Thực trạng của sự kết hợp đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữalý luận và thực tiễn trong việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS Nguyễn Huệ từ năm 2004 - 2009 - Pdf 33

Lớp Trung cấp Lý Luận chính trị- Hành chính K75

A. PHẦN MỞ ĐẦU :
Giáo dục và đào tạo có vai trò cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp
trồng người, sự nghiệp có ý nghĩa nhất quán từ xưa đến nay, nó là mục tiêu,
là động lực của sự phát triển kinh tế-xã hội. Tất cả các nước trên thế giới
đều rất coi trọng vấn đề giáo dục và đã đặt ra những yêu cầu mới, những
chuẩn mới nhằm nâng cao chất lượng công tác giáo dục nói chung cũng
như cho các trường học, các trung tâm giáo dục - đào tạo nói riêng. Nước
Mỹ đặt trọng tâm vấn đề cải cách giáo dục vào các trường học. Nhật Bản
coi giáo dục là nền tảng của quốc gia. Trung Quốc coi giáo dục là một
trong những trọng điểm chiến lược của phát triển kinh tế, đặc biệt nhấn
mạnh đến giáo dục cơ sở ở các trường và giáo dục dạy nghề.
Ở Việt Nam, Đại hội lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã
khẳng định mục tiêu đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp vào năm
2020. Sự phát triển đất nước, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đó đang đặt ra
những vấn đề cấp bách cho ngành giáo dục. Từ đó Đảng ta có những Nghị
quyết riêng về giáo dục như Nghị quyết TW 2 khóa VIII đã nêu: Cần có
quyết tâm cao, suy nghĩ lớn về một chiến lược phát triển giáo dục và đào
tạo, trong đó một trọng điểm là những định hướng cơ bản về phát triển giáo
dục Trung học cơ sở (THCS). Tư tưởng chiến lược của Đảng ta trong thời
kỳ này là giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, coi giáo dục và đào tạo là
quốc sách hàng đầu, phát triển giáo dục- đào tạo gắn với nhu cầu phát triển
kinh tế -xã hội, những tiến bộ khoa học- công nghệ và củng cố quốc phòng
an ninh.
Hội nghị lần thứ IX BCH Trung ương khóa IX tiếp tục khẳng định :
“Phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng
đầu; quán triệt sâu sắc hơn nữa ở các cấp các ngành và trong toàn xã hội về
vai trò động lực của các yếu tố văn hoá, xã hội đối với sự phát triển nhanh,
bền vững của đất nước”. Đến Đại hội X tiếp tục khẳng định: “ Nâng cao
chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học”.

tuệ thẩm mỹ, sức khỏe và lao động, đáp ứng yêu cầu xây dựng con người
mới phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước.
Trước yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước với mục tiêu “Dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” đang đặt ra và đòi
hỏi mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã
hội nói chung và ngành giáo dục nói riêng, không ngừng nâng cao chất
lượng toàn diện và hiệu quả công tác.
Vì vậy tổ chức thực hiện nội dung chỉ đạo về đổi mới phương pháp
dạy học ở trường THCS vừa là mục tiêu, vừa là nhiệm vụ của người giáo
viên. Do đó tôi nghiên cứu và chọn đề tài “ Sự kết hợp đúng đắn mối quan
hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn trong việc đổi mới phương pháp
dạy học ở trường THCS Nguyễn Huệ từ năm 2004-2009” với mục đích
đánh giá lại thực trạng của việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường
THCS Nguyễn Huệ trong thời gian qua. Trên cơ sở đó, tìm ra giải pháp
thiết thực nâng cao hơn nữa chất lượng dạy và học ở trường.
Đề tài được hình thành với những nội dung chính sau:
- Cơ sở lý luận của mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn
trong việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS.
- Thực trạng của sự kết hợp đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa
lý luận và thực tiễn trong việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường
THCS Nguyễn Huệ từ năm 2004 - 2009.

B. PHẦN NỘI DUNG :
I. Cơ sở lý luận của mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn
trong việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS:
1. Quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về mối quan hệ giữa lý
luận và thực tiễn:
2



trưng chỉ cho con người. Nếu động vật chỉ hoạt động theo bản năng, nhằm
thích nghi với thế giới bên ngoài một cách bị động, thì con người nhờ vào
hoạt động thực tiễn- như là hoạt động có ý thức, có mục đích của mình mà
cải tạo thế giới để thỏa mãn nhu cầu của mình, thích nghi một cách chủ
dộng, tích cực với thế giới và để làm chủ thế giới.
Ngay từ buổi bình minh, con người đã tiến hành lao động sản xuất
để có cái ăn, cái mặc, cái ở để thích nghi với môi trường một cách chủ
động. Và thông qua hoạt động thực tiễn, bản thân con người nhận thức thế
giới bằng cảm tính, dần dần chính thông qua hoạt động thực tiễn, con người
ngày càng hoàn thiện hơn cả về thể chất lẫn năng lực trí tuệ, năng lực tư
duy của con người phát triển, con người có khả năng khái quát những kinh
nghiệm thực tiễn thành lý luận. Và cũng chính trong hoạt động thực tiễn
con người chế tạo ra công cụ lao động, phương tiện vật chất ngày càng hiện
đại hơn giúp con người ngày càng nhận thứ c sâu sắc hơn về thế giới hiện
thực.
3


