MỞ ĐẦU
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã tạo nên sự tăng trưởng kinh tế
đất nước ta nhưng cũng đang làm nảy sinh những vấn đề ô nhiễm môi trường
đất, nước, không khí ở các thành phố lớn và các khu công nghiệp. Tài nguyên
khoáng sản và rừng bị khai thác quá mức, cân bằng sinh thái bị phá vỡ, nguồn
nước bị cạn kiệt; những sự cố môi trường như mưa axit, thủng tầng ozon, hiệu
ứng nhà kính.... xảy ra ngày càng nghiêm trọng.
Cùng với quá trình công nghiệp hoá của đất nước, nhu cầu về xây dựng
dân dụng và công nghiệp rất lớn, từ đó công nghiệp SXXM của đất nước ta đã
phát triển nhanh chóng, đem lại nhiều lợi ích thiết thực như: đáp ứng kịp thời
nhu cầu ngày càng tăng về số lượng và chất lượng cho công nghiệp xây dựng và
dân dụng, thu hút một lượng lớn lao động của xã hội, đóng góp với tỷ trọng lớn
cho ngân sách Quốc gia (chiếm 10-12% GDP của toàn ngành công nghiệp). Tuy
nhiên, bên cạnh các yếu tố tích cực, công nghiệp SXXM cũng là một trong
những nhóm ngành tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên rất lớn và gây các tác động
xấu tới môi trường.
Để giảm thiểu tác động tới môi trường thì giải pháp phòng ngừa ô nhiễm
phải được coi trọng. SXSH là một chiến lược phòng ngừa ô nhiễm nhằm giảm
thiểu tác động tới môi trường gây ra bởi quá trình hoạt động sản xuất của các
doanh nghiệp, cũng qua đó đem lại lợi ích rất lớn về kinh tế và xã hội cho các
doanh nghiệp, cơ sở sản xuất khi triển khai chương trình SXSH. Ngành SXXM
có rất nhiều tiềm năng để áp dụng thành công các giải pháp SXSH. Tuy nhiên,
hiện lại chưa có nhiều các nhà máy xi măng ở Việt Nam áp dụng. Bên cạnh
chiến lược phòng ngừa thì các giải pháp xử lý các loại chất thải cũng cần được
quan tâm vì cho dù có thực hiện tốt đến đâu các giải pháp phòng ngừa thì chất
thải cũng phát sinh và gây ô nhiễm. Sự kết hợp SXSH và các giải pháp xử lý
chất thải sẽ mang lại hiệu quả về môi trường tối đa với các cơ sở SX. Vì vậy,
mục tiêu của Khoá luận là tìm kiếm các cơ hội áp dụng SXSH cho 1 nhà máy
XM đồng thời các giải pháp xử lý chất thải cho nhà máy cũng được nghiên cứu
đề xuất.
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Văn Duy
sống vật chất, tinh thần của người thợ xi măng.
Hiện nay nhiều nhà máy xi măng lớn đã xây dựng thống nhất áp dụng
được hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9000 và hệ thống quản lý
môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14000. Tuy vậy còn nhiều công ty xi măng địa
phương, liên doanh còn nhập các công nghệ sản xuất lạc hậu, xi măng kém chất
lượng, gây ô nhiễm môi trường. Với nhu cầu xi măng lớn của thị trường còn có
hiện tượng xây dựng ồ ạt các nhà máy nhỏ với công nghệ lạc hậu tại các địa
phương gây nguy cơ về sự cố môi trường và nền kinh tế đất nước.
Theo định hướng phát triển giai đoạn từ nay đến năm 2020 đã được Chính
phủ đã phê duyệt thì phải xây dựng thêm một loạt các nhà máy xi măng mới
như: Bình Phước, Hoàng Thạch 3, Bút Sơn 2, Bỉm Sơn mới, nhằm nâng công
suất của ngành sản xuất xi măng nước ta lên trên 40 triệu tấn/ năm với mức đầu
tư tới gần 6 tỷ USD, để cho ngành công nghiệp xi măng Việt Nam tiến vững
chắc trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế.
Tuy nhiên là một loại hình sản xuất đặc thù, sản xuất xi măng cũng gây
những hậu quả về ô nhiễm môi trường, đặc biệt là môi trường không khí. Tại
nhiều nhà máy việc tận dụng các phế thải làm nguyên liệu đầu vào chưa được
chú trọng, công tác quản lý và xử lý chất thải còn mang tính hình thức, đối phó
gây sự phản ứng quyết liệt của người dân địa phương.
4
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Văn Duy
1.2. Các nội dung cơ bản của SXSH
1.2.1. Phương pháp luận về SXSH
Trong hệ thống thứ bậc quan tâm trong lĩnh vực quản lý môi trường thì
giải pháp phòng ngừa chất thải, tái chế, tái sử dụng tại chỗ hiện đang được tập
chung áp dụng. Định hướng được thực hiện trong việc giảm thiểu ô nhiễm, tổn
thất năng lượng, nguyên liệu thô, nước, qua đó tiết kiệm được kinh phí từ việc
giảm chi phí lắp đặt, vận hành thiết bị xử lý.
SXSH phải được coi là bộ phận căn bản của bất kỳ hệ thống quản lý ô
nhiễm toàn diện nào, dù đó là cấp xí nghiệp hay ở cấp toàn nền kinh tế quốc
+ Tuyên truyền ý thức cho công nhân và những người vận hành về tiết
kiệm nguyên liệu, tránh rò rỉ, rơi vãi, tiết kiệm sử dụng nước, điện trong sinh
hoạt, có hình thức khen thưởng, kỷ luật đối với các phân xưởng hay cá nhân
thực hiện tốt hay không chấp hành nội quy của nhà máy.
Tái sử dụng tại nhà máy
+ Tuần hoàn nước làm mát và nước công nghệ, các dung môi và các vật
liệu khô tại nhà máy hoặc xí nghiệp.
+ Thu hồi năng lượng nhiệt ở bất cứ công đoạn nào có thể thu hồi được.
+ Tìm cách hạn chế sử dụng những nguyên liệu không mong muốn.
+ Tạo ra các sản phẩm phụ hữu ích từ các vật liệu “thải” .
Thay đổi công nghệ
+ Thay đổi thiết bị, bố trí mặt bằng sản xuất, hệ thống ống dẫn để nâng
cao hiệu quả và cải thiện dòng nguyên liệu trong quá trình sản xuất.
+ Dùng các thiết bị tự động và thiết bị kiểm soát công nghệ tốt hơn để
tránh tạo ra các sản phẩm có chất lượng thấp và sản phẩm không mong muốn.
+ Cải tiến các điều kiện công nghệ như tốc độ dòng, nhiệt độ, áp suất và
thời gian lưu để nâng cao năng suất sản phẩm và giảm lượng chất thải.
+ Dùng các tác nhân hoặc các thiết bị phụ trợ cho dây truyền sản xuất như
các chất xúc tác một cách tối ưu hơn.
+ Lắp đặt các thiết bị rửa ngược dòng.
+ Chuyển sang sử dụng các thiết bị làm sạch cơ học, nhằm tránh sử các
dung môi cho quá trình làm sạch.
6
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Văn Duy
+ Lắp đặt các động cơ có hiệu suất cao và bộ phận điểu khiển tốc độ bơm
để giảm mức tiêu thụ năng lượng và nước.
Thay đổi sản phẩm
+ Tạo ra các sản phẩm mới để giảm tác động quá trình sử dụng sản phẩm.
+ Tăng tuổi thọ của sản phẩm.
+ Tăng khả năng tái chế bằng cách loại bỏ các bộ phận hoặc thành phẩm
tăng lợi thế so sánh, sức cạnh tranh trên thị trường thông qua người tiêu dùng.
Mặt khác lượng chất thải công nghiệp cũng sẽ giảm đi dẫn tới chi phí thu gom,
vận chuyển và xử lý chất thải được giảm xuống, tiết kiệm nguy cơ phải trả cho
chi phí đền bù, thiệt hại do ô nhiễm gây ra cũng sẽ được giảm thiểu.
+ Các tổ chức cho vay tài chính hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt
Nam càng ngày càng nhận thức được các tác hại của việc huỷ hoại môi trường
và tài nguyên do hoạt động sản xuất công nghiệp gây ra. Việc lập kế hoạch về
SXSH và bảo vệ môi trường gắn liền với kế hoạch sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp cũng sẽ mang lại ấn tượng tốt về công tác BVMT của doanh
nghiệp với các tổ chức cho vay vốn hỗ trợ tài chính sẽ được thuận lợi hơn.
+ Thị trường hàng hoá hiện nay đặc biệt là các thị trường khó tính như
Mỹ, EU, Nhật Bản... ngày càng quan tâm tới hình ảnh của doanh nghiệp thông
qua hoạt động BVMT. Khi doanh nghiệp đáp ứng tốt các tiêu chuẩn về môi
trường trong nước và có các giải pháp tiếp cận về quản lý môi trường như thực
hiện SXSH, xây dựng quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn ISO 14000, nhãn sinh
thái... doanh nghiệp sẽ có nhiều cơ hội để mở rộng thị trường cho sản phẩm của
mình.
* Xét về phương diện xã hội:
+ SXSH sẽ nâng cao năng suất sản phẩm mà không làm tăng chi phí đầu
vào. Từ đó nhu cầu và các chi phí xã hội có liên quan cho việc khai thác các
nguồn tài nguyên được giảm thiểu.
+ Áp dụng SXSH sẽ giúp các doanh nghiệp tuân thủ các luật định về môi
trường một cách dễ dàng hơn, đơn giản và rẻ tiền hơn do các chất thải được
giảm thiểu ngay tại nguồn.
+ Cùng với việc áp dụng SXSH, việc nhận thức được tầm quan trọng của
môi trường lao động đảm bảo an toàn và trong lành của đội ngũ cán bộ công
8
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Văn Duy
nhân viên ngày càng gia tăng. Từ đó họ sẽ có ý thức hơn trong lao động sản xuất
nhằm kiểm soát nguồn gây ô nhiễm, sức khỏe của người lao động được quan
Tăng lợi nhuận cho công ty
Khích lệ
đổi mới
Sản
xuất
sạch
Hình 1: Lợi ích của SXSH
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Văn Duy
mức tới việc vận dụng SXSH trong quá trình phát triển công nghiệp thương mại
và công nghệ môi trường.
+ Mâu thuẫn giữa nhu cầu về SXSH và khả năng đáp ứng, đội ngũ chuyên
gia tư vấn vừa yếu về số lượng vừa yếu về chất lượng. Ngoài ra các doanh
nghiệp và tổ chức tư vấn còn thiếu các thông tin về SXSH, công nghệ sạch cũng
như phương tiện kỹ thuật để thực hiện đánh giá SXSH.
+ Ở nước ta hiện nay, việc đẩy mạnh áp dụng SXSH vào thực tiễn hoạt
động công nghiệp còn chưa có thể chế và hệ thống tổ chức. Bên cạnh đó, thị
trường trong nước còn chưa tạo ra sức ép động lực để thúc đẩy việc tiến hành
đánh giá SXSH trong hoạt động của các doanh nghiệp.
+ Khó khăn trong việc tiếp cận tổ chức tài chính và chưa có cơ chế
khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư theo hướng tiến tới một nền sản xuất
sạch.
1.3. Đặc tính thải và vấn đề xử lý chất thải tại nhà máy sản xuất xi măng
1.3.1. Đặc tính thải của sản xuất xi măng
Nguồn chất phát sinh chất ô nhiễm và tính chất chất ô nhiễm phát sinh do
hoạt động của Nhà máy xi măng được trình bày một cách tóm tắt như sau:
10
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Văn Duy
11
Nguồn gây ô nhiễm Mức độ, tính chất ô nhiễm
1. Lò hơi, thiết bị nghiền đập
phép (4dBA- 10dBA).
1. Nước thải công nghiệp:
- Nước làm nguội thiết bị
- Nước thải từ quá trình nghiền
nguyên liệu, than.
- Nước từ quá trình rửa thiết bị (kể
cả lọc bụi).
2. Nước mưa chảy tràn qua các bãi
vật liệu, rác của nhà máy
3. Nước thải sinh hoạt
+ Nhiệt độ cao, nhiễm dầu mỡ, cặn lơ
lửng (bụi than).
+ Hàm lượng cặn lơ lửng cao, dầu,
mỡ, kim loại nặng.
+ Cặn lơ lửng, dầu, mỡ, COD lớn, độ
pH kiềm, một số ion kim loại.
+ pH, BOD, COD cao, tổng Nitơ, tổng
phốt pho khá cao.
1. Chất thải rắn công nghiệp:
- Lò hơi (dùng than)
- Băng tải than, nghiền than, xỉ, các
phân xưởng sản xuất khác.
2. Chất thải sinh hoạt
+ Tro, xỉ than, đá vôi rơi vãi.
+ Xi măng bị đóng rắn.
+ Bao bì, giấy phế thải.
+ Rác thải hữu cơ, thuỷ tinh, nhựa.
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Văn Duy
1.3.2. Các biện pháp xử lý các loại chất thải
Đối với khí thải
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Văn Duy
- Khơi thông hệ thống thoát nước thải, bố trí hố ga và đặt giỏ thu gom bã
thải rắn hợp lý.
- Đối với nước thải làm lạnh tuy có ít chất ô nhiễm, song cần quan tâm
làm giảm nhiệt độ của nước tới mức cho phép để không ảnh hưởng đến môi
trường sinh thái thuỷ sinh nơi nước thải đổ vào.
- Đối với nước thải công nghiệp khác có chứa cặn có kích thước lớn (các
mảnh vụn than... có đặc tính cơ học tương đối bền) cần phải được xử lý triệt để.
Thông thường công nghệ xử lý nước thải thường ứng dụng các quá trình
xử lý cơ học, sinh học và hoá lý để xử lý cặn lơ lửng (SS), chất thải hữu cơ
(BOD
5
, COD), độ đục, dầu mỡ, kim loại nặng... Hệ thống xử lý nước thải
thường được chia làm 3 hệ thống phụ là: Xử lý bậc một (Primary treatment), xử
lý bậc hai (Secondary treatment) và xử lý bậc ba/ bậc cao (Tertiarry/ Advanced
treatment).
Điều cần lưu ý là lưu lượng và chất lượng nước thải thường thay đổi theo
thời gian, do đó bể điều hoà phải có dung tích đủ lớn để tính chất nước thải vào
hệ thống xử lý sinh học tiếp theo tương đối ổn định.
Đối với chất thải rắn
Chất thải rắn sinh ra trong quá trình hoạt động của nhà máy xi măng bao
gồm tro, xỉ than, xi măng đóng rắn, ngoài ra là phế thải, nguyên vật liệu rơi vãi
trong quá trình vận chuyển
Do vậy có thể áp dụng các biện pháp sau:
- Xây dựng kho, bãi theo tiêu chuẩn để chứa và bảo quản xỉ than dùng
cho mục đích khác.
- Các chất thải rắn hữu cơ được tái sử dụng, các chất vô cơ bền vững ít
độc hại, bao bì, giấy phế thải và rác thải sinh hoạt cần có biện pháp thu gom và
xử lý tập chung.
13
+ Tài liệu tham khảo:
- Các tài liệu tiếp cận SXSH
- Các tài liệu và giáo trình về đặc tính thải của ngành SXXM và phương
pháp xử lý.
+ Thu thập tài liệu liên quan đến SXSH ngành SXXM và xử lý chất thải:
- Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất
- Luận chứng kinh tế kỹ thuật
- Báo cáo Đánh giá tác động môi trường
- Kết quả quan trắc và phân tích môi trường nhà máy
- Báo cáo Hội thảo về SXSH trong ngành SXXM
Từ các tài liệu trên, cho ta thấy những thông tin cần thiết, cơ bản về công
việc sẽ tiến hành. Từ đó ta có thể lập kế hoạch cụ thể cho SXSH và xác định
những trọng tâm về SXSH cần hướng tới.
2.2.2.2. Phương pháp điều tra thực địa và phỏng vấn
Điều tra thực địa là xuống tận cơ sở để thu thập và thẩm tra những thông
tin trong tài liệu chưa phản ánh hay chưa đảm bảo độ tin cậy. Xem trực tiếp việc
vận hành dây truyền sản xuất, hệ thống xử lý chất thải, cảnh quan môi trường.
Dùng phương pháp đánh giá nhanh để phát hiện sớm những vấn đề môi trường
có thể nảy sinh.
Phương pháp phỏng vấn có hai hình thức chủ yếu là:
+ Phỏng vấn bán chính thức: Là phương pháp trò chuyện thân mật với
người của cơ sở, những người hiểu biết về vấn đề mà ta quan tâm. Đây là
phương pháp thu thập thông tin linh động, trong thời gian ngắn, có hệ thống, nên
đã tập trung xoáy vào những điểm cần quan tâm.
