TRƯỜNG
ĐẠI HỌC
CẦNHƯỚNG
THƠ
NHẬN XÉT
CỦA GIÁO
VIÊN
DẪN
KHỎA LUẬT
Bộ MÔN LUẬT HÀNH CHÍNH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP cử NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA 2005 - 2009
Đề tài:
VẤN ĐỀ THỰC HIỆN VĂN HÓA CÔNG SỞ
THựC TRẠNG VA HƯỚNG HOÀN THIỆN
Giáo viên hướng dẫn
Nguyễn Hữu Lạc
Sinh viên thưc hiên
Nguyễn Thị Bảo Yến
MSSV: 5055032
Lớp: Luật Thương mại - K31
Cần Thơ, tháng 4/2009
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
1.2.5. Văn hóa giao tiếp noi công sở.........................................................13
1.3 Giổi thiệu chung về công sử.................................................................. 15
1.3.1 Khái niệm công sở.........................................................................15
1.3.2 Đặc điểm của công sở....................................................................16
1.3.3........................................................................................................... Nh
iệm vụ của công sở....................................................................................16
1.4.Những vấn đề chung về văn hóa công sở...............................................17
1.4.1........................................................................................................... Kh
ái niệm văn hóa công sở...........................................................................18
1.4.2. Biểu hiện của văn hóa công sở....................................................18
CHƯƠNG II: NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÈ VĂN HÓA
CÔNG
SỞ TẠI CÁC Cơ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC.................................20
2.1 Những quy định chung.........................................................................20
2.1.1 Phạm vi điều chỉnh và đối tượng điều chỉnh của quy chế...........20
2.1.2 Các nguyên tắc thực hiện của quy chế văn hóa công sở.............20
2.1.3 Mục đích ban hành quy chế văn hóa công sở..............................21
2.1.4 Các hành vi bị cấm tại công sở.....................................................22
2.2 Trang phục giao tiểp và cách ứng xử..................................................23
2.2.1 Trang phục của cán bộ, công chức, viên chức.............................23
2.2.1.1 Trang phục...........................................................................23
2.2.1.2 Lễ phục................................................................................25
2.2.1.3 Thẻ cán bộ, công chức, viên chức.......................................26
2.2.2 Giao tiếp và úng xử của cán bộ, công chức, viên chức...............26
2.2.2.1 Giao tiếp và ứng xử.............................................................26
2.2.2.2 Giao tiếp và ứng xử với dân................................................28
2.2.2.3 Giao tiếp và ứng xử với đồng nghiệp..................................29
2.2.2.4 Giao tiếp qua điện thoại......................................................30
Hiện nay, nền kinh tế đang trên đà phát triển trong lúc sự giao lưu văn hoá giữa các
quốc gia ngày càng được đẩy manh thì văn hoá càng trở thành một trong những trung
tâm của sự chú ý mà đặc biệt là văn hoá công sở. Những năm gàn đây Đảng và nhà
nước không ngừng quan tâm đến vai hò của văn hoá nói chung và văn hoá công sở nói
riêng, đối với việc bồi dưỡng cán bộ, công chức đồng thời phát huy nhân tố con người
nhằm tiến tới mục tiêu “xây dựng một nền vãn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”.
Chúng ta đang tiến hành xây phong trào văn minh công sở. Đây là việc làm cần thiết
để nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của nền hành chính quốc gia trong tiến
trình hội nhập quốc tế.
Trong điều kiện kinh tế mở cửa hội nhập và bước đầu mở rộng quan hệ họp tác
với các quốc gia trên thế giới như hiện nay thì uy tính và năng lực là những vấn đề
không thể không quan tâm. Đe tạo được uy tính đối với bạn bè thế giới thì Đảng, nhà
nước và nhân dân ta cần phải nổ lực hết mình về mọi mặt. Đổ có thể tự khẳng định
mình và tự tin đứng vững trên thị trường thế giới thì Việt Nam cần xây dựng bộ máy
nhà nước trong sạch vững manh. Muốn làm được điều đó thì toàn Đảng toàn dân ta
cần phải rèn luyện để nâng cao kiến thức tạo môi trường văn minh, hiện đại. Muốn vậy
chúng ta cần có những bước đi đúng đắng trong việc khắc phục những hạn chế, tích
cực đổi mới nhằm hoàn thiện các chính sách pháp luật. Chính vì tầm quan trong đó mà
tôi chọn đề tài “Vấn đề thực hiện văn hoá công sở thực trạng và hướng hoàn thiện”.
2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Đề tài vấn đề thực hiện văn hoá công sở thực trạng và hướng hoàn thiện là một đề
tài tương đối rộng, đòi hỏi phải mất nhiều thời gian, để tìm hiểu và nghiên cứu nhưng
do thời gian ngắn và lượng kiến thức có giới hạn nên tác giả chỉ nghiên cứu đề tài
trong phạm vi “văn hóa công sở trong cơ quan hành chính nhà nước”.
3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
1
SVTH: Nguyễn Thị Bảo Yến
nghiên cứu đề tài với mục tiêu gì cho bản thân và cho xã hội, và cuối cùng là tác giả đã
sử dụng những phương pháp nào để nghiên cứu đề tài.
Thứ hai là phần nội dung đây là phần tương đối quan trọng. Do đó, để nghiên cứu
hết tổng thể các mặt của đề tài tác giả đã chia phần này ra làm ba chương. Trong đó,
chương một là lý luận chung về văn hóa giao tiếp qua phần này tác giả muốn cho
người đọc có một cái nhìn hết sức tổng quát từ cái chung đó là nền văn hóa lâu đời của
Việt Nam đến cái riêng đó là văn hóa công sở ttrong các cơ quan hành chính nhà nước,
để từ đó người đọc có thể hiểu một cách tổng quan về văn hóa công sở từ lịch sử tới
hiện tại và cũng để cho người đọc hiểu sâu hơn về bản sắc văn hóa của dân tộc ta. Đến
chương hai những quy định của pháp luật về văn hóa công sở tại các cơ quan
hành chính nhà nuớc. Ở đây người đọc sẽ thấy được sự quan tâm của Đảng và nhà
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
2
SVTH: Nguyễn Thị Bảo Yến
vấn đề thực hiện văn hoá công sở lý luận và thực tiển
nước ta đên vân đê vãn hóa công sở thông qua những quy định khá chi tiêt trong quy
chế như: hang phục, lễ phục, bản tên, cách giao tiếp của cán bộ, công chức, biển tên
cơ quan..., được quy định rất cụ thể. Tiếp theo là chương ba thực trạng và hướng
hoàn thiện. Qua chương này tác giả đã chỉ ra những thiếu sót cũng như những mặt
còn hạn chế tồn tại khá nhiều trong ý thức chấp hành quy chế của cán bộ, công chức
và trong việc quản lý cán bộ, công chức của nhà nước ta. Bên cạnh đó tác giả cũng đã
đưa ra một số biện pháp nhằm để góp phần hoàn thiện bộ mặt công sở nói chung và
văn hóa công sở nói riêng. Qua chương này tác giả cũng mong người đọc có thể nhìn
nhận khách quan về sự yếu kém trong việc thực hiện văn hóa nơi công sở để có thể
đóng góp một phần nào đó nhằm xây dựng một nền văn minh nơi công sở đậm đà bản
nông thôn - nông nghiệp trồng lúa trên một địa bàn không lớn, cái nôi ban đầu là lưu
vực sông Hồng đến sông Mã.
Công xã nông thôn, cộng đồng làng xã là tổ chức đã hình thành sớm và tồn tại
hàng ngàn năm trong lịch sử, là nơi bảo lưu văn minh lúa nước, văn hoá xóm làng. Có
làng trước rồi mới có nước. Nước là làng mở rộng, là tập hợp nhiều làng. Văn hoá xóm
làng được bảo đảm bởi nền tảng kinh tế là chế độ mộng công, tồn tại đến tháng 8 1945, thậm chí đến cải cách mộng đất 1955 - 1956 ở miền Bắc. Thực chất mộng công
đó là mộng do công sức, mồ hôi của nhiều thế hệ thành viên công xã khai phá, phải
làm thuỷ lơi, đào đắp đê điều, chăm sóc bảo vệ mùa màng mới có hạt thóc, hạt ngô, củ
khoai, củ sắn... Do vậy mà nảy sinh tình làng nghĩa xóm, tối lửa tắt đèn có nhau v.v...
Đen khi có nhà nước, có chế độ phong kiến, bộ máy nhà nước thiết lập, bao trùm lên,
áp đặt lên bộ máy tự quản của làng xã, mộng làng là mộng công là mộng vua, nhưng
thực chất vẫn do làng xã quản lý. Vì thế mới có tình trạng “phép vua thua lệ làng”.
Trong gia đình người Việt, “thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn”, “con
hơn cha nhà có phúc”. Gia đình mẫu hệ còn ảnh hưởng đậm nét và lâu bền nên Mỵ
Châu Công chúa con vua An Dương Vương lấy Trọng Thuỷ, Thuỷ ở rể là thuận lý hợp
tình, nếu giải mã theo quan điểm hệ thống thân tộc mẫu hệ. Đến đầu Công nguyên Hai
Bà Trưng dựng cờ nghĩa đánh đuổi giặc ngoại xâm được toàn dân hưởng ứng, trong
một thời gian ngắn giành lại 65 thành trì; thắng lợi rồi Hai Bà trở thành “vua Bà”, dưới
trướng còn có nhiều “tướng bà” v.v...
Kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước với tư liệu sản xuất chính là mộng đất, nước,
sức sản xuất quan trọng nhất là người nông dân cần cù, nông dân làm theo mùa vụ với
kinh nghiệm sản xuất, mong cho có đầy niêu cơm là đã thoả mãn, không đòi hỏi tư duy
khoa học, sáng tạo...
Điểm lại một số giá trị tinh thần, đạo đức truyền thống hàng nghìn đòi cha ông ta để
lại, giá trị lớn nhất là lòng yêu nước, trong thời đại mới được nâng lên thành chủ nghĩa
yêu nước. Dường như trong mỗi người Việt Nam đều tiềm ẩn một lòng yêu nước, yêu
quê hương. Mỗi khi vận nước bị nguy nan thử thách, lòng yêu nước đó lại bùng lên
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
4
Văn hoá là một trong những mặt cơ bản của đòi sống xã hội
_là 1 hệ thống (các giá trị, các cơ cấu, kỹ thuật, thể chế các tư tưởng ...) được
hình thành trong quá trình hoạt động sáng tạo của con người, được bảo tồn và truyền
lại qua các thế hệ sau .
_ Hệ thống vãn hóa có chức năng như là 1 khuôn mẫu chuẩn mực các hành vi xã
hội.
Tóm lại: “Văn hóa là tổng thế sống động các hoạt động sáng tạo của các cá nhân
và các cộng đồng trong quá khứ và hiện tại. Qua các thế hệ, hoạt động sáng tạo ấy đã
hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác
định đặc tính riêng của mỗi dân tộc.”1
Văn hóa còn được hiểu qua khái niệm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá
trị vật chất và tinh thần do con người sang tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực
tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội.”2
b) Biếu hiện của văn hóa trong thực tế :
Vãn hóa được biểu hiện trong các yếu tố cơ bản sau:
Các giá trị tinh thần là các sản phẩm tinh thần mà các cá nhân hay cộng đồng
sáng tạo ra ừong lịch sử và còn được dùng cho đến ngày nay. Các giá trị này gồm 2
loại sau :
Các giá trị xã hội là tổng thể các quan niệm của cộng đồng về sự tồn tại và phát
triển cộng đồng vững mạnh vì sự phồn vinh hanh phúc cho nhân dân .
Các kỹ thuật chế tác là các yếu tố kỹ thuật và công nghệ do các cá nhân hay công
động sáng tạo ra từ xưa đến nay đang được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày.
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
5
SVTH: Nguyễn Thị Bảo Yến
1.1.2.3.
Đặc trưng và chức năng của văn hóa.
Văn hóa là một vấn đề rất cũ, nhưng đang rất mới. Văn hóa là khái niệm rộng,
nên cần phải làm rõ những đặc tính cơ bản:
Thứ nhất, văn hóa trước hết phải có tính hệ thống. Đặc trưng này cần để phan biệt
hệ thống với tập hợp; nó giúp phát hiện những mối liên hệ mật thiết giữa các hiện
tượng, sự kiện thuộc một nền văn hóa; phát hiện các đặc trưng, những quy luật hình
thành và phát triển của nó.
Nhờ có tính hệ thống mà văn hóa, với tư cách là một thực thể bao trùm mọi hoạt
động của xã hội, thực hiện được chức năng tổ chức xã hội. Chính văn hóa thường
xuyên làm tăng độ ổn định của xã hội, cung cấp cho xã hội mọi phương tiện cần thiết
để ứng phó với môi trường tự nhiên và xã hội của mình. Nó là nền tảng của xã hội - có
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
6
SVTH: Nguyễn Thị Bảo Yến
vấn đề thực hiện văn hoá công sở lý luận và thực tiển
lẽ chính vì vậy mà người Việt Nam ta dùng từ chỉ loại “nên” đê xác định khái niệm
văn hóa (nền văn hóa).
Thứ hai, đặc trưng quan trọng thứ hai của văn hóa là tính giá trị. Văn hóa theo
nghĩa đen có nghĩa là “trở thành đẹp, thành có giá trị”. Tính giá trị cần để phân biệt giá
trị với phi giá trị nó là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người.
Các giá trị văn hóa, theo mục đích có thể chia thành giá trị vật chất (phục vụ cho
Nhờ nỏ mà văn hỏa đỏng vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách (trồng
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
7
SVTH: Nguyễn Thị Bảo Yến
3
www.tamlyhoc.net, giao tiếp - khái niệm giao tiếp trong tâm lý học
vấn đề thực hiện văn hoá công sở lý luận và thực tiển
người). Từ chức năng giáo dục, văn hóa có chức năng phát sinh là đảm bảo tính kê tục
của lịch sử: nó là một thứ “gien” xã hội di truyền phẩm chất con người lại cho các thế
hệ mai sau.
Năm 1940, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của
cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp
luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày
về ăn, mặc, ở và các phưomg thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó
tức là vãn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phưomg thức sinh hoạt cùng với biểu
hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và
đòi hỏi của sự sinh tồn".
Những sản phẩm do con người phát minh ra mà Chủ tịch Hồ Chí Minh liệt kê nêu
trên phải là những sản phẩm nhằm phục vụ cho con người, có nghĩa là chứa đựng
những giá trị.
1.2 Văn hóa giao tiếp.
1.2.1
Khái niệm văn văn hóa giao tiếp
4
www.tamlyhoc.net, giao tiếp - khái niệm giao tiếp trong tâm lý học
vấn đề thực hiện văn hoá công sở lý luận và thực tiển
khả năng nhận thức và hiêu biêt lân nhau của các chủ thê giao tiêp, nhờ đó tâm lý, ý
thức con người không ngừng được phát triển.
Dù với bất kì mục đích nào, trong quá trình giao tiếp cũng xảy ra sự trao đổi
thông tin, tư tưởng, tình cảm, thế giới quan, nhân sinh quan. Nhờ đặc trưng này mà
mỗi cá nhân tự hoàn thiện mình theo những yêu cầu, đòi hỏi của xã hội, của nghề
nghiệp, của vị trí xã hội mà họ chiếm giữ. Cũng nhờ đặc trưng này, những phẩm chất
tâm lý, hành vi ứng xử, thái độ biểu hiện của con người được nảy sinh và phát triển
theo các mẫu hình “nhân cách” mà mỗi cá nhân mong muốn trở thành.
Giao tiếp là một quan hệ xã hội, mang tính chất xã hội.
Quan hệ xã hội chỉ được thực hiện thông qua giao tiếp người - người. Con người
vừa là thành viên tích cực của các mối quan hệ xã hội vừa hoạt động tích cực cho sự
tồn tại và phát triển của chính các quan hệ xã hội đó.
Giao tiếp bao giờ cũng được cá nhân thực hiện với nội dung cụ thể, trong khung
cảnh không gian và thòi gian nhất định.
Giao tiếp bản thân nó chứa đựng sự kế thừa, sự chọn lọc, tiếp tục sáng tạo những
giá trị tinh thần, vật chất thông qua các phương tiện giao tiếp nhằm lưu giữ, gìn giữ
những dấu ấn về tư tưởng, tình cảm, vốn sống kinh nghiệm của con người. Giao tiếp
được phát triển liên tục không ngừng đối với cá nhân, nhóm xã hội, dân tộc, cộng đồng
tạo thành nền văn hoá, văn minh của các thời đại.
Quá trình giao tiếp được thực hiện bởi các cá nhân cụ thể: một người hoặc nhiều
người. Các cá nhân trong giao tiếp là các cặp chủ thể - đối tượng luôn đổi chỗ cho
nhau, cùng chịu sự chi phối và tác động lẫn nhau tạo thành “các chủ thể giao tiếp”.
Mức độ ảnh hưởng lẫn nhau giữa các chủ thể giao tiếp và hiệu quả giao tiếp phụ thuộc
rất nhiều vào các đặc điểm cá nhân của chủ thể như vị trí xã hội, vai trò xã hội, tính
đón chu đáo và tiếp đãi thịnh tình, dành cho khách các tiện nghi tốt nhất, đồ ăn ngon
nhất: “khách đến nhà chẳng gà thì gỏi”, “bỡi lẽ đói năm không ai đói bữa”. Tính hiếu
khách này càng tăng lên khi ta về những miền quê hẻo lánh, những miền rừng núi xa
xôi.