Lớp Trung cấp Lý Luận chính trị- Hành chính K75

Thực tiễn biểu hiện rất đa dạng với nhiều hình thức ngày càng
phong phú, song có ba hình thức cơ bản là hoạt động sản xuất vật chất, hoạt
động chính trị -xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học.
Ba hình thức cơ bản của hoạt động thực tiễn có mối quan hệ chặt
chẽ. Trong đó hoạt động sản xuất vật chất là hình thức cơ bản nhất quyết
định sự tồn tại và sự phát triển của xã hội loài người và ảnh hưởng đến hình
thức biểu hiện khác của hoạt động thực tiễn.
Hoạt động chính trị - xã hội là hình thức cao nhất của hoạt động thực
tiễn. Thông qua hoạt động chính trị-xã hội làm các mối quan hệ xã hội thay
đổi, đặc biệt là đấu tranh giai cấp trong xã hội có giai cấp đối kháng là

Lý luận là sản phẩm cao của quá trình nhận thức. Quá trình nhận
thức chân lý, nhận thức thực tại khách quan được V.I.Lênin khái quát như
4


Lớp Trung cấp Lý Luận chính trị- Hành chính K75

sau: “ Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu
tượng đến thực tiễn”.
Quá trình nhận thức diễn ra ở hai giai đoạn:
• Giai đoạn 1:
Trực quan sinh động (nhận thức cảm tính) là giai đoạn đầu của quá
trình nhận thức, gắn liền với thực tiễn. Ở giai đđoạn này, nhận thức của con
người phản ánh trực tiếp khách thể thông qua các giác quan được biểu hiện
dưới 3 hình thức: cảm giác, tri giác, và biểu tượng.
- Cảm giác: là hình thức đầu tiên của quá trình nhận thức và là nguồn
gốc của mọi sự hiểu biết, là kết quả của sự tác động vật chất của sự vật vào
các giác quan của con người, là sự chuyển hóa năng lượng kích thích bên
ngoài thành yếu tố của ý thức. Ở hình thức này chỉ mới phản ánh những
thuộc tính, những mặt riêng lẻ của sự vật hiện tượng.
- Tri giác: là sự tổng hợp của nhiều cảm giác, nó đem lại hình ảnh
tương đối hoàn chỉnh hơn về sự vật. Tri giác nảy sinh trên cơ sở các cảm
giác, là sự kết hợp của nhiều cảm giác. Nó đem lại cho chúng ta tri thức về
sự vật đầy đủ hơn, phong phú hơn.
- Biểu tượng: là hình ảnh của sự vật được lưu giữ lại trong trí nhớ.
Sự tiếp xúc trực tiếp nhiều lần với sự vật, hiện tượng sẽ để lại cho chúng ta
những ấn tượng, những hình ảnh về sự vật, hiện tượng đó. Những ấn tượng,
những hình ảnh này đậm nét và sâu sắc đến mức có thể hiện lên trong ký ức
của chúng ta khi có sự tác động, ngay cả khi sự vật không còn ở trước mặt,
đó chính là biểu tượng.

sự vật, hiện tượng, làm cho nhận thức của con người sâu sắc hơn, đầy đủ
hơn, đúng đắn hơn.
c. Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn:
Các hình thức hoạt động thực tiễn nêu trên chúng có mối quan hệ mật
thiết với nhau, trong đó hoạt động lao động sản xuất cho xã hội là cơ bản
nhất. Thực tiễn mang tính lịch sử xã hội, nó không phải là hoạt động của
một cá nhân đơn lẻ mà là hoạt động của xã hội loài người.
Thực tiễn có vai trò to lớn đối với nhận thức, đó là cơ sở, động lực
chủ yếu và trực tiếp của nhận thức, muốn sống, muốn tồn tại con người làm
ra của cải vật chất và cải tạo xã hội. Nó buộc con người phải nhận thức thế
giới xung quanh. Cho nên Ph.Aêng-ghen đã chỉ rõ: “…Chính việc người ta
biến đổi tự nhiên, