SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG đào tạo các lớp đại học LIÊN kết ở TRUNG tâm GIÁO dục THƯỜNG XUYÊN TỈNH ĐỒNG NAI - Pdf 33

BM 01-Bia SKKN
BM 01-Bia SKKN

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị TRUNG TÂM GDTX TỈNH ĐỒNG NAI
Mã số: ................................
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO CÁC LỚP ĐẠI HỌC LIÊN KẾT
Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN TỈNH ĐỒNG NAI
(Ghi đầy đủ tên gọi giải pháp SKKN)

Người thực hiện:

HÀ VĂN SƠN

Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục



- Phương pháp dạy học bộ môn:


(Ghi rõ tên bộ môn)

- Lĩnh vực khác: ....................................................... 
(Ghi rõ tên lĩnh vực)

Có đính kèm: Các sản phẩm không thề hiện trong bản in SKKN


7. Chức vụ:

Trưởng phòng Quản lý đào tạo

8. Đơn vị công tác:

Trung tâm GDTX tỉnh Đồng Nai

II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: ĐHSP Kỹ Thuật
- Năm nhận bằng: 1992
- Chuyên ngành đào tạo: Điện Công Nghiệp
III.KINH NGHIỆM KHOA HỌC
- Lĩnh Vực Quản Lý
Số năm kinh nghiệm 03
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Dạy vật lý
Số năm có kinh nghiệm: 20
- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây: 03

2


BM03-TMSKKN

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO CÁC LỚP ĐẠI HỌC LIÊN KẾT
Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN TỈNH ĐỒNG NAI
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong những năm qua, để phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Đồng
Nai, nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ các cấp, giáo viên

Nhiều trường đại học chỉ muốn tập trung liên kết đào tạo tại Trung tâm, đi lại
thuận tiện, học viên đông, khả năng thu học phí cao dẫn đến nhiều học viên ở vùng
sâu, vùng xa có cơ hội học tập lên cao là vô cùng khó.
3


Từ những mâu thuẫn này và những quy định bất cập, nhiều trường liên kết đào
tạo không thực hiện đúng quy định, kế hoạch giảng dạy thường xuyên thay đổi,
buông lỏng quản lý và hồ sơ quản lý…
Việc chấn chỉnh quản lý hoạt động liên kết đào tạo tại Trung tâm Giáo dục
thường xuyên tỉnh Đồng Nai nhằm góp phần đưa công tác này đi vào nền nếp từ phía
cơ sở liên kết, để người học được hưởng lợi từ chất lượng đào tạo, giảm thiểu bức
xúc từ xã hội như ở công văn 743/SGD&-GDCN ngày 20/4/2007 mà lãnh đạo Sở
GD&ĐT Đồng Nai đã lên tiếng: “Tuy nhiên cũng có một số nơi chưa thực hiện đúng
những quy định của Luật Giáo dục cũng như những Điều lệ, Quy chế tổ chức hoạt
động của trường … Những vi phạm như vậy đã làm ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của
người học, uy tín của ngành và gây nên sự bất bình trong xã hội”.
Qua quá trình quản lý các lớp đại học liên kết với các trường đại học, tôi xin
đưa ra một số ý kiến về NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO CÁC LỚP ĐẠI
HỌC LIÊN KẾT Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN TỈNH
ĐỒNG NAI.
II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1.Cơ sở lý luận
- Luật Giáo dục do Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14.7.2005
và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục số 44/2009/QH12;
- Quyết định 01/2007/QĐ-BGDĐT do Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo ban
hành ngày 02/01/2007 về ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của trung tâm giáo
dục thường xuyên, ở khoản 2, điều 4, chương I: “Cơ sở giáo dục đại học khi thực
hiện chương trình giáo dục thường xuyên lấy bằng tốt nghiệp cao đẳng, bằng tốt
nghiệp đại học được phép liên kết với trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh…”;


3

4

ĐH
TÂY NGUYÊN

1
2
3
4

Luật K35
Luật K36
Luật K37
Luật K38
BÁC SĨ THÚ
Y

Trung tâm
Trung tâm
Trung tâm
Trung tâm

101
78
83
109



60

2011-2015

50

HK 6

7

Chăn nuôi K3

Xuân Lộc

59

2011-2015

45

HK 6

8

BÁC SĨ THÚ
Y K2

Định Quán


35

2013-2015

32

HK 3

Trung tâm

87

2013-2017

77

HK 3

Trung tâm

114

2013-2016

109

HK 3

Trung tâm


30

2014-2016

30

HKI

ĐH TRÀ VINH

5

ĐH
LAO ĐỘNG XÃ HỘI (CS II)

