Quân sự .
Để thực hiện đƣợc mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ đối chiếu, so
sánh yêu cầu của từ điển học hiện đại với thực tiễn biên soạn từ điển ở
nƣớc ta qua cuốn từ điển đƣợc chọn làm đối tƣợng nghiên cứu là Từ điển
Địa danh Lịch sử Quân sự . Trên cơ sở đó, hệ thống hoá, khái quát hoá, mô
hình hoá một số mẫu định nghĩa cơ bản, những nội dung đƣa vào lời giải
thích của mục từ trong Từ điển Địa danh Lịch sử Quân sự .
4
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu sau đây:
- So sánh - đối chiếu các kiểu định nghĩa, cách tổ chức nội dung
thông tin trong cấu trúc vi mô của từ điển bách khoa nói chung, Từ điển Địa
danh lịch sử Quân sự nói riêng với từ điển giải thích, đồng thời, trong một
số trƣờng hợp, đối chiếu với yêu cầu của lí thuyết từ điển học hiện đại.
- Phƣơng pháp hệ thống cấu trúc của từ điển học (một số phân ngành
của ngôn ngữ học ứng dụng).
- Phƣơng pháp miêu tả; phƣơng pháp thống kê
- Vận dụng một số khái niệm và phƣơng pháp của logic học, đặc biệt
là phƣơng pháp quy nạp để khái quát một số vấn đề.
5. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Đây là luận văn đầu tiên đề cập đến vấn đề định nghĩa trong Từ điển
Địa danh Lịch sử Quân sự. Trong tình hình các công trình nghiên cứu từ
điển học ở Việt Nam nói chung và trong lực lƣợng vũ trang nói riêng còn
quá ít, những kết quả nghiên cứu dù là bƣớc đầu của luận văn có thể góp
và một số quyển từ điển đối chiếu Pháp - Việt nhƣ Dictionnaire F'rancaisAnnamite et Aniiamite-Fratuiis (G.Aubaret, Paris, 1867), Petit Dictionnaire
Francais-Anmmite (PJ.B. Trƣơng Vĩnh Ký, Sài Gòn, 1884). Cuối thế kỉ XIX
mới có quyển từ điển giải thích tiếng Việt đầu tiên, Đại Nam Quấc âm tự vị của
Huỳnh Tịnh Paulus Của (1895) và sau hơn ba mƣơi năm sau mới có quyển thứ
hai, Việt Nam Tự điển của Hội Khai trí Tiến Đức ( 1931 ).
Cuối thế kỉ XX, cùng với sự phát triển của khoa học, kinh tế, giáo dục
trên phạm vi toàn cầu, nhu cầu về từ điển của xã hội tăng nhanh, từ điển đƣợc
biên soạn và xuất bản với số lƣợng lớn và nhiều chủng loại đa dạng. Đặc biệt,
gần đây, sự bùng nổ của công nghệ tin học đã tạo ra một bƣớc phát triển mới
trong các khâu biên soạn, in ấn từ điển; sản phẩm từ điển không chỉ là những
quyển sách bằng giấy mà còn ở dạng từ điển điện tử.
Ngƣợc lại với thời điểm ra đời của từ điển, từ điển học lại ra đời rất
muộn. Đến những năm bốn mƣơi của thế kỉ XX, lí thuyết từ điển học mới
đƣợc khởi xƣớng bằng bài viết “Thử bàn về lí thuyết đại cương về từ điển
6
học” của L.V.Serba. Đến năm 1971, bộ môn từ điển học đã có bƣớc ngoặt
đáng kể với sự ra đời của hai công trình: Giáo trình từ điển học của
Ladislav Zgusta, xuất bản ở Praha và Nghiên cứu từ điển hiện đại bằng
tiếng Pháp về ngôn ngữ học và kí hiệu học của Josette Rey Debove, xuất
bản ở Paris. Gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của ngôn ngữ học nói
chung, của ngữ nghĩa học, từ vựng học nói riêng, từ điển học cũng phát
triển mạnh mẽ.
Ở Việt Nam, nhiều bài viết có giá trị thể hiện sự quan tâm của các tác
giả trong lĩnh vực này, nhƣ: Về việc biên soạn một quyển từ điển tiếng Việt
mới (Hoàng Phê, 1969); Một vài nhận xét về từ điển giải thích của ta (Vƣơng
Lộc, 1969); Một số ý kiến về việc giải thích nghĩa của từ trong từ điển tiếng
Việt (Đỗ Hữu Châu, 1969); Về việc giải thích nghĩa của từ nhiều nghĩa trong
từ điển tiếng Việt (Nguyên Văn Tu, 1969); Một số kinh nghiệm biên soạn từ
chúng biểu thị” .
