• chính phủ nhiệm kỳ khóa XII.
• Nghị quyết số: 02/2007/QH12 Phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng chính phủ về
việc bổ nhiệm các phó Thủ tướng chính phủ, các bộ trưởng và thành viên khác
của chính phủ nhiệm kỳ khóa XII.
Trên đây là hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước Việt Nam theo pháp
luật hiện hành, và hệ thống các quy định của pháp luật về cơ cấu của cơ quan hành
chính nhà nước. Đây là cơ sở để phân tích và đánh giá về vai trò của các cơ quan này
trong việc xây dựng và thực hiện các quy phạm pháp luật.
1. Vai trò của các cơ quan hành chính nhà nước trong việc xây dựng và
thực hiện các quy phạm pháp luật.
a. Vai trò trong việc xây dựng các quy phạm pháp luật hành chính.
Chúng ta thấy rằng “xây dựng” có thể hiểu là tạo dựng nên, làm nên hay làm
hoàn chỉnh hơn vấn đề. Vậy theo cách hiểu này thì xây dựng các quy phạm pháp luật
hành chính đó chính là hoạt động làm nên, tạo nên hay làm hoàn chỉnh hơn các quy
phạm pháp luật hành chính hay chính xác hơn đó chính là các văn bản quy phạm
pháp luật hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước. Trên thực tế nói chung
các vai trò xây dựng các quy phạm pháp luật đó gồm có:
- Các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền sẽ có vai trò chỉ đạo, xây dựng
các dự án luật, dự án pháp lệnh, và trình các dự án luật, dự án pháp lệnh trước
Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền sẽ có vai trò ban hành các văn
bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền để thi hành Hiến pháp, luật, nghị
quyết, pháp lệnh của các cơ quan quyền lực nhà nước, quyết định của Chủ tịch
nước và các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước cấp
trên và thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình.
- Các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền sẽ có vai trò rà soát, hệ thống
hóa các văn bản quy phạm pháp luật để kịp thời kiến nghị sửa đổi, bổ sung, thay
thế, hủy bỏ, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành các văn bản quy phạm pháp luật
trái với quy định.
Có thể nói rằng đây là những vai trò nói chung của các cơ quan hành chính nhà
nước, còn tùy thuộc vào chức năng, thẩm quyền mà mỗi cơ quan hành chính nhà
Trên đây là các vai trò của cơ quan hành chính nhà nước trong việc thực thi các
quy phạm pháp luật hành chính. Đây là những căn cứ để chúng ta có thể phân tích cụ
thể hơn các vai trò của cơ quan hành chính nhà nước trong việc thực hiện các quy
phạm pháp luật hành chính.
I.
PHÂN TÍCH.
1. Phân tích vai trò của cơ quan hành chính nhà nước trong việc xây dựng
quy phạm pháp luật hành chính.
Chúng ta thấy rằng trên thực tế thì những vai trò này của các cơ quan hành
chính nhà nước diễn ra hàng ngày, hàng giờ trên toàn thể đất nước thông qua hệ
thống các cơ quan hành chính nhà nước, trên căn cứ là các quy định của pháp luật.
Vậy những vai trò xây dựng các quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà
nước cụ thể như thế nào thì chúng ta cùng đi vào phân tích như sau:
Thứ nhất: Các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền sẽ có vai trò chỉ
đạo, xây dựng các dự án luật, dự án pháp lệnh, và trình các dự án luật, dự án pháp
lệnh trước Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội. Chúng ta thấy rằng đóng vai trò
trong việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật là luật và pháp lệnh thì pháp
luật quy định. (căn cứ theo Điều 18 luật tổ chức chính phủ năm 2001) Chính phủ
trình các dự án luật trước Quốc hội, dự án pháp lệnh trước Uỷ ban thường vụ Quốc
hội và chương trình của Chính phủ về xây dựng luật, pháp lệnh với Uỷ ban thường
vụ Quốc hội. Căn cứ theo quy định tại khoản b điểm 1 điều 20 Luật tổ chức chính
phủ thì Thủ tướng chính phủ có vai trò chỉ đạo việc xây dựng các dự án luật trình
Quốc hội, các dự án pháp lệnh trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội, và theo quy định
tại khoản 2 điều 23 Luật tổ chức chính phủ thì bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang
bộ có vai trò chuẩn bị các dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác theo sự phân công
của Chính phủ. Và dựa trên các quy định trên về thẩm quyền của các cơ quan hành
chính nhà nước trong việc xây dựng luật và pháp lệnh, thì tại Luật ban hành văn bản
- Quyết định của Thủ tướng chính phủ.
- Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.
- Thông tư liên tịch giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ
- Quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nước.
- Văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân. (theo quy định Luật ban hành
văn bản quy phạm pháp luật của hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân năm
2004 thì ủy ban nhân dân ban hành dưới hình thức quyết định, chỉ thị).
Chúng ta thấy rằng dựa vào các quy định của pháp luật thì việc ban hành các
loại văn bản quy phạm pháp luật trên, chính là hoạt động xây dựng trực tiếp các văn
bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước nhằm thực hiện chức
năng của mình trong hoạt động quản lí hành chính nhà nước. Qua đây có thể khẳng
định rằng việc xây dựng các quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà
nước là việc làm thường xuyên của các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương
tới địa phương. Theo số lượng thống kê chúng ta có thể thấy rằng tính đến ngày
29/11/2010 thì chính phủ đã ban hành 111 nghị định, 2161 quyết định của Thủ tướng
chính phủ, chúng ta có thể thấy rằng số lượng văn bản quy phạm pháp luật do các cơ
quan hành chính nhà nước ban hành là rất lớn.
Thứ ba: Các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền sẽ có vai trò rà soát,
hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật để kịp thời kiến nghị sửa đổi, bổ sung,
thay thế, hủy bỏ, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành các văn bản quy phạm pháp luật
trái với quy định. Việc rà soát, hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật có ý
nghĩa vô cùng quan trọng trong hoạt động quản lí hành chính nhà nước. Việc rà soát
này nhằm phát hiện những văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu sai phạm và trái
với các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên.
Theo quy định của pháp luật thì hoạt động rà soát, hệ thống hóa các văn bản
quy phạm pháp luật được đặt ra cho các cơ quan hành chính nhà nước trong phạm
vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Điều 93 Luật ban hành các văn bản quy phạm
pháp luật năm 2008 quy định: “Cơ quan nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền
3
trong lĩnh vực hành pháp. Các cơ quan hành chính nhà nước cụ thể hóa các quy
phạm pháp luật hành chính của cơ quan nhà nước cấp trên ban hành. Có thể nhìn
nhận vai trò thực thi quy phạm pháp luật hành chính của cơ quan hành chính nhà
nước thông qua việc phân tích các vai trò sau:
Thứ nhất: Các cơ quan hành chính nhà nước căn cứ vào thẩm quyền, chức
năng nhiệm vụ của mình để thực thi các quy phạm pháp luật hành chính, đưa các
quy phạm pháp luật này đi vào thực tế, triển khai thực thi trên khắp cả nước thông
qua hệ thống cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương tới địa phương. Có thể
nhận thấy rằng hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước dựa trên các quy
định của pháp luật cụ thể từ trung ương tới địa phương lại có những chức năng
nhiệm vụ khác nhau. Và cũng chính từ việc quy định của pháp luật mà các cơ quan
hành chính nhà nước đã căn cứ vào đó thực hiện các nhiệm vụ của mình thông qua
cụ thể các quy phạm pháp luật đó. Ví dụ: Chính phủ ban hành nghị định 146/ 2007,
nghị định 34/2010 về việc xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ,
đấy chính là hoạt động cụ thể hóa quy định: pháp lệnh xử phạt hành chính của Ủy
ban thường vụ Quốc hội năm 2002, nhằm đưa các quy phạm pháp luật hành chính
này đi vào thực tiễn quản lí nhà nước trên tất cả đất nước. Nếu không có các nghị
định trên của chính phủ thì việc thực hiện trên thực tiễn sẽ rất khó vì pháp lệnh chỉ
4
quy định những vấn đề chung nhất và nhiệm vụ của chính phủ là phải thực thi nó
trên căn cứ pháp lệnh đó bằng các hoạt động quản lí của mình. Trên đây chỉ là một
ví dụ để có thể làm sáng tỏ nhận định trên, còn trên thực tế chúng ta thấy rằng đó là
một hoạt động thường xuyên và liên tục của các cơ quan hành chính nhà nước để
thực thi nhiệm vụ của mình. Hay có rất nhiều các ví dụ như: Việc cụ thể hóa các
nghị quyết của hội đồng nhân dân ở Ủy ban nhân dân các tỉnh, huyện, xã.
Thứ hai: Các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền quyết định các biện
pháp chỉ đạo, kiểm tra và đôn đốc việc thi hành Hiến pháp, pháp luật, các văn bản
quy phạm pháp luật của cơ quan cấp trên trong các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh
quy phạm pháp luật hành chính. Qua hoạt động thanh tra thì các cơ quan hành chính
nhà nước có thể nắm bắt được tình hình thực thi các quy phạm pháp luật hành chính
ở các cấp dưới, qua đó có những biện pháp kịp thời để khắc phục nếu phát hiện.