11

6

ĐH KINH TẾ LUẬT TP.HCM

12
13

7
8
9

ĐHSP TP HỒ
CHÍ MINH

cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học, ở mục b, khoản 2, điều 7, chương II: “Đối với
các khóa liên kết đào tạo cấp bằng tốt nghiệp cao đẳng, đại học, địa điểm đặt lớp phải
là các trường, các trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh”. Trong khi đó, hiện có
06 lớp đặt ngoài Trung tâm. Nhu cầu người học ở những nơi đó là có thực và nhu cầu
đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ nhân lực cho tốc độ xây dựng NÔNG THÔN
MỚI rất cần, mà cự ly đến Trung tâm thì quá xa, 06 lớp này việc học tại Trung tâm
là không thể. Để giải quyết mâu thuẫn này, Trung tâm có yêu cầu các cơ sở đặt lớp
tham mưu UBND các huyện, thị xã có công văn đề nghị mở lớp, việc làm này cũng
rất mơ hồ vì xem qua các văn bản quy phạm pháp luật liên quan thì không tìm thấy
sự chính danh nào cho việc ký “trung gian”, vì thế Trung tâm ký hồ sơ pháp lý với
5


trường ĐH, THCN rồi ký thuê mướn cơ sở vật chất ở các TTGDTX và TTDN ở các
huyện, TX để đặt các lớp này cũng chỉ là giải pháp tình thế.
2.2.2.Về quy trình tuyển sinh
Điều tra nhu
cầu người học
(A)

Hồ sơ pháp lý
(B)

Tuyển sinh
và đào tạo
(C)

Nội dung (A): Là khâu quyết định trong toàn bộ quy trình này, thường là tìm
hiểu các sở, ban ngành trong tỉnh, đặc biệt là các lớp ngân sách do tỉnh cấp, quan hệ
với Sở Nội vụ. Tuy nhiên, theo công văn 5751/UBND-VX do UBND tỉnh Đồng Nai

6


- Tổ chức tuyển sinh theo các quy định hiện hành về công tác tuyển sinh đối với
từng trình độ đào tạo.
Từ cơ sở thông tin trên và thực tế, Trung tâm quan tâm những vấn đề sau:
- Cơ sở pháp lý trong việc mở lớp.
- Năng lực của trường đào tạo.
- Năng lực của Trung tâm.
- Hồ sơ quản lý sinh viên.
- Công tác quản lý, kiểm tra và báo cáo của Trung tâm.
2.2.5 Năng lực của các trường đang liên kết
- Trường ĐH Đà Lạt: Lượng GV có học vị cao còn ít; do liên kết rộng khắp nên
vẫn còn tình trạng “mời giảng”, đặc biệt là khoa Luật – việc mời giảng chắc chắn sẽ
ảnh hưởng chất lượng đào tạo vì không gắn liền hoạt động chuyên môn, nghiên cứu
khoa học tại trường, rất may số lượng này còn ít.
- Trường ĐH Tây Nguyên: Do nằm xa địa bàn đào tạo lại đào tạo ngành Thú y nên
SV không tiếp cận được nhiều với thực hành thí nghiệm, ảnh hưởng không nhỏ đến
chất lượng đào tạo.
- Trường ĐH Nông Lâm TP Hồ Chí Minh: Có 2 lớp ở Xuân Lộc mà Trường thì
yêu cầu SV phải đến trường vào giờ thí nghiệm, rất tốt cho chất lượng đào tạo nhưng
khó khăn về vấn đề đi lại. Đây là Trường có chất lượng đào tạo tốt nhất.
- Trường ĐH Kinh tế Luật TP. Hồ Chí Minh: Đây là trường có triển vọng vì
chuyên nghiệp trong điều hành và chất lượng đào tạo.
- Các trường còn lại: Do đặc thù của ngành đào tạo nên việc học tại Trung tâm là
thuận lợi.
2.2.6.Năng lực của Trung tâm:
- Phối hợp với đơn vị chủ thể (ĐVCT) để chuẩn bị đầy đủ các điều kiện về cơ sở
vật chất: phòng học, máy móc, thiết bị, học liệu, cho hoạt động dạy học; bố trí việc
ăn ở thuận tiện cho người dạy.

động dạy và học lắng nghe các ý kiến của học viên để giúp Trung tâm phối hợp với
các trường liên kết chấn chỉnh uốn nắn kịp thời quá trình giảng dạy của giảng viên,
nắm bắt các thiếu sót để bổ sung khắc phục các yếu tố tham gia vào quá trình đào tạo.
III. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
- Hồ sơ mở lớp: Dựa vào các văn bản pháp lý, khi Trung tâm cần mở lớp đều xin
phép cơ quan hữu quan nhằm tránh những rũi ro về sau mà đặc biệt người học sẽ
gánh chịu.
- Kiểm soát được quá trình đào tạo và định hướng được việc phát triển ngành học.
- Đơn vị chủ trì và đơn vị hỗ trợ phối hợp bình đẳng.
- Giảm thiểu bức xúc từ người học và xã hội vì quá trình đào tạo được minh bạch.
- Quy mô đào tạo ngày càng tăng, đáp ứng được nhu cầu phát triển nguồn nhân
lực của các địa phương trong cả nước.
- Hình thức đào tạo, ngành nghề đào tạo ngày càng đa dạng đáp ứng được nhu cầu
và trình độ của người học.
- Chương trình đào tạo đã có nhiều cải tiến phù hợp với nhu cầu của người học và
đáp ứng nguồn lực của xã hội trong từng thời kỳ phát triển của đất nước.
- Hệ thống học liệu ngày càng phong phú, đội ngũ giảng viên tham gia đào tạo có
chất lượng đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc cập nhật thông tin, đổi mới nội dung,
hình thức đào tạo.
- Hình thức, chương trình và nội dung thi tuyển, thời gian, hình thức đào tạo,
phương pháp kiểm tra đánh giá có nhiều cải tiến phù hợp với người học, đảm bảo
chất lượng.
- Đã thực hiện tốt xã hội hóa giáo dục. Nhà nước và cá nhân đều có nghĩa vụ trong
đào tạo góp phần thay đổi mặt bằng văn hóa của các địa phương.
- Huy động được hầu hết tiềm lực của đội ngũ giảng viên ở các trường đại học, cao
đẳng, trung cấp chuyên nghiệp trực tiếp tham gia đào tạo.
- Đội ngũ quản lý đào tạo ở các trường đại học, cao đẳng, các Sở Giáo dục và Đào
tạo, các Trung tâm giáo dục thường xuyên đã trưởng thành hơn về mặt quản lý theo
hướng nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý đào tạo.
- Việc áp dụng các phương pháp dạy học mới đối với hình thức đào tạo này cần