Trong cuốn Giáo trình từ điển học (1971), L. Zgusta đã dẫn ra một định
nghĩa về từ điển của Bergl mà ông cho là một trong những định nghĩa tốt nhất:.
“Một cuốn từ điển là một danh mục đƣợc sắp xếp có hệ thống của các hình thức
ngôn từ đƣợc xã hội hoá, thu thập từ những thói quen nói năng của một cộng đồng
ngôn ngữ nhất định và đƣợc ngƣời biên soạn chú giải sao cho ngƣời đọc có một
trình độ nhất định hiểu đƣợc ý nghĩa của từng hình thức ngôn ngữ riêng rẽ và biết
đƣợc nhũng điều cần yếu về chức năng của nó trong cộng đồng ngôn ngữ ấy”.
Trong công trình Một số vấn đề lý luận và phương pháp luận cơ bản về
từ điển học và bách khoa thư Việt Nam do tác giả Phạm Hùng Việt làm chủ
nhiệm, các tác giả cho rằng: “Từ điển là một công trình tra cứu, luôn chứa
các từ ngữ tách rời của vốn từ ngữ chung (hay một bộ phận các từ ngữ
chuyên biệt) của ngôn ngữ, kèm theo các thông tin (đầy đủ hoặc chỉ một số
thông tin) về chính tả, cách phát âm, ý nghĩa, cách dùng, các từ đồng nghĩa,
sự phái sinh và lịch sử của các từ ngữ đó. Để tiện tra cứu, ở phần lớn các từ
8
điển, các từ ngữ đƣợc sắp xếp theo trật tự bảng chữ cái; các thông tin đƣợc
minh hoạ bằng những trích dẫn từ các tác phẩm văn học”.
Từ những định nghĩa và sự tƣờng giải về từ điển, có thể thấy một số
đặc tính chung trong từ điển nhƣ sau:
Từ điển là loại công trình dùng để tra cứu, giúp cho ngƣời đọc tìm
kiếm những thông tin qua các từ ngữ đƣợc tập hợp và trình bày (các đầu
mực từ). Các đầu mục từ đƣợc sắp xếp theo một trật tự nhất định, có thể đi
kèm là các thông tin phụ liên quan đến đầu mục này.
Trong mỗi mục từ, đƣợc trình bày có hệ thống là các nội dung thông
tin (tri thức) - phần còn lại ngoài các đầu mục từ, có vai trò giải thích nội
dung của đầu mục từ hoặc cung cấp các thông tin về đối tƣợng đã đƣợc nêu
trong đầu mục từ.
Đặc điểm của từ điển:
Để thực hiện các chức năng nêu trên, từ điển có những đặc điểm
riêng khác biệt với tất cả các loại sách khác.
1. Là một loại sách phục vụ nghiên cứu giáo dục, từ điển có tính khoa
học. Tính khoa học đƣợc thể hiện ở nhiều mặt, từ việc xác định nguyên tắc
biên soạn, phạm vi thu thập từ ngữ đến cách thức định nghĩa, cung cấp các
thông tin mở rộng. Đối với từ điển bách khoa, độ chính xác là thƣớc đo của
tính khoa học.
2. Từ điển thu thập và giải thích các từ ngữ đƣợc dùng trong đời sống
của con ngƣời, cũng có nghĩa là nó đề cập đến mọi khía cạnh của đời sống
hiện thực, dù muốn hay không muốn, nó phản ánh một sự lí giải và một
cách đánh giá về các vấn đề văn hoá, khoa học, chính trị, xã hội. Theo
Hoàng Phê, từ điển phản ánh thế giới quan, quan điểm, lập trƣờng của
ngƣời biên soạn, dù rằng ngƣời biên soạn có đầy đủ ý thức hay không về
việc đó. Do đó, từ điển mang trong mình tính tƣ tƣởng.
10
3. Đặc điểm thứ ba của từ điển là tính tiện dụng. Từ điển là loại sách
công cụ mang tính phổ cập (trừ các từ điển chuyên ngành), có đối tƣợng sử
dụng là đông đảo ngƣời sử dụng ngôn ngữ ở những trình độ khác nhau.
Điều này đòi hỏi ở từ điển tính tiện dụng, dễ hiểu, dễ tra cứu. Điều này
dƣờng nhƣ ít nhiều mâu thuẫn với đặc điểm về tính khoa học của từ điển.
Mâu thuẫn đó làm cho công tác biên soạn từ điển càng trở nên khó khăn.
Dung hoà đƣợc mâu thuẫn này, đảm bảo đồng thời hai yêu cầu khoa học và
tiện dụng của từ điển là cả một nghệ thuật.
4. Một kết quả của sự dung hoà đó đƣợc biểu hiện qua phƣơng thức
trình bày của từ điển. Từ điển luôn đƣợc tổ chức theo hai cấu trúc: cấu trúc
vĩ mô (cấu trúc tổng thể hay cấu trúc bảng từ) và cấu trúc vi mô (cấu trúc
mục từ). Kiểu cấu trúc đó làm cho từ điển không lẫn lộn với các sách khác,
5. Từ điển giải thích và từ điển đối dịch: từ điển giải thích nhằm làm
sáng tỏ bản chất kí hiệu của một ngôn ngữ bằng chính ngôn ngữ ấy. Từ
điển đối dịch nhằm làm hiểu rõ một ngôn ngữ khác.
6. Từ điển phi lịch sử và từ điển lịch sử: từ điển phi lịch sử phản ánh từ
ngữ trong một khoảng thời gian hiện thời còn từ điển lịch sử phản ánh cả quá
trình lịch sử, sự xuất hiện, sự biến đổi và thậm chí cả sự mất đi của các từ ngữ.
L.Zgusta phân loại cụ thể hơn cho từ điển ngôn ngữ và đƣa thêm một
tiêu chí về cỡ của từ điển. Ông cho rằng, sự phân loại đầu tiên, có tính chất
bao quát nhất là sự phân biệt giữa từ điển ngôn ngữ và từ điển bách khoa.
Theo ông, “các từ điển ngôn ngữ chủ yếu đề cập đến ngôn ngữ, tức là đề
cập đến các đơn vị từ vựng của ngôn ngữ và tất cả các đặc tính ngôn ngữ
của chúng. Ngƣợc lại, các từ điển bách khoa chỉ đề cập chủ yếu đến các
denótate của các đơn vị từ vựng, chúng cho những thôrg tin vê thế giới
ngoài ngôn ngữ có tính chất vật chất hoặc phi vật chất”.
Tiếp tục phân loại từ điển ngôn ngữ, ông chia ra thành các loại cơ
bản theo bốn tiêu chí sau:
1. Theo tiêu chí thời gian, có sự đối lập giữa từ điển lịch đại và từ
điển đồng đại. Theo L.Zgusta, đây là một trong những sự phân loại quan
12
trọng nhất đối với các từ điển ngôn ngữ. Ông đã nêu ra các đặc điểm khác
biệt giữa hai loại là trong khi từ điển lịch đại chỉ quan tâm chủ yếu đến lịch
sử sự phát triển của từ ngữ cả về nghĩa và hình thức thì nhiệm vụ của từ
điển đồng đại là đề cập đến kho từ vựng của một ngôn ngữ trong một giai
đoạn phát triển nhất định của chúng. Đồng thời ông lƣu ý đến “tình trạng
luôn có sự chồng chéo giữa các lĩnh vực của từ điển lịch sử với lĩnh vực
của từ điển đồng đại” , “khái niệm về từ điển đƣợc coi là đồng đại chỉ có
tính chất tƣơng đối”.
2. Theo phạm vi thu thập toàn bộ hay một bộ phận từ vựng của một ngôn
trên có thể tiếp tục đƣợc cụ thể hoá, và theo đó có thể phân loại từ điển thành nhiều
loại nhỏ hơn. Thêm nữa, do các tiêu chí tƣơng đối độc lập, nên có thể có sự phối
hợp một số tiêu chí trong sự phân loại từ điển. Điều này dẫn đến tình trạng là trên
thực tế các kiểu loại từ điển rất đa dạng, phong phú. Sự phân loại từ điển có ý nghĩa
đặc biệt.
1.2. Nhận thức chung về từ điển bách khoa
1.2.1. Chức năng, đặc điểm của từ điển bách khoa
Từ điển bách khoa đƣợc phát triển từ từ điển. Từ điển bách khoa xuất hiện
là do sự ảnh hƣởng qua lại và xích lại gần nhau giữa bách khoa toàn thƣ và từ
điển ngôn ngữ. Chính vì vậy, khi nhận diện khái niệm từ điển bách khoa, một
mặt ngƣời ta cố gắng phân biệt nó với từ điển ngôn ngữ (chủ yếu là từ điển giải
thích); mặt khác, phân biệt nó với bách khoa thư.
Từ điển bách khoa có đặc điểm chung với các loại từ điển và bách khoa
thƣ ở chỗ, chúng đều là các công trình tra cứu, giúp ngƣời đọc tìm hiểu các
thông tin; các đầu mục từ đƣợc sắp xếp theo một trật tự nhât định; các
thông tin trong mục từ đƣợc trình bày một cách có hệ thống. Tuy nhiên,
ngƣời ta cũng nhận thấy giữa chúng có những sự khác biệt nhất định.