Đồng thời cùng với việc thích giao tiếp, người Việt Nam lại có đặc tính hầu như
ngược lại là rất rụt rè đều mà những người quan sát nước ngoài rất hay nhắc đến. Sự
tồn tại đồng thời của hai tính cách trái ngược nhau (thích giao tiếp và rụt rè) này bắt
nguồn từ hai đặc tính cơ bản của làng xã Việt Nam là tính cộng đồng và tính tự trị. Hai
tính cách tưởng như trái ngược nhau ấy không hề mâu thuẩn với nhau chúng chính là
hai mặt của cùng một bản chất. Là biểu hiện cho cách ứng xử linh hoạt của người Việt
Nam.
Thứ hai, xét về quan hệ giao tiếp, văn hóa nông nghiệp với đặc điểm trọng tình đã
dẫn người Việt Nam tới chỗ lấy tình cảm làm nguyên tắc ứng xử: “yêu nhau cau sáu
bổ ba, ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười”; “yêu nhau mọi việc chẳng nề, dẫu trăm chỗ
lệch cũng kê cho bằng”...
Nếu nói khái quát, người Việt Nam lấy sự hài hòa âm dương làm trọng nhưng
vẫn thiên về âm hơn. Thì trong cuộc sống, người Việt Nam sống có lý có tình nhưng
vẫn thiên về tình hơn: “một bồ cái lý không bằng một tí cái tình”... người Việt Nam
luôn coi trọng tình cảm hơn mọi thứ ở đời.
Thứ ba, với đối tượng giao tiếp, người Việt Nam có thói quen ưa tìm hiểu, quan
sát, đánh giá. Mặc khác, do lối sống trọng tình cảm, mỗi cập giao tiếp đều có cách
xưng hô riêng, nên nếu không đủ thông tin thì không thể nào lựa chọn từ xưng hô cho
thích họp được. Biết tính cách người để lựa chọn đối tượng giao tiếp thích họp: “chọn
mặt gửi vàng”, khi không được lựa chọn thì người Việt Nam dung chiến lược thích
ứng linh hoạt: “đi với bụt thì mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy”.
Thứ tư, tính cộng đồng còn khiến người Việt Nam, dưới gốc độ chủ thể giao tiếp,
có đặc điểm là trọng danh dự; “đói cho sạch, rách cho thơm”.
Lối sống trọng danh dự dẫn đến cơ chế tin đồn, tạo nên dư luận như một thứ vũ
khí lợi hại bậc nhất của cộng đồng để di trì sự ổn định của làng xã.
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
và linh hoạt nên người Việt Nam không có một từ cám ơn, xin lỗi chung chung cho
mọi trường họp như phương tây. Với mỗi trường họp có thể có một cách cám ơn, xin
lỗi khác nhau: “quý hóa quá”, “anh quá khen”, “bác bày vẽ quá”...
Văn hóa nông nghiệp ưa ổn định, sống chú trọng đến không gian, nên người Việt
Nam phân biệt kĩ các lời chào theo quan hệ xã hội và theo sắc thái tình cảm. Trong khi
đó văn hóa phương tây ưa hoạt động lại phân biệt kĩ các lời chào theo thời gian như
chào gặp mặt, chào chia tay, chào buổi sang, buổi trưa, buổi chiều, buổi tối,.. .5
1.2.4 chức năng của giao tiếp
“Giao tiếp có một ý nghĩa hết sức lớn lao đối với đời sống con người. Nhu cầu
liên quan tới một số lượng lớn những nhu cầu cơ bản của con người bởi vì giao tiếp là
điều kiện cần thiết cho sự phát triển bình thường của con người với tư cách là một
thành viên của xã hội, một nhân cách . R.Noibe - một nhà khoa học người Đức đã viết
“Căm thù người khác còn hơn phải sống cô độc”. Vì vậy, giao tiếp đối với người khác
là một nhu cầu thiết yếu của con người.
Có rất nhiều cách phân chia và nhiều quan điểm khác nhau về chức năng của giao
tiếp.
Theo tác giả Trần Hiêp, chức năng cơ bản của giao tiếp bao gồm:
- Chức năng thông tin liên lạc
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
11
SVTH: Nguyễn Thị Bảo Yến
vấn đề thực hiện văn hoá công sở lý luận và thực tiển
Chức năng này bao quát tât cả các quá trình truyên và nhận thông tin. Với tư
cách là một quá trình truyền tín hiệu, chức năng này có cả ở người và động vật. Tuy
Cả hai kiểu phân loại chức năng giao tiếp trên không loại trừ lẫn nhau, mà chúng
chứng tỏ rằng giao tiếp cần được nghiên cứu như một quá trình nhiều mặt đặc trưng
bởi tính năng động cao và đa chức năng, tức là việc nghiên cứu giao tiếp đặt ra việc sử
dụng các phương pháp phân tích hệ thống.
Theo GS.TS.Pham Minh Hac, chức nãns siao tiếp đươc phân chia thành hai nhóm.
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
12
SVTH: Nguyễn Thị Bảo Yến
6
www.tamlyhoc.net, giao tiếp - khái niệm giao tiếp trong tâm lý học
vấn đề thực hiện văn hoá công sở lý luận và thực tiển
- Nhóm các chức năng thuân tuý xã hội bao gôm các chức năng giao tiêp phục
vụ các nhu cầu chung của xã hội hay của một nhóm, các tập thể, các tổ chức tạo thành
xã hội.
- Nhóm các chức năng tâm lý - xã hội là các chức năng giao tiếp phục vụ các nhu
cầu của từng thành viên xã hội với người khác. Tránh cho người khác rơi vào tình
trạng cô đom, một trạng thái nặng nề khủng khiếp, nhiều khi dẫn đến bệnh tật hoặc sự
tự sát.
Theo B.Ph.Lômôv và A.A.Bôđaliôv thì giao tiếp có ba chức năng:
- Chức năng thông tin.
- Chức năng điều khiển, điều chỉnh.
- Chức năng đánh giá thái độ giao tiếp.
Theo Ngô Công Hoàn nếu coi siao tiếp là môtpham trù của Tâm lý hoc hiên đai thì
vấn đề thực hiện văn hoá công sở lý luận và thực tiển
Giao tiêp được thực hiện thông qua các công cụ truyên tải như tiêng nói, ngôn
ngữ, hành vi, tâm lý. Công cụ giao tiếp thể hiện dưới nhiều dạng, ngôn ngữ lời nói,
ngôn ngữ văn tự, ngôn ngữ cử chỉ hành vi.
Trong giao tiếp, ngôn ngữ lời nói là tiêu chuẩn để định vị nhân cách của cá nhân,
cách sống của gia đình, phong trào nhóm xã hội và cách sinh hoạt của xã hội thông
qua nội dung và hình thức biểu lộ của ngôn ngữ lời nói, người ta có thể cảm nhận,
đánh giá một con người nào đó về mặt tư cách, tính khí và cả phẩm chất đạo đức.
Ngôn ngữ lời nói vốn đa dạng như sự đa dạng của con người và cuộc sống xã hội.
nhưng ngôn ngữ lời nói cũng cần có sự định hướng đúng đắn, tuân theo những định
chuẩn, quy ước về cách ăn nói, thưa gửi, chào hỏi từ ừong gia đình, đến người xung
quanh, láng giềng tộc họ và xã hội. Có tuân theo định hướng giá trị xã hội trong ngôn
ngữ lời nói, con người mới có điều kiện đạt đến tiêu chuẩn con người thanh lịch về lời
nói.
Con người không chỉ giao tiếp bằng lời nói mà còn cả bằng ngôn ngữ văn tự.
Ngôn ngữ văn tự là công cụ để con người biểu lộ, ghi nhận những ý tưởng, xúc cảm
của mình và giao đãi với nhau thông qua thư từ và các hình thức khác có sử dụng chữ
viết. Khác với ngôn ngữ lời nói, ngôn ngữ vãn tự có thể diễn đạt dưới những hình thức
văn, thơ, truyện và những hình thức thể hiện ngôn ngữ khác, tạo nên những sản phẩm
bậc cao của giao tiếp.
Ngôn ngữ cử chỉ hành vi đóng vai trò quan trọng trong đời sống sinh hoạt, giao
tiếp nhóm và cộng đồng xã hội. có những ngôn ngữ cử chỉ đã trở thành những biểu
trưng, quy tắc ước lệ để nhận biết đặc trưng dân tộc. Đặc trưng của những tình huống
giao tiếp.
Từ sự nhận thức một cách chung nhất khái niệm giao tiếp như trên, vấn đề đặc ra
đối với cán bộ, công chức nơi công sở trong quá trình quản lý vãn hóa là sự thực hiện
giao tiếp có vãn hóa. Giao tiếp có văn hóa (mà cốt lõi của nó là văn hoá giao tiếp) là
toàn bộ những giao tiếp ở tất cả các lĩnh vực khác nhau trong xã hội đạt đến trình độ
nhất định của cái đẹp, cái tốt, cái thật, phù họp với tiêu chuẩn định hướng về văn hóa.