Xem ra rất khó thực hiện. Chỉ cần công văn của Trung tâm xin mở lớp gửi Sở
GD&ĐT như tinh thần công văn 146/UBT do UBND tỉnh Đồng Nai ban hành ngày
14/01/2002 về việc Quản lý thống nhất các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng theo hình
thức giáo dục không chính quy.
- Chuẩn đánh giá hệ đào tạo VLVH chưa được các trường Đại học chú ý nên chất
lượng các ngành học không giống nhau, từng môn học cũng khác nhau. Các đề kiểm
tra đánh giá chưa thật sự coi trọng việc liên hệ thực tiễn, mới chú trọng đánh giá khả
năng tiếp nhận tri thức mà ít coi trọng đến đánh giá về kỹ năng nghề nghiệp.
- Hệ VLVH chưa có sự cân đối trong đào tạo giữa các ngành nhất là đối với đào
tạo cao đẳng và trung cấp nghề. Vì vậy, các trường cần khảo sát thống kê nhu cầu
nghề để tự điều chỉnh vi mô giúp Nhà nước thực hiện được sự cân đối vĩ mô.
- Cần có hành lang pháp lý thông thoáng cho việc Trung tâm được bảo trợ pháp lý
mở lớp ở các huyện và TX. Long Khánh nếu nơi nào bảo đảm được năng lực quản lý
và CSVC, tạo điều kiện cho nhu cầu người học ở xa Trung tâm.
- Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép các trường đại học công lập có chất lượng cao
mở rộng liên kết đào tạo sau đại học tại các Trung tâm khi có đủ các điều kiện.
9


- Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép các trường đại học tự chủ thời gian tuyển sinh
hệ vừa làm vừa học để giúp CBCCVC và người dân có điều kiện thuận lợi tham gia
dự thi tuyển sinh.
- Trong quá trình thực hiện liên kết đào tạo không bao giờ là bằng phẳng cũng gặp
những trở ngại khó khăn nhất định, tuy nhiên cần phải trải qua thực tế mới rút ra
những bài học bổ ích cho các bước tiếp theo. Nếu chúng ta luôn cầu thị biết lắng
nghe tìm nguyên nhân và rút ra bài học kinh nghiệm thì việc liên kết đào tạo sẽ ngày
càng hiệu quả.
Cách trình bày và lập luận của Tôi chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót.
Rất mong nhận được những nhận xét, góp ý của các quí đồng nghiệp nhằm nâng cao
chất lượng đào tạo các lớp liên kết ngày một hoàn hảo hơn.


CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Biên Hòa, ngày 15 tháng 5 năm 2015

PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: 2014 - 2015
–––––––––––––––––
Tên sáng kiến kinh nghiệm: NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO CÁC LỚP
ĐẠI HỌC LIÊN KẾT Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN TỈNH
ĐỒNG NAI
Họ và tên tác giả: HÀ VĂN SƠN

Chức vụ: Trưởng phòng

Đơn vị: Phòng quản lý đào tạo
Lĩnh vực: (Đánh dấu X vào các ô tương ứng, ghi rõ tên bộ môn hoặc lĩnh vực khác)
- Quản lý giáo dục



- Phương pháp dạy học bộ môn:



- Phương pháp giáo dục 
- Lĩnh vực khác: ........................................................ 
Sáng kiến kinh nghiệm đã được triển khai áp dụng: Tại đơn vị 
Ngành 


Đạt 
- Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu
quả trong phạm vi rộng:
Tốt 
Khá 
Đạt 
Sau khi duyệt xét SKKN, Phiếu này được đánh dấu X đầy đủ các ô tương ứng,
có ký tên xác nhận và chịu trách nhiệm của người có thẩm quyền, đóng dấu của đơn
vị và đóng kèm vào cuối mỗi bản sáng kiến kinh nghiệm.
XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN
(Ký tên và ghi rõ họ tên)

THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
(Ký tên, ghi rõ họ tên và đóng dấu)

12




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status