Từ điển giải thích cung cấp mọi thông tin về bản thân kí hiệu ngôn
ngữ, còn từ điển bách khoa cung cấp thông tin về sự vật, khái niệm đƣợc từ
14
ngữ biểu thị. Phạm vi thu thập của từ điển giải thích là các đơn vị từ vựng
của một ngôn ngữ. Còn từ điển bách khoa, do lấy sự vật, khái niệm làm đối
tƣợng, nên chỉ thu thập những từ có ý nghĩa biểu vật, biểu niệm cụ thể mà
không phụ thuộc vào nhân tố ngƣời sử dụng hay hoàn cảnh nói năng.
Nhiệm vụ của từ điển bách khoa là cung cấp kiến thức về các đối tƣợng do
từ ngữ biếu thị, còn nhiệm vụ của từ điển ngôn ngữ là cung cấp kiến thức về
chính các đơn vị từ ngữ. Do nhiệm vụ khác nhau nhƣ vậy mà thông tin
trong từng mục từ của từ điển giải thích có thể là toàn bộ các thông tin về kí
cung cấp những thông tin vắn tắt phổ cập về các khái niệm của một hay nhiều
ngành khoa học hoặc hoạt động thực tiễn. Nếu nhƣ bách khoa thƣ đƣợc dùng
chủ yếu để giáo dục, tự học, tự nghiên cứu về nhiều mặt qua các chủ đề tri thức
độc lập, thì từ điển bách khoa lại chủ yếu đƣợc dùng để tra cứu, tìm kiếm thông
tin một cách nhanh chóng, số lƣơng mục từ trong bách khoa thƣ thƣờng ít nhƣng
chủ đề lại rất rộng và có biên độ dài. Ngƣợc lại, số lựợng mục từ trong từ điển
bách khoa nhiều, nhƣng chủ đề hẹp và có biên độ ngắn.
Nhƣ vậy, “từ điển bách khoa là một dạng công trình tra cứu có tính
chuyển tiếp giữa từ điển ngôn ngữ và bách khoa thƣ (vừa có tiêu chí chung với
từ điển ngôn ngữ vừa có tiêu chí chung với bách khoa thƣ); có chức năng cung
cấp những thông tin vắn tắt chung quanh các khái niệm khoa học, kĩ thuật, nghệ
thuật hay tri thức thực tiễn khác. Đây là loại sách chủ yếu để ngƣời ta tra cứu,
tìm hiểu”.
1.2.2. Cách phân loại từ điển bách khoa
Trong công trình Một số vấn đề lí luận và phương pháp luận cơ bản về
từ điển học và bách khoa thư Việt Nam do tác giả Phạm Hùng Việt làm chủ
nhiệm, các tác giả cho rằng, từ điển bách khoa và bách khoa thƣ có nhiều điểm
khác nhau nhƣng có đặc điểm chung về tính sự kiện của thông tin đƣợc chuyền
tải trong các mục từ. Theo cách mà Nguyễn Kim Thản đề xuất, các tác giả đã sử
dụng công trình bách khoa làm tên gọi chung cho từ điển bách khoa và bách
16
khoa thƣ. Công trình bách khoa là loại công trình tra cứu phản ánh tri thức của
một xã hội. Theo các tác giả, có nhiều cách phân loại từ điển bách khoa, có thể
kể đến một số cách phân loại thƣờng gặp sau:
a, Dựa vào nội dung có thể phân các công trình bách khoa thành 2 loại
lớn: công trình bách khoa tổng hợp và công trình bách khoa chuyên ngành.
Công trình bách khoa tổng hợp là những công trình tra cứu điển hình của một
quốc gia, thƣờng bao gồm nhiều tập, trong đó trình bày tri thức về tất cả các
thư Hà Nội, Từ điển bách khoa địa danh Hải Phòng ở Việt Nam.
1.3. Cấu trúc của từ điển
1.3.1. Cấu trúc của từ điển giải thích
13.1.1. Cấu trúc vĩ mô của từ điển giải thích
Các mục từ trong từ điển giải thích đƣợc thu thập theo những tiêu chí
nhất định, tạo thành một bảng từ có tính hệ thống, đảm bảo sự nhất quán,
có cấu trúc chặt chẽ. Đây là cấu trúc có quan hệ dọc, suốt từ đầu đến cuối
quyển từ điển, nên đƣợc gọi là cấu trúc vĩ mô. “Cấu trúc vĩ mô là cấu trúc
bao gồm toàn thể các mục từ đƣợc sắp xếp theo một trật tự xác định; còn
có thể gọi là cấu trúc bảng từ”.