Trên thực tế, khi sử dụng thuật ngữ này nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam cũng quan
niệm công sở với cơ quan hành chính là một.
1.3.1
Khái niệm công sở
Theo nghĩa cổ điển, công sở là một tổ chức đặt dưới sự quản lý trực tiếp của nhà
nước để tiến hành một công việc chuyên ngành của nhà nước.
Các tổ chức mang tính chất công ích, được nhà nước công nhận thành lập, chịu
sự điều chỉnh của luật hành chính và các bộ luật khác đều có nghĩa là những công sở.
Như vậy công sở thật chất là một loại tổ chức và do đó có đặc trưng của một tổ
chức.
Xét về nội dung công việc, hoạt động của công sở nhằm thỏa mãn các lợi ích
chung của cộng đồng, do vậy, cần được sự bảo vệ nhu cầu này.
Xét về hình thức tổ chức, công sở là một tập họp có cơ cấu tổ chức, có phương
tiện vật chất và con người được nhà nước bảo trợ để thực hiện nhiệm vụ của mình.
Hình thức tổ chức của công sở do nhà nước quy định và lệ thuộc vào phương thức điều
hành của bộ máy nhà nước. Hiện nay ở nước ta có các loại công sở như công sở sự
nghiệp, công sở hành chính...
Xét trên ý nghĩa tổ chức nhà nước, khái niệm công sở gần nghĩa với cơ quan
trong hệ thống bộ máy nhà nước. Từ đó có thể coi công sở là trụ sở làm việc của cơ
quan nhà nước, do nhà nươc lập ra. Công sở có thẩm quyền để giải quyết công vụ.
Từ phân tích trên ta có thể hiểu: Công sở là một tổ chức thực hiện cơ chế điều
hành, kiểm soát công việc hành chính, là nơi soạn thảo và sử lý các văn bản để thực
hiện công vụ, đảm bảo thông tin cho hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước, nơi phối
họp hoạt động thực hiện một nhiệm vụ được nhà nước giao. Là nơi tiếp nhận đề nghị,
yêu cầu, khiếi nại của dân. Do đó, công sở là bộ phận họp thành tất yếu của thiết chế
bộ máy quản lý nhà nước.
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
15
các hành vi hành chính. Khi giải quyết các vấn đề hành chính theo luật định được gọi
là nghĩa vụ hành chính.
Là nơi thực hiện các giao dịch hành chính, công sở hành chính thường được thiết
kế theo những mô hình thích hợp. Ngoài ra, cần chú ý vị trí nơi công sở đóng sao cho
việc giao dịch được thực hiện thuận lợi. Yeu tố này tạo nên nét đặc thù trong công sở
hành chính.
Trong các công sở hành chính, theo nghĩa là trụ sở hoạt động của cơ quan trên cơ
sở chức năng, nhiệm vụ của cơ quan do luật định, mỗi cán bộ,công chức khi làm việc
đều giữ một vị trí nhất định tức là có một công việc nhất định của mình. Trong quá
trình thực hiện các nhiệm vụ được giao, theo vị trí được xác định tại công sở, cán bộ,
công chức thuộc công sở sẽ đưa ra những giải pháp theo quyền hạn, trách nhiệm của
mình và hợp tác với các cán bộ có liên quan đến công việc chung để hoàn thành nhiệm
vụ người ta gọi đó là quy trình làm việc.
1.3.3
Nhiệm vụ của công sở
Công sở là nơi thường xuyên tiếp xúc và giải quyết công việc hằng ngày của
người dân. Vì vậy, từ việc xây dựng nền nếp hoạt động của công sở cho đến thái độ 7
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
16
SVTH: Nguyễn Thị Bảo Yến
vấn đề thực hiện văn hoá công sở lý luận và thực tiển
tiêp dân, phong cách làm việc có tân tình và có tính chuyên nghiệp hay không đêu ảnh
hưởng rõ rệt đến hiệu quả công việc.
Công sở thực hiện nhiệm vụ (quen gọi là công việc) của khối gián tiếp, nhằm
triển của tổ chức.
