TÀI LIỆU bồi DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN môn địa lí cấp THPT - Pdf 33

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẢNG BÌNH

TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN
MÔN ĐỊA LÍ CẤP THPT

Năm học: 2013-2014


MỤC LỤC
CHUYÊN ĐỀ I: TÍCH HỢP KIẾN THỨC LIÊN MÔN TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÝ

CHUYÊN ĐỀ II: PHƯƠNG PHÁP DẠY CÁC BÀI THỰC HÀNH TRONG CHƯƠNG
TRÌNH ĐỊA LÍ THPT
CHUYÊN ĐỀ III: ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC ĐỊA


2


LỜI GIỚI THIỆU
Thực hiện công văn số 3670/ BGD ĐT-NGCBQLGD ngày 30/5/2013 của Bộ
Giáo dục và Đào tạo và công văn số 698/SGDĐT-GDCNTX ngày 16/4/2013
của Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Bình về Kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên
năm học 2013 -2014, nhóm biên soạn chúng tôi xây dựng bộ tài liệu với các chủ
đề dựa trên tình hình thực tế và thực trạng dạy học môn Địa lí của các trường
THPT trong tỉnh.
Qua thực tế, một số vấn đề mới trong day học bộ môn như "giáo dục tích hợp
liên môn trong dạy học Địa lí" giáo viên chưa được cập nhật, hay nhiều giáo
viên dạy bộ môn địa lí của các trường THPT vẫn chưa thống nhất về tiến trình
dạy bài thực hành hoặc chưa vận dụng có hiệu quả công nghệ thông tin vào dạy
học địa lí, do vậy chúng tôi đã thống nhất biên soạn bộ tài liệu với ba chủ đề,

dục, khái niệm tích hợp xuất hiện từ thời kỳ khai sáng (thế kỉ XVIII) dùng để chỉ một quan
niệm giáo dục toàn diện con người, chống lại hiện tượng làm cho con người phát triển thiếu
hài hoà, cân đối. Tích hợp còn có nghĩa là thành lập một loại hình nhà trường mới, bao gồm
các thuộc tính trội của các loại hình nhà trường vốn có. Trong dạy học các bộ môn, tích hợp
được hiểu là sự kết hợp, tổ hợp các nội dung từ các môn học, lĩnh vực học tập khác nhau
(theo cách hiểu truyền thống từ 400 năm nay) thành một “môn học” mới hoặc lồng ghép các
nội dung cần thiết vào những nội dung vốn có của một môn học, thí dụ : lồng ghép nội dung
giáo dục dân số, giáo dục môi trường ... vào nội dung các môn học Địa lý, Sinh học, Giáo dục
công dân,...
1.2. Mức độ thực hiện tích hợp
Tích hợp trong giáo dục đã trở thành quan điểm phổ biến. Tuy nhiên mức độ thực
hiện thì rất khác nhau. Theo d’Hainaut (1977, xuất bản lần thứ 5, 1988), có thể chấp
nhận bốn quan điểm khác nhau đối với các môn học để thực hiện mục tiêu giáo dục
đồng thời cũng phản ánh bốn mức độ thực hiện tích hợp môn học như sau:
- Quan điểm tích hợp “trong nội bộ môn học”, trong đó chúng ta ưu tiên các nội
dung của môn học dựa trên những thành tựu của khoa học tương ứng. Quan điểm này
nhằm duy trì các môn học riêng rẽ, khi có thêm yêu cầu bổ sung mục tiêu, nội dung,…
sẽ lồng ghép chúng vào những môn học đang có sẵn trong chương trình giáo dục của nhà
trường phổ thông. Với loại hình tích hợp này, mức độ đạt được ở mức “lồng ghép”.

4


- Quan điểm tích hợp “đa môn”, trong đó chúng ta đề nghị những tình huống,
những “đề tài” có thể được nghiên cứu theo những quan điểm khác nhau nghĩa là theo
những môn học khác nhau. Theo quan điểm này, những môn học tiếp tục được tiếp
cận một cách riêng rẽ và tích hợp môn học được thực hiện bằng các đề tài được thực
hiện ở một số thời điểm nhất định, sau quá trình học tập riêng rẽ các môn học. Như
vậy, các môn học không thực sự được tích hợp mà chúng chỉ giao nhau tại thời điểm
thực hiện tình huống hoặc đề tài.

là tích hợp trong nội bộ môn học, tích hợp đa môn,… mà còn có thể thực hiện một
cách linh hoạt đối với các mức độ tích hợp.