Để phục vụ cho nội dung đề tài nghiên cứu, chúng tôi đã xuống các phân
xưởng lò nung, phân xưởng nghiền nguyên nhiên liệu, xưởng nghiền XM, phân
xưởng đóng bao XM, xưởng nước để trực tiếp phỏng vấn các công nhân trong
khi họ đang làm việc về sử dụng nguyên nhiên liệu, các quá trình thao tác, vận
hành trong quá trình sản xuất theo hiểu biết và kinh nghiệm của họ. Ngoài ra nội
15
16
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Văn Duy
Nhà máy xi măng Bút Sơn đặt tại thung lũng thuộc xã Thanh Sơn huyện
Kim Bảng tỉnh Hà Nam. Phía Tây giáp hồ Trứng, phía Đông giáp núi Hồng Sơn,
từ nhà máy đến sông Đáy ở hướng Bắc, Đông, Nam khoảng 4-6 km, cách quốc
lộ 21 đi Hoà Bình 3 km, cách quốc lộ 1A và đường sắt Bắc- Nam 8 km. Nhà
máy xi măng Bút Sơn cũng nằm gần khu trung tâm dân cư lớn: cách Thủ đô Hà
Nội 64 km về hướng Bắc, cách Thành phố Nam Định 40 km về hướng Đông
Nam, cách thị xã Phủ Lý 8 km về hướng Đông Bắc, cách thị xã Ninh Bình 40
km về hướng Nam và cách thị trấn Kim Bảng 7 km về phía Bắc.
Để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, nhà máy đã xây dựng cảng
sông Đáy Kiện Khê. Cảng Kiện Khê nằm ở phía Đông Nam nhà máy, cách nhà
máy 4,3 km.
Trong thời gian sắp tới nhà máy tiếp tục xây dựng dây chuyền 2 cùng
công suất dây chuyền 1, hiện nay đã được chính phủ phê duyệt, công ty đang có
những bước chuẩn bị để xây dựng dây chuyền 2 trong thời gian ngắn nhất.
3.1.2. Tổng quan hoạt động sản xuất của nhà máy
3.1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ
Nhà máy xi măng Bút Sơn cách Hà Nội 64 km về phía Nam, tiếp giáp với
mạng lưới giao thông đường sắt, đường thuỷ, đường bộ chính của cả nước nên
có tiềm năng về thị trường rất lớn. Từ Bút Sơn, xi măng có thể toả đi khắp các
miền đất nước, nhưng thị trường chính của nhà máy là Hà Nội, Hà Nam, Ninh
Bình, Hà Tây, Hoà Bình... thuộc đồng bằng và trung du Bắc Bộ, với các sản
phẩm là XM đóng bao và XM rời. Chỉ tính riêng thị trường Hà Nội, nhu cầu xi
măng năm 2000 là 2 triệu tấn và đến năm 2005 dự tính nhu cầu sẽ trên 3 triệu
tấn.
Từ khi đưa vào sản xuất nhà máy luôn sản xuất sấp xỉ đạt công suất thiết
kế. Từ năm 2003 đến nay bằng sự nỗ lực của cán bộ công nhân viên nhà máy,
công ty đã vượt công suất thiết kế, doanh thu của nhà máy từ năm 2001 đến nay
đều sấp xỉ 1000 tỷ đồng/năm, nộp cho ngân sách nhà nước hàng chục tỷ đồng,
cỡ hạt hợp lý và dự trữ trong kho có thiết bị đồng nhất sơ bộ đảm bào chất lượng
ổn định.
+ Căn cứ vào tính chất cơ lý của đá vôi Hồng Sơn, chọn bộ thiết bị nghiền
đứng để nghiền phối liệu.
+ Hệ thống đồng nhất bột liệu theo kiểu nạp và tháo liên tục hiệu suất cao
trong một silô nhằm tiết kiệm vốn đầu tư.
+ Sử dụng máy nghiền đứng để nghiền than.
+ Nung clinker thực hiện trong lò quay với tháp trao đổi nhiệt 5 tầng có
bộ phận tiền nung và máy làm nguội clinker kiểu ghi.
18
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Văn Duy
Nhà máy sử dụng 100% than antraxit Hòn Gai có chất bột từ 6- 8% cho
lò nung. Tuy nhiên ở giai đoạn khởi động lò sẽ phải dầu FO để nhóm và trường
hợp chất lượng than giao động thì có thể phun thêm dầu để ổn định chế độ nhiệt
ở lò nung và tháp trao đổi nhiệt.