Trên những ý nghĩa tương đồng chúng ta có thể nói đến văn hóa tổ chức công sở
như là một hệ thống giá trị hình thành trong quá trình hoạt động của công sở, tạo nên
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
17
SVTH: Nguyễn Thị Bảo Yến
8
Tạp chí quản lý nhà nước - số 149 (6-2008) TS Nguyễn Thị Thu
dựng văn hốa côngvấn đề thực hiện văn hoá công sở lý luận và thực tiển
Vân
về
“văn
hóa
công
sở
và
Xây dựng văn hóa công sở là xây dựng một nề nếp làm việc khoa học, có kỷ
cương dân chủ. Nó đòi hỏi các nhà lãnh đạo, quản lý cũng như toàn bộ thành viên của
cơ quan phải quan tâm đến hiệu quả hoạt động chung của cơ quan mình. Muốn vậy
cán bộ phải tôn họng kỷ luật cơ quan, phải chú ý đến danh dự cơ quan trong cư xử với
mọi người, đoàn kết và hợp tác trên những nguyên tắc chung, chống lại bệnh quan
lieu, hách dịch, cơ hội. Như thế niềm tin của cán bộ với cơ quan sẽ được cũng cố, phát
triển cùng với quá trình xây dựng cơ quan công sở.
Biểu hiện của văn hóa công sở có thể thấy trong các quy chế, quy định, nội quy
điều lệ hoạt động có tính chất bắt buộc mọi thành viên của cơ quan thực hiện.
Những đặc trưng văn hóa đòi hỏi các quy chế, quy định qua một thời gian áp
dụng lâu dài tại công sở, tạo nên những thói quen về nề nếp làm việc có tính chuẩn
mực mà mọi người đều tự giác thực hiện. Với mong muốn và tin tưởng ở sự lớn manh
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
18
SVTH: Nguyễn Thị Bảo Yến
xây
vấn đề thực hiện văn hoá công sở lý luận và thực tiển
của cơ quan mình, theo truyên thông văn hóa công sở, các quy chê điêu lệ sẽ được các
thành viên trong công sở thực hiện mà không cần có một sự áp đặt thường xuyên nào.
Chính tính tự giác làm cho một công sở này vượt lên khác với một công sở khác, cho
dù đôi khi chúng có thể cùng hoạt động trong một lĩnh vực và có một môi trường như
nhau.
Văn hóa công sở cũng có thể xem xét thông qua các mối quan hệ giữa các thành
19
SVTH: Nguyễn Thị Bảo Yến
9
Quy chế văn hóa công
sờ tại các cơ
quan hành chính
nhà nước vấn đề thực hiện văn hoá công sở lý luận và thực
Quyết định số
129/2007/QĐ-TTg tiển
ngày
2-82007 của Thủ
tướng
Chính phủ quyếtCHƯƠNG II
định
ban
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT YÈ VĂN HÓA CÔNG SỞ TẠI CÁC hóa công sở
hành quy chế văn
tại cán cơ quan
hành chính
Cơ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
nhà
nước
2.1 Những quy định chung.
10
Quy chế văn hóa
nghiệp, hiện đại;
Phù họp với các quy định của pháp luật và mục đích, yêu cầu cải cách hành
chính, chủ trương hiện đại hoá nền hành chính nhà nước.”10
Đe thực hiện tốt các nguyên tắc trên thì Đảng và nhà nước ta chủ trương thực
hiện xây dựng đời sống văn hóa nơi công sở:
Xây dựng đời sống văn hóa nơi công sở không thể gặp khuôn về nội dung, mỗi
cơ quan theo đặc trưng chức năng, nhiệm vụ của mình mà lựa chọn mục tiêu phù hợp.
Xây dựng đời sống văn hóa công sở phải bắt đàu từ nhận thức rõ cán bộ, công chức là
công bộc của dân, mọi hành vi của họ phải thể hiện tính nhân văn. Các chỉ tiêu xây
dựng cơ quan, công sở văn hóa phải dựa trên cơ sở các cuộc vận động của nhà nước,
của địa phương, của ngành. Trước hết, cần hoàn thiện thể chế quản lý cán bộ, công
chức nhà nước, các chế độ, chính sách tuyển dụng, quản lý, đào tạo, tiền lương, thi
tuyển, nâng bậc, phân định thẩm quyền...mỗi cơ quan còn tổ chức thanh tra công vụ
để quản lý chặt chẽ cán bộ, công chức, hạn chế tình trạng lạm quyền, nâng cao tinh
thần phục vụ, khen thưởng đúng mức, kỷ luật nghiêm minh.
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
20
SVTH: Nguyễn Thị Bảo Yến