5


1.3. Ý nghĩa của tích hợp
- Làm cho người học có tri thức bao quát, tổng hợp hơn về thế giới khách quan,
thấy rõ hơn mối quan hệ và sự thống nhất của nhiều đối tượng nghiên cứu khoa học
trong những chỉnh thể khác nhau, đồng thời còn bồi dưỡng cho người học các phương
pháp học tập, nghiên cứu có tính logic biện chứng làm cơ sở đáng tin cậy để đi đến
những hiểu biết, những phát hiện có ý nghĩa khoa học và thực tiễn lớn hơn.
Nhiều nghiên cứu ứng dụng tâm lý học nhận thức vào giáo dục đã khẳng định:
mối liên hệ giữa các khái niệm đã học được thiết lập nhằm bảo đảm cho người học có
thể huy động một cách hiệu quả những kiến thức và năng lực của mình để giải quyết
tình huống, và có thể đối mặt với một khó khăn bất ngờ, một tình huống chưa từng
gặp.
- Người học có điều kiện phát triển những kỹ năng xuyên môn và trở nên linh
hoạt hơn vì mối liên hệ giữa các khái niệm đã học được thiết lập nhằm bảo đảm cho
người học có thể huy động một cách hiệu quả những kiến thức và năng lực của mình
để giải quyết tình huống, và có thể đối mặt với một khó khăn bất ngờ, một tình huống
chưa từng gặp.
- Tích hợp liên môn còn tiết kiệm thời gian công sức vì loại bỏ được nhiều điều
trùng lặp trong nội dung và phương pháp dạy học của những bộ môn gần nhau.
2. VẤN ĐỀ TÍCH HỢP LIÊN MÔN TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ
2.1. Xu hướng tích hợp ở các nước trên thế giới
2.1.1. Tích hợp trong chương trình /môn học
- Trên thế giới, các kiến thức của khoa học xã hội thường được cấu trúc trong
các chương trình một số môn học tích hợp. Ở các nước khác nhau, khả năng tích hợp,
mức độ tích hợp cũng khác nhau.

cầu chuẩn bị nghề nghiệp của mình. Vấn đề tích hợp liên môn thường được thực hiện
qua việc xây dựng các chuyên đề liên môn trong đó kiến thức địa lí và các kiến thức
môn liên quan tạo nên chuyên đề riêng
2.1.2. Tích hợp trong dạy và học
Có nhiều con đường để thực hiện dạy học tích hợp nhưng để dạy học tích hợp
liên môn và xuyên môn thì dạy học dự án đang được nhiều nước lựa chọn và áp dụng.
Các chủ đề trong học theo dự án chủ yếu liên quan đến việc học và đời sống hàng ngày
của học sinh, có thể nằm trong các môn học tích hợp hoặc nằm ngoài chương trình. Về
cơ bản, học theo dự án được thực hiện theo quy trình ba bước lớn như sau:
1/ Lập kế hoạch: học sinh lựa chọn chủ đề dự án, xây dựng các tiểu chủ đề có
thể nghiên cứu theo năng lực, sở trường và phù hợp với thời gian, nêu được những vấn
đề nghiên cứu, lập kế hoạch các nhiệm vụ thực hiện và phân công nhiệm vụ cho các
thành viên trong nhóm.
2/ Thực hiện dự án: các thành viên đã được phân công theo kế hoạch tiến hành
thu thập thông tin, thảo luận với các thành viên khác và với nhóm trưởng, trao đổi và
xin ý kiến hỗ trợ của giáo viên.
3/ Tổng hợp và trình bày kết quả: trên cơ sở kết quả xử lý thông tin, học sinh
xây dựng các sản phẩm trả lời cho vấn đề nghiên cứu, trình bày sản phẩm của nhóm,
nhận thông tin phản hồi, rút ra những điều học được sau thực hiện dự án về kiến thức,
kỹ năng, thái độ và bài học kinh nghiêm. (TheoTS. Cao Thị Thặng - Trung tâm Nghiên
cứu Giáo dục Phổ thông, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam)
2.2. Vấn đề tích hợp ở Việt Nam
2.2.1. Tích hợp trong chương trình/ môn học
Bậc tiểu học một số kiến thức địa lí đã được lồng ghép trong một số chủ đề của
môn Tự nhiên và Xã hội ở các lớp 1, 2, 3. Đến lớp 4 và 5, Địa lí cùng Lịch sử tách
thành môn riêng nhằm giúp học sinh mở rộng và nâng cao hiểu biết về môi trường
xung quanh.

7


dài, có thể tìm hiểu quan điểm của các chuyên gia giáo dục nước ta về xu hướng dạy
học mới.
Trong Hội thảo quốc tế về xây dựng, phát triển chương trình giáo dục phổ
thông sau năm 2015 - diễn ra từ ngày 10-12/2012, các chuyên gia giáo dục đã đưa ra
đề án dạy học tích hợp ở Việt Nam với những bước chuyển biến đột phá.
Xu hướng dạy học mới
Dạy học tích hợp là quá trình dạy học trong đó giáo viên tổ chức để học sinh
huy động nội dung, kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết
các nhiệm vụ học tập, thông qua đó lại hình thành những kiến thức, kĩ năng mới, từ đó
phát triển được những năng lực cần thiết.

8


Hiện nay ở Việt Nam mới chỉ tiến hành việc tích hợp trong phạm vi hẹp. Trong
tương lai gần, Việt Nam sẽ hướng việc tích hợp sang phạm vi rộng. Đó là tích hợp các
kiến thức liên quan tới hai lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Cách tích
hợp này được thể hiện qua sách giáo khoa như sau: phần đầu của sách giáo khoa trình
bày nội dung của từng môn, phân môn; phần cuối có các chủ đề tích hợp mang tính
liên môn hoặc các chủ đề này được thực hiện xen kẽ trong quá trình thực hiện chương
trình.
Nhận định về xu hướng này, GS Đinh Quang Báo, nguyên Hiệu trưởng Đại học
Sư phạm Hà Nội khẳng định: “Tích hợp là nguyên lý không bàn cãi bởi tri thức của
chúng ta tất cả đều là tích hợp, không có ai chỉ tư duy bằng môn này hoặc môn kia, bởi
khi giải quyết một vấn đề thực tiễn phải sử dụng tri thức của nhiều môn học khác
nhau. Con người cần cái đó thì giáo dục phải giáo dục cái đó là đương nhiên”.
Phương pháp giúp phát triển năng lực toàn diện
Dạy học tích hợp có mục đích xây dựng và phát triển năng lực toàn diện cho
học sinh sẽ là xu hướng cải cách giáo dục của nước ta sau năm 2015.
- Bậc tiểu học: tăng cường tích hợp trong nội bộ môn học Toán, Tiếng Việt,

Nếu như theo định hướng trên thì sau năm 2015 môn Địa lí thực hiện tích hợp
liên môn ở bậc tiểu học chủ yếu ở lớp 4 cùng với Lịch sử tạo thành môn Tìm hiểu xã
hội, ở bậc THCS là môn Khoa học xã hội, ở bậc THPT Địa lí tách thành môn riêng và
một số chuyên đề tích hợp.
Với định hướng đó chúng ta cần phải giải quyết 2 vấn đề trong dạy học:
- Chúng ta chuẩn bị gì cho dạy học tương lai?
- Chương trình hiện hành chúng ta thực hiện tích hợp liên môn trong dạy học
địa lí như thế nào?
Với chương trình hiện tại ở bậc THCS và THPT cơ bản là thực hiện tốt dạy
học tích hợp trong dạy học địa lí theo các hướng:
- Thực hiện tích hợp trong nội bộ môn học: trong dạy học địa lý tăng cường
thực hiện lồng ghép các nội dung giáo dục mà Bộ đã yêu cầu hoặc giáo viên thấy cần
thiết.Ví dụ các nội dung lồng ghép như: bảo vệ môi trường, kỹ năng sống, sử dụng tiết
kiệm năng lượng, giáo dục bảo vệ môi trường biển đảo, giáo dục ứng phó với BĐKH,

- Thực hiện tích hợp liên môn: trong dạy học địa lý chú ý nhiều khi cần sự phối
hợp kiến thức của nhiều môn để làm rõ một vấn đề, từ đó làm cho việc hiểu kiến thức
địa lí sâu hơn, toàn diện hơn và xây dựng trong giáo viên, học sinh ý thức liên kết các
kiến thức nhiều môn khi tìm hiểu một vấn đề, giải quyết một tình huống. Tích hợp liên
môn trong dạy học địa lý còn có thể thực hiện qua việc giáo viên xây dựng các tình
huống, các đề tài hay đơn giản hơn là các câu hỏi, bài tập địa lí mà khi giải quyết
không chỉ trên kiến thức địa lí mà còn dựa trên cơ sở các môn học khác.
2.3.1 Nguyên tắc tích hợp
Khi thực hiện tích hợp các nội dung trong một tiết học cần đảm bảo các nguyên
tắc:
- Đảm bảo mục tiêu bài học
- Không làm quá tải nội dung bài học
- Không phá vỡ nội dung môn học, nghĩa là không biến bài Địa Lí thành bài
tích hợp.
- Nội dung, hình thức tích hợp phải phù hợp, không gò ép và chú ý liên hệ thực

thành tầng ôzôn trong khí quyển. GV hướng dẫn HS dùng kiến thức hóa học để giải
thích: Các tia tử ngoại và các điện tích tách phân tử ôxi thành các nguyên tử ôxi, các
nguyên tử này lại kết hợp với các phân tử ôxi khác, tạo thành ôdôn (O 2 = O + O ; O2 +
O = O3). Tầng ôzôn có vai trò quan trọng đối với sự sống của con người và các loài
sinh vật.
- Ví dụ 3:
Trong mục II.1.b. Phong hóa hóa học bài “Tác động của ngoại lực đến địa hình
bề mặt trái đất” (chương trình chuẩn), GV có thể đặt câu hỏi: Giải thích sự hình thành
địa hình karst ở động Phong Nha (Quảng Bình). Câu hỏi này vừa có ý nghĩa liên hệ
thực tế vừa yêu cầu vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết. GV hướng dẫn HS
dùng kiến thức hoá học để giải thích sự phong hoá đá vôi tạo thành địa hình karst:
Nước mưa khí quyển có chứa CO2 sẽ hoà tan rất mạnh các khoáng vật thuộc nhóm
cacbonat, sunphat, chuyển thành canxi cacbonat Ca(HCO3)2 CO2 + H2O  H2CO3 ;
CaCO3 + H2CO3  Ca(HCO3)2. Do không ổn định về mặt hoá học, nên canxi cacbonat
dễ bị phân tích thành axit cacbonic và canxi cacbonat thừa này tách ra khỏi dung dịch
tạo thành túp vôi và các dạng kết tủa trong hang động.
- Ví dụ 4:
Trong mục II.2.Sự phân bố nhiệt độ không khí trên trái đất bài “Khí quyển. Sự
phân bố nhiệt độ không khí trên trái đất” Địa lí 10 (chương trình chuẩn) GV yêu cầu
HS giải thích hiện tượng đại dương có biên độ nhiệt nhỏ, lục địa có biên độ nhiệt lớn,
sau đó GV hướng dẫn HS dùng kiến thức vật lí để giải thích: Tia mặt trời tới mặt nước
được các lớp nước trên mặt hấp thụ một phần, còn một phần được truyền xuống đốt
nóng trực tiếp các lớp ở dưới sâu. Do trao đổi loạn lưu nên sự truyền nhiệt xuống sâu ở
nước và ngược lại, nhanh gấp rất nhiều (1000 - 10.000 lần) so với dẫn nhiệt phân tử ở
đất. Tính linh động của nước càng làm cho sự truyền nhiệt có hiệu quả hơn. Vì vậy, ở
đại dương có nhiệt độ cực đại trong ngày thường thấp hơn và nhiệt độ cực tiểu trong

11



1. Kiến thức:
- Khái niệm về sóng biển và nguyên nhân chủ yếu gây ra sóng biển, sóng thần.
- Vai trò của thủy triều, dòng biển đối với sản xuất và đời sống.
- Hiểu rõ tương quan giữa vị trí Mặt Trăng, Mặt Trời và Trái Đất đã ảnh hưởng tới
thuỷ triều như thế nào.
- Nhận biết được đặc điểm phân bố của các dòng biển trên Trái đất.
2. Kĩ năng:
- Xác định được trên bản đồ sự phân bố các khu vực có sóng thần.
- Xác định được trên bản đồ các dòng biển quan trọng: các dòng biển nóng: Gơnxtrim,
Braxin, Cưrôsưvô, Môzămbich, Đông Úc,...các dòng biển lạnh: Dòng biển Peru,
Benguêla, Tây úc, California, Canary, Ôiasivô
- Khai thác kiến thức từ hình ảnh, video.
- Làm việc theo nhóm, kĩ năng vận dụng những kiến thức liên môn, tự tìm kiếm, xử lí
thông tin rút ra được những kĩ năng cần thiết trong vấn đề bảo vệ môi trường biển,
phòng chống thảm họa sóng thần.
3. Thái độ:
- Nhận thức được nguyên nhân sinh ra thuỷ triều. Biết được cách vận dụng hiện tượng
này trong cuộc sống.
- Có ý thức học tập tốt, ước mơ tìm tòi những giải pháp kĩ thuật nhằm sử dụng nguồn
năng lượng từ sóng biển, thủy triều...
II. Thiết bị
- Hình 16.4 - Các dòng biển (phóng to theo SGK)
- Các hình trong SGK ( phóng to)
- Tranh ảnh sóng biển, sóng thần, thủy triều...phim về sóng thần
- Bản đồ tự nhiên thế giới, tập bản đồ thế giới và các châu lục.
III. Hoạt động dạy học
Nội dung
tích hợp
liên môn


khí
hậu:
- HS có kĩ
năng nhận
biết những
dấu hiệu
khisắp xảy
ra
sóng
thần để có
những
biện pháp
phòng
tránh hiệu
quả.
- HS biết
chia
sẻ
những khó
khăn

thiệt hại
do
sóng

tế không phải là nước di chuyển theo chiều ngang mà đó chỉ là
sự dẫn truyền dao động của các phân tử nước, còn các phần tử
nước chỉ dao động lên xuống tại chổ theo một quỹ đạo gần tròn
so với mực nước trung bình, chân sóng là vị trí thấp nhất còn
đỉnh sóng là vị trí cao nhất của quỹ đạo.

- HS trình bày. GV chuẩn kiến thức.
- HS trình bày những hiểu biết của mình về thảm họa sóng thần
vào ngày 11-3-2011 tại Nhật Bản
- GV cung cấp thêm thông tin: Trận động đất Tohuku với
cường độ 9 độ Richte lúc 5h46’ giờ GMT tức khoảng 12h46’
giờ Việt Nam ngày 11/3/2011 xảy ra ngoài khơi phía Đông đảo
Hônsu của đất nước Nhật Bản gây ra bởi đứt gãy chờm nghịch
ở trên hoặc ngoài vùng biển đới hút chìm của mảng Thái Bình
Dương và mảng Bắc Mĩ. Sóng thần cao 38,9m đổ bộ vào vùng
ven biển khiến 15.854 người bị chết, 9.677 người bị thương,
3155 người mất tích, 125.000 công trình bị hư hại hoặc phá
hủy, đặc biệt là sự cố của nhà máy điện hạt nhân Fucosima làm
rò rĩ chất phóng xạ ra môi trường và làm ô nhiễm môi trường.
Chúng ta biết rằng các chất phóng xạ rất có hại cho sức khỏe,

14

2.
Nguyên
nhân
Chủ yếu là do
gió

3. Sóng thần
- Khái niệm:
Có chiều cao
và tốc độ rất
lớn.
Nguyên
nhân: Chủ yếu

hiện
tượng thủy
triều: HS
khắc sâu
thêm khái
niệm lực
hấp dẫn,
lực
hấp
dẫn
của
Mặt Trăng
chính

nguyên
nhân chủ
yếu sinh ra
hiện tượng
thủy triều.
Hiện
tượng
cộng
hưởng lực
hấp dẫn và
hiện tượng
triệt tiêu
lực
hấp
dẫn
của


B

A

D

- Trái Đất và Mặt Trăng đều quay quanh Mặt Trời nên Trái Đất
chịu sức hút của cả Mặt Trăng và Mặt Trời
- Trong hệ Mặt Trăng và Trái Đất. Mặt Trăng thường xuyên

15

- Tàn phá của
cải, con người,
làm cho môi
trường biển bị
ô nhiễm...

II. Thuỷ triều
1. Khái niệm
Thuỷ triều là
hiện
tượng
chuyển động
thường xuyên
và có chu kỳ
của các khối
nước trong các
biển và đại

Trong đó M là khối lượng Mặt Trăng, D là khoảng cách từ tâm
Mặt Trăng đến các điểm bị hấp dẫn, k là hằng số hấp dẫn. Như
vậy lực hấp dẫn thường hướng về Mặt Trăng và sẽ lớn nhất ở
điểm A nơi Mặt Trăng lên thiên đỉnh và nhỏ nhất ở điểm B nơi
Mặt Trăng lên thiên đế. Đồng thời trong quá trình chuyển động
cả hai thiên thể này đều quay quanh một trục chung, trục này
nằm trên Trái Đất và ở 0.73R (bán kính Trái Đất); Trái Đất lớn
hơn và có tỉ trọng lớn hơn Mặt Trăng. Do đó, trên Trái Đất
phát sinh lực li tâm của hệ. Lực này ở mọi điểm trên Trái Đất
đều bằng nhau, song song, ngược hướng với Mặt Trăng và
bằng: fn = k

M
trong đó d là khoảng cách từ tâm Mặt Trăng
d2

đến tâm Trái Đất. Do đó lực tạo triều tại điểm A bằng:
k=

M
M
2R
− k 2 = KM 3
2
D
d
d

Trong đó R là bán kính Trái Đất.
Tại điểm B khi Mặt Trăng lên thiên đế sẽ nhỏ hơn tại điểm A

Trời nhỏ hơn lực tạo triều của Mặt Trăng là 2,17 lần. Do đó
thủy triều trên Trái Đất chịu tác dụng chủ yếu của Mặt Trăng.
Như vậy lực tạo triều của Mặt Trăng khi ở thiên đỉnh có thể
làm bề mặt biển dâng cao 0,55m và của Mặt Trời là 0,25m,
mức thủy triều trung bình là 0,40m
- GV cho HS xem sơ đồ về triều cường, triều kém: Khi nào
dao động thuỷ triều lớn nhất, nhỏ nhất? Lúc đó ở Trái Đất sẽ
nhìn thấy Mặt Trăng như thế nào? Và vì sao?
- HS trả lời, GV chuẩn kiến thức: Khi Mặt Trời, Mặt Trăng và
Trái Đất cùng nằm trên một đường thẳng thì dao động thuỷ
triều lớn nhất. Lúc đó ở Trái Đất sẽ thấy Mặt Trăng là không
trăng ngày sóc (mùng 1) và trăng rằm ngày vọng (ngày 15).

16

3. Đặc điểm
Khi Mặt
Trời,
Mặt
Trăng và Trái


Thủy triều lớn nhất là do sự cộng hưởng của các lực tạo triều
của cả Mặt Trăng và Mặt Trời: tức là = 0,55m + 0,25m =
0,80m
Ngược lại khi Mặt Trăng, Mặt Trời, Trái Đất nằm vuông góc
với nhau thì dao động thuỷ triều nhỏ nhất lúc đó ở Trái Đất sẽ
thấy Mặt Trăng là trăng khuyết (thượng huyền (mùng 7, mùng
8) và hạ huyền (ngày 22,23). Thủy triều sẽ giảm đi (nhỏ nhất)
là do sự triệt tiêu của hai lực tạo triều tức là = 0,55m – 0,25m

nguồn
ta yêu cầu HS cho biết những tác hại mà triều cường mang lại.
năng
+ Bên cạnh những vai trò mà thủy triều mang lại như trên thì
lượng điện triều cường ở nước ta gây ra không ít khó khăn như gây ngập
từ
thủy úng, khó khăn trong việc đi lại...
triều. Vì
sao các tua
bin được
gắn ở các
vịnh
lại
tạo ra năng
lượng
điện.
+Tác dụng của muối có trong nước biển làm hư hại tàu thuyền
Môn hóa ví dụ: Vỏ tàu biển làm bằng sắt (Fe), bao ngoài vỏ tàu được
học.
bao bọc bởi kim loại kẽm (Zn), khi vỏ tàu bị xây xát vỏ tàu sẽ
- HS vận bị ăn mòn và nhanh chóng bị hư hại. Vì vậy, dưới tác động của
dụng kiến triều cường ở nước ta chúng sẽ gây hư hại một số công trình,

17

Đất cùng năm
trên
một
đường thẳng
thì dao động

được
những chi
tiết,
vật
dụng bị ăn
mòn dưới
tác dụng
của muối
biển.

nhà cửa, phương tiện giao thông, đồ đạc... đặc biệt là những
chi tiết máy móc được làm bằng hợp kim Fe - C (Sắt Cacbon). Chúng ta thường thấy các chi tiết máy móc bị rỉ rét
đó chính là ăn mòn kim loại.
Chuyển ý: Khi nhắc đến khái niệm " dòng sông", chúng ta sẽ
hình dung ngay đến những dòng sông xinh đẹp trên lục địa.
Hôm nay chúng ta lại tìm hiểu những "dòng sông" không chảy
trên lục địa mà chảy ngay trong biển cả. - Giới thiệu phần III.
Hoạt động 3:
- GV: yêu cầu nhớ lại kiến thức cũ từ lớp 6 nêu khái niệm dòng
biển? Có các loại dòng biển nào?
- GV cung cấp thông tin: Có nhiều cách phân loại: như theo
nguồn gốc phát sinh, theo đặc tính của nước, theo đặc điểm
chuyển động, theo độ sâu...
=> Hiện nay người ta thường dùng theo cách chia: dòng biển
nóng và dòng biển lạnh.
- GV yêu cầu HS nghiên cứu nội dung trong SGK, quan sát
hình 16.4, tập bản đồ thế giới và các châu lục, bản đồ tự nhiên
thế giới nêu quy luật hoạt động của các dòng biển trên thế
giới?
- GV chuẩn xác kiến thức

mùa:.
- Các dòng
biển nóng và
lạnh chảy đối
xứng qua hai
bờ của các đại
dương.
4. Ảnh hưởng
- Kinh tế: Các
ngư trường lớn
phát
triển
ngành thủy sản
- Khí hậu: các
dòng biển giúp
phân bố lại
nhiệt trong các
biển và đại
dương


CHUYÊN ĐỀ II: PHƯƠNG PHÁP DẠY CÁC BÀI THỰC HÀNH
TRONG CHƯƠNG TRÌNH ĐỊA LÍ THPT
Nguyễn Thị Xuân- GV THPT Chuyên
I. VAI TRÒ CỦA BÀI THỰC HÀNH ĐỊA LÍ

Chương trình địa lí THPT có một tỉ lệ khá cao bài thực hành, lớp 10: 7 bài
(chương trình cơ bản) và 14 bài (chương trình nâng cao); lớp 11: 8 bài (chương
trình cơ bản) và 12 bài (chương trình nâng cao); lớp 12: 7 bài (chương trình cơ
bản) và 13 bài (chương trình nâng cao).

trọng trong tiết học.
Một số giáo viên cho rằng bài thực hành là dành cho học sinh, giáo chỉ có vai
trò đánh giá kết quả sau khi hoc sinh làm xong bài nên giờ thực hành giáo viên
có thể thoải mái “nghỉ ngơi”.
Từ những nguyên nhân trên nên việc dạy bài thực hành chưa được giáo
viên và học sinh chú trọng đầu tư về thời gian và phương pháp, do vậy bài thực
19


hnh cha phỏt huy c vai trũ quan trng ca mỡnh trong quỏ trỡnh dy v hc
mụn a lớ.
III. Mục tiêu dạy bài thực hành địa lí

Bài thực hành địa lí có hai mục tiêu cơ bản:
- Trớc hết và quan trọng nhất là nhằm vào việc hình thành (hoặc rèn luyện)
kĩ năng địa lí và kĩ năng vận dụng kiến thức của HS.
- Củng cố hoặc vận dụng kiến thức.
Mỗi bài thực hành đợc thực hiện trong tiết học trên lớp với các nhiệm vụ cụ
thể nhằm đạt đợc những mục tiêu rõ ràng.
Do cấu trúc của kĩ năng có phần tri thức về kĩ năng và hoạt động hình thành
kĩ năng, nên quá trình thực hiện các bài thực hành cũng phải diễn ra theo hai giai
đoạn tiếp nối nhau:
- Trang bị tri thức về kĩ năng mà học sinh cần đợc hình thành (hoặc rèn
luyện) trong bài thực hành.
- Tổ chức cho HS hoạt động trên cơ sở các tri thức đã biết để hình thành kĩ năng.
Giai đoạn đầu giáo viên nên cho HS nhận thức rõ mục tiêu, yêu cầu, các
nhiệm vụ phải thực hiện, sau đó cung cấp mới (hoặc ôn lại) tri thức về kĩ năng
cần phải thực hiện, hớng dẫn HS cách làm và có thể làm mẫu một số việc nếu
thấy cần thiết. Khi có đợc những hiểu biết này, HS mới chuyển sang giai đoạn
hai, thực hiện các hoạt động (đọc, phân tích, vẽ, nhận xét,...).

Các bớc trên của bài thực hành đợc phân chia rõ để dễ theo dõi và thực hiện
bài thực hành. Trên thực tế, các bớc này có thể đợc tiến hành kết hợp ngay trong
từng hoạt động cụ thể của bài thực hành.
Trong các bớc trên, GV đóng vai trò tổ chức, hớng dẫn, chỉ đạo, còn HS chủ
đụng, tích cực hoạt động để hoàn thành bài thực hành.
Trong một số trờng hợp đặc biệt, do những đặc điểm của đối tợng học sinh
gây ra, bài thực hành có thể không đợc hoàn thành trọn vẹn trên lớp theo đúng
thời gian quy định, đòi hỏi phải có sự giải quyết linh động thích hợp. Lý luận
dạy học cho rằng, tiết học không phải hoàn toàn kết thúc sau 45 phút ở trên lớp.
Do vậy, không nhất thiết trong mọi trờng hợp phải yêu cầu HS hoàn thiện bài
thực hành ở trên lớp, mà có thể tiếp tục thực hiện ở nhà. Tuy nhiên, giáo viên
phải có sự đánh giá cụ thể kết quả làm việc của học sinh vào các thời gian thích
hợp ở các buổi học sau.
V. CC V D MINH HA
A L 10.
Bài 25
Phân tích bản đồ phân bố dân c thế giới
(Bài 35, Nâng cao)
A. gợi ý dạy học
I. Mục tiêu
Sau bài thực hành, HS cần:
1. Kiến thức
Củng cố kiến thức về phân bố dân c, các hình thái quần c và đô thị hoá.
2. Kĩ năng
Rèn luyện kĩ năng đọc, phân tích và nhận xét lợc đồ.
II. chuẩn bị
21


- Bảng 22 SGK Địa lí 11, lợc đồ Phân bố dân c thế giới, năm 2000 của SGK Địa


- Các đảo ven vòng cực
Bắc, Ca-na-da, Nga
(phần châu á), đảo Grinlen (Đan Mạch).
- Miền tây lục địa Bắc
Mĩ, Trung á, miền tây
Trung Quốc.
- Bắc Phi, Tây á, Tây úc.

Nguyên nhân
- Gần địa cực; khí hậu băng giá.

- Địa hình núi, cao nguyên; khí hậu
khô,lạnh.
- Hoang mạc cận nhiệt đới và nhiệt
22


- A-ma-dôn, Công-gô.

Tập trung
dâncđông
đúc

a. Khu vực chõu á gió
mùa (miền đông Trung
Quốc, Đông Nam á,
Nam á), đồng bằng sông
Nin, sông Ni-giê.
b. Miền Tây Âu, Trung

b) Do tác động của nhân tố kinh tế - xã hội (đóng vai trò quan trọng
hàng đầu)
- Trình độ phát triển của lực lợng sản xuất : trình độ phát triển của lực lợng
sản xuất càng cao, càng chế ngự đợc nhiều khó khăn của tự nhiên để bố trí dân
c (ngày nay, niều điểm dân c đã mọc lên ở nhữn vùng quanh năm băng giá, vùng
núi cao hay hoang mạc,...).
- Tính chất nền kinh tế : phân bố dân c phụ thuộc chặt chẽ vào tính chất của
nền kinh tế. Những khu dân c đông đúc thờng gắn với hoạt động công nghiệp
hơn là với nông nghiệp. Trong các khu vực công nghiệp, mật độ dân c cao thấp
khác nhau tuỳ theo tính chất của từng ngành sản xuất. Trong nông nghiệp cũng tơng tự, việc canh tác lúa nớc cần nhiều lao động nên dân c tập trung đông đúc.
23


- Lịch sử khai thác lãnh thổ : những khu vực khai thác lâu đời (các đồng
abừng châu thổ ở Đông Nam á, đồng bằng Tây Âu,...) có dân c đông đúc hơn
những khu vực mới khai thác (ở Ca-na-đa, Ô-xtrây-li-a,..).
- Các dòng chuyển c : các dòng chuyển c ít nhiều tác động đến bức tranh
phân bố dân c thế giới. Số dân và mật độ dân số của Bắc Mĩ, Mĩ La-tinh và Ôxtrây-li-a tăng lên nhiều nhờ những cuộc chuyển c khổng lồ từ châu Âu và châu
Phi tới.
A L 11.
Bài 9, tiết 3
tìm hiểu về hoạt động kinh tế đối ngoại của nhật Bản
(Bài 11, tiết 4, Nâng cao)
A. gợi ý dạy học
I. Mục tiêu
Sau bài thực hành, HS cần:
1. Kiến thức
Hiểu đợc đặc điểm của các hoạt động kinh tế đối ngoại Nhật Bản.
2. Kĩ năng
Rèn luyện đợc kĩ năng vẽ biểu đồ, nhận xét các số liệu, t liệu.

khẩu
Bạn hàng chủ yếu
Đầu t trực tiếp (FDI) và
viện trợ phát triển chính
thức (ODA)
Thành quả (từ 1990 đến
2004)
B. bài làm thực hành
1. Vẽ biểu đồ

2. Nhận xét hoạt động kinh tế đối ngoại
a. Đờng lối của kinh tế đối ngoại
- Tích cực nhập khẩu công nghệ, kĩ thuật nớc ngoài.
- Khai thác triệt để những thành tựu khoa học kĩ thuật, nguồn vốn đầu t của
Hoa Kì và các nớc khác.
25


Trích đoạn Sử dụng phương tiện hiện đại để khai thỏc kờnh hỡnh trong sỏch giỏo khoa. Ứngdụng CNTT phục vụ giảng dạy Khai thỏc internet
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status