+ Nghiền xi măng được thực hiện kết hợp giữa cán ép và nghiền bi theo
chu trình kín có phân ly chung.
+ Các thiết bị vận chuyển được lựa chọn phù hợp với tính chất của
nguyên liệu, cự ly vận chuyển nhằm giảm chi phí đầu tư, an toàn trong vận hành
và bảo dưỡng thuận lợi.
+ Nhà máy trang bị hệ thống tự động hoá khâu kiểm tra, đo lường, điều
chỉnh và điều khiển trong quá trình sản xuất thông qua 3 hệ thống chính:
- Hệ thống điều khiển theo chương trình ( phần cứng).
- Hệ thống tự động kiểm tra chất lượng
- Hệ thống điều chỉnh tối ưu hoá nhà máy.
Nhà máy xi măng Bút Sơn có khả năng sản xuất clinker có chất lượng
cao, để có thể sản xuất các loại xi măng mác cao hoặc các loại xi măng khác như
xi măng ít toả nhiệt, xi măng đóng rắn nhanh, xi măng làm đường...
3.1.3. Vấn đề môi trường phát sinh
3.1.3.1. Bụi và các khí thải công nghiệp
x
; CO
x
; NO
x
và hợp chất hữu cơ bay hơi).
Bảng tải lượng khí từ các nguồn thải nhà máy xi măng Bút Sơn được đưa trong
phụ lục 2 trang 39.
Trong trường hợp thiết bị lọc bụi tĩnh điện không hoạt động (gặp sự cố),
khi đó đối với các công đoạn có sử dụng thiết bị lọc bụi tĩnh điện tải lượng ô
nhiễm sẽ tăng lên. Cụ thể là:
- Đập, nghiền, sàng than: 471,3 g/s
- Nghiền, nung nguyên liệu, nung clinker: 2963,0 g/s
- Làm nguội clinker: 490,74 g/s
- Nghiền clinker: 490,74 g/s
Trong quá trình sản xuất tại nhà máy có 3 bộ phận sử dụng nhiên liệu đốt
với khối lượng lớn đó là:
- Lò nung sơ bộ (bộ phận tiền nung): 14 tấn than/h
- Lò nung clinker: 11 tấn than/năm
- Lò hơi đốt dầu FO: một năm chỉ đốt 50% thời gian (tức 150 ngày);
trong đó 50 ngày đốt 500 kg/h và 100 ngày đốt 250 kg/h
Trong các nguồn thải của nhà máy xi măng, khí thải từ lò nung nguyên
liệu và lò nung clinker, khí thải từ các công đoạn sấy nguyên liệu và lò hơi là
20
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Văn Duy
nguồn chính được kiểm soát được. Bảng kết quả tính toán tải lượng ô nhiễm bụi
và khí độc hại dùng nhiên liệu than cám được đưa trong phụ lục 3 trang 39.
Như vậy, nếu tính theo lượng nhiên liệu sử dụng trong quá trình sản xuất
xi măng trong trường hợp hệ thống lọc bụi tĩnh điện không hoạt động, mỗi ngày
nhà máy sẽ thải vào môi trường 31859,14 kg bụi khói; 6393,6 kg SO
MNP/100ml).
Ngoài ra, trong khu vực còn một số loại nước thải khác nhưng với lưu
lượng nhỏ như nước thải từ các moong của quá trình khai thác sét, cao lanh... ở
Khả Phong, Ba Sao, nước từ quá trình tách cặn ở trạm xử lý nước cấp... có thể
tác động, gây ô nhiễm cho các ao hồ, sông suối lân cận. Bảng dự báo thành phần
và tính chất nước thải nhà máy được đưa trong phụ lục 4 trang 40.
Theo kết quả dự báo thành phần và tính chất nước thải của nhà máy xi
măng Bút Sơn (phụ lục 4) cho thấy: nhiều chỉ tiêu chất bẩn và độc hại như hàm
lượng cặn lơ lửng, COD, dầu... trong nước thải cao hơn các giá trị cho phép đối
21
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Văn Duy
với nước thải công nghiệp xả vào nguồn nước mặt loại A theo TCVN 5945-
1995. Nếu được thải ra ngoài các chất độc hại trong nước thải này sẽ gây ảnh
hưởng trực tiếp đến hệ thực vật dưới nước cũng như hệ sinh thái thuỷ vực.
Đối với sông Đáy, khi xả nước thải của nhà máy xi măng với lưu lượng
4000 m
3
/ngày đêm vào mùa khô với lưu lượng nước sông nhỏ nhất (90m
3
/s) vận
tốc dòng chảy (0,3 m/s) thì nồng độ các chất rắn, cặn lơ lửng trong sông phía
dưới miệng xả nước thải được xác định trong phụ lục 5 trang 40.
Theo tính toán trong Báo cáo Đánh giá tác động môi trường của nhà máy,
khi xả nước thải vào sông Đáy, cách điểm xả 500 m phía hạ lưu, hàm lượng cặn
lơ lửng tăng từ 1,4 đến 2,4 lần. Như vậy, các loại nước thải này phải được xử lý
khi thải ra hồ, sông theo quy định của TCVN 5945-1995.
3.1.3.3. Chất thải rắn
Chất thải rắn công nghiệp chủ yếu là bao bì, giấy phế thải , nguyên liệu
rơi vãi trong quá trình vận chuyển, xỉ than và đóng rắn.
Chất thải sinh hoạt phát sinh chủ yếu từ rác thải của các khu vực tập thể
Ô nhiễm nhiệt chủ yếu tác động đến sức khoẻ của công nhân làm việc
trong các phân xưởng có nhiệt độ cao như nhiệt liệu lò lung, cấp liệu lò, vận
chuyển clinker, nghiền than, nghiền xi măng... ( nhiệt độ khí thải >90
0
C) làm
nguội clinker (nhiệt độ khí thải 250
0
C). Nhiệt độ cao sẽ gây nên những biến đổi
về sinh lý và ở cơ thể con người như mất nhiều mồ hôi, kèm theo đó là mất mát
một lượng các muối khoáng (K, Na, Ca, F, Fe và một số sinh tố). Nhiệt độ cao
cũng làm cho cơ tim phải làm việc nhiều hơn, chức năng của thận, của hệ thần
kinh trung ương cũng bị ảnh hưởng.
3.2. ĐÁNH GIÁ, ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP SXSH VÀ XỬ LÝ C HẤT
THẢI CHO CÔNG TY XI MĂNG BÚT SƠN
3.2.1. Phân tích dây chuyền công nghệ
Dây chuyền công nghệ được phân tích dựa trên quy trình công nghệ của
nhà máy và đánh giá đầu vào đầu ra của từng công đoạn như hình dưới đây:
23
Đá vôi Đất sét Phụ gia
Khói lò ( CO, NOx,
SO
2
, bụi...), xỉ than
Dầu FO
Khí nóng
Thạch cao
Phụ gia
Điện
Đập nguyên liệuĐiện
Bụi, tiếng ồn
máy xi măng Bút Sơn
Bụi,
tiếng
ồn
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Văn Duy
3.2.2. Tính toán cân bằng nhiệt lượng và vật liệu
3.2.2.1. Cân bằng nhiệt lượng
Việc tính toán cân bằng nhiệt lượng dựa trên kết quả đo đạc của hệ thống
đo nhiệt tự động trong lò nung(đo lượng nhiệt cấp vào lò), cùng với sự giúp đỡ
của các kỹ sư trong phòng sản xuất và ban kỹ thuật an toàn nhà máy xi măng
Bút Sơn, tham khảo nguồn tài liệu của PGS.TS Nguyễn Ngọc Lân- Viện KHCN
Xây dựng về các thành phần phần trăm của nhiệt tiêu hao trong lò nung clinker
công nghệ khô.
Bảng 3 : Cân bằng nhiệt cho lò nung clinker của nhà máy xi măng
Bút Sơn
Lượng nhiệt
10
-3
kcal/tấn clinker %
24
Điệ
n
Bụi, bao
bì hỏng
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Văn Duy
Nhiệt cấp vào lò
1. Lượng nhiệt sinh ra do nguyên liệu cháy 744,39 91,9
2.Lượng nhiệt do nguyên liệu mang vào lò 4,941 0,61
3. Lượng nhiệt do không khí mang vào 8,56 1,057
4. Nhiệt toả trong quá trình do phản ứng tạo
Việc tính toán cân bằng vật chất dựa trên việc tính toán tiêu hao vật liệu
cho 1kg xi măng thành phẩm (PCB 30), với sự giúp đỡ của các kỹ sư trong
phòng sản xuất nhà máy xi măng Bút Sơn trong tính toán tiêu hao nguyên nhiên
25