Đối tƣợng chính của từ điển giải thích là từ vựng. Các đơn vị đƣợc thu
thập trong bảng từ của từ điển giải thích rất rộng và có cấu tạo đa dạng. Bảng
từ có thể bao gồm từ (chiếm phần lớn), các đơn vị lớn hơn từ (ngữ cố định,
thành ngữ...), các đơn vị nhỏ hơn từ (yếu tố cấu tạo từ),... số lƣợng các đơn vị
trong bảng từ phụ thuộc vào việc lựa chọn mục từ. vấn đề này nói chung rất
phức tạp, hiện nay chƣa có một tiêu chuấn chung nào vê việc lựa chọn mục
từ. Công việc này phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhƣ cỡ, loại từ điển, số lƣợng,
chủng loại của các nguồn tƣ liệu, ngữ cảm của ngƣời biên soạn.
Là sách công cụ dùng để tra cứu, từ điển bao giờ cũng đƣợc sap xếp
theo một trật tự nhất định. Tuỳ theo loại hình ngôn ngữ, có thế có nhiều
cách sấp xếp khác nhau, chẳng hạn, có thể sắp xếp theo trật tự chữ cái, theo
18
chủ đê, theo tần số, hoặc theo bộ chữ (đối với từ điển tiếng Hán),... Tuy
nhiên, cách sắp xếp phố biến nhất là xếp theo trật tự bảng chữ cái.
1.3.1.2. Cấu trúc vi mô của từ điển giải thích
Giống nhƣ các loại từ điển khác, cấu trúc vi mô của từ điển giải
thích cũng bao gồm hai phần chính: mục từ và các thông tin trong mục từ
đó. Nhƣ vậy, mục từ trong từ điển là đơn vị đặc biệt, đa chức năng, hay
thể hiện bằng những kí hiệu viết tắt; các thône tin về ý nghĩa, cách dùng...
thƣờng đƣợc trình bày đầy đủ.
1.3.2 Cấu trúc của từ điển bách khoa
1.3.2.1 Cấu trúc vĩ mô của từ điển bách khoa
Cấu trúc vĩ mô trong từ điển bách khoa chính là bảng đầu mục từ tên gọi các khái niệm, sự vật, sự kiện, nhân vật... mà thông tin về chúng
đƣợc trình bày trong mục từ. Thông thƣờng, bảng mục từ của từ điển bách
khoa đƣợc lập dựa trên sự phân loại tri thức và khoa học của các ngành và
bộ môn; các cuốn từ điển, từ điển thuật ngữ; các ấn phẩm đã công bố và
các nguồn tƣ liệu khác...
Bảng đâu mục từ trong từ điên bách kh.03. chính là Viêc thê hiện cu
ths cúci việc phân loại tri thức, là bƣớc triển khai của phân loại tri thức và
liên kết nội dung, là bộ khung của từ điển bách khoa. Ngoài những đặc trƣng
cơ bản nhƣ tính tƣ tƣởng, tính khoa học, tính hiện đại, đồng thời bảo đảm
tính ngắn gọn, dễ tra cứu, bảng từ trong từ điển bách khoa phải quán triệt ba
mục tiêu, đó là: tính hiện thực trong phân loại khoa học; sự phát triển của các
ngành khoa học và xu hƣớng liên kết các bộ môn khoa học; khuynh hƣớng
xuất hiện các ngành khoa học mói
Bảng đầu mục từ mang tính khoa học phải đƣợc xây dựng trên cơ sở phân
loại tri thức đƣa vào từ điển bách khoa theo một chu trình khép kín, có tầng bậc và
cấp độ, đặc biệt là đầu mục từ phải mang tính khái niệm. Nó phải bao gồm đầy đủ
những khái niệm của các chuyên ngành khoa học. Mỗi chuyên ngành cũng phải
20
hoàn chỉnh về mặt kết cấu và nội dung, nghĩa là mỗi chuyên ngành, đến lƣợt mình,
cũng phải đầy đủ các bộ môn khoa học. Nó cũng phải phản ánh tính thống nhất và kế
thừa tri thức cổ kim, đƣợc ghi nhận qua các tên gọi (đầu mục từ) của các khái niệm.
Phân loại tri thức đƣợc coi là kim chỉ nam xuyên suốt quá trình chuẩn bị,
lập kế hoạch, xây dựng bảng từ, biên soạn nội dung và biên tập bản thảo. Tuỳ