Việc giải quyết khiều nại tố cáo của nhân dân cũng chính là hoạt động thực thi quy
phạm pháp luật hành chính, bằng quyền lực nhà nước trao cho các chủ thể quản lí
hành chính nhà nước sẽ thực thi các quy phạm pháp luật này nhằm giải quyết mọi
5
khúc mắc, tranh chấp của người dân thuộc thẩm quyền giải quyết của mình. Theo
quy định tại khoản 3 điều 94 Luật tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân
năm 2004 thì ủy ban nhân dân cấp tỉnh “Tổ chức, chỉ đạo công tác thanh tra nhà
nước, tổ chức tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của công dân theo
quy định của pháp luật”, và tại khoản 5 điều 106 lại quy định ủy ban nhân dân cấp
huyện “Tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện công tác kiểm tra, thanh tra nhà nước; tổ
chức tiếp dân, giải quyết kịp thời khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của công dân;
hướng dẫn, chỉ đạo công tác hoà giải ở xã, thị trấn” và khoản 2 điều 107 ủy ban
nhân dân cấp xã “Tổ chức tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của
công dân theo thẩm quyền”. Chúng ta thấy rằng việc thực thi các quy phạm pháp
luật cũng được thể hiện rõ nét qua vai trò kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố
cáo của cơ quan hành chính nhà nước.
Thứ tư: Đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ các văn bản quy phạm pháp luật của
cơ quan cấp dưới trái với các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan cấp trên. Việc
đình chỉ thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật cũng chính là việc
đảm bảo thực hiện các quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên. Có thể
lấy ví dụ như việc thành phố Hà Nội ra quyết định một người chỉ được đăng kí một
chiếc xe máy, đây là một văn bản quy phạm pháp luật mà chính UBND thành phố
Hà Nội đã phải ra quyết định số 221/QĐ-UB về bãi bỏ việc thí điểm ngừng đăng ký
xe máy tại 7 quận nội thành. Đây là văn bản quy phạm pháp luật trái với quy định
của Hiến pháp, việc bãi bỏ quyết định này cũng chính là việc bảo đảm thực hiện
- Văn bản quy phạm pháp luật thường sao chép lại các quy định của cấp trên
nên nhìn chung tính khả thi sau khi ban hành không cao, đến lúc thực hiện thì còn
chung chung và chưa thực sự thực thi có hiệu quả.
- Việc xây dựng Quyết định, Chỉ thị của UBND chưa đảm bảo đúng trình tự,
thủ tục luật định. Số lượng văn bản đăng ký ban hành theo các Chương trình này đạt
tỷ lệ không cao, còn mang tính hình thức;
- Dự thảo văn bản gửi thẩm định không đúng quy định làm ảnh hưởng đến thời
gian thẩm định và bị động cho cơ quan thực hiện chức năng thẩm định. Đội ngũ cán
bộ làm công tác thẩm định ở địa phương còn nhiều hạn chế về trình độ, năng lực.
Nội dung thẩm định phần lớn về thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản, chưa đi sâu
phân tích nội dung của văn bản;
- Công tác rà soát và hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật ở các cấp hàng
năm chưa được quan tâm đúng mức. Việc gửi văn bản phục vụ cho công tác kiểm tra
chưa kịp thời và chưa đầy đủ theo quy định của pháp luật;
- Mặc dù nội dung thẩm định chủ yếu phát hiện các lỗi về hình thức, kỹ thuật
trình bày nhưng hầu hết các văn bản ban hành vẫn chưa đảm bảo về mặt trình tự, thủ
tục và thể thức, kỹ thuật trình bày theo quy định của pháp luật;
- Nhiều địa phương còn né tránh việc kiểm tra văn bản nên đã không ban hành
văn bản quy phạm pháp luật mà thay vào đó là ban hành nhiều văn bản cá biệt có
chứa quy phạm pháp luật.
- Nhiều cơ quan hành chính nhà nước còn chưa thật sự nghiêm túc nhìn nhận,
đánh giá lại kết quả khi thực thi các văn bản quy phạm pháp luật hành chính mà còn
thờ ơ. Việc đánh giá rút kinh nghiệm là hoạt động vô cùng quan trọng của các cơ
quan hành chính nhà nước.
- Vấn đề thực thi còn gặp nhiều khó khăn vì trình độ cán bộ xã còn thấp ở nhiều
khu vực miền núi, xa xôi, việc kiểm tra đốc thúc gặp nhiều khó khăn. Còn nhiều các
đơn thư khiếu nại tố cáo giải quyết chưa triệt để, để người dân kiện vượt cấp gây sức
ép công việc cho các cơ quan hành chính cấp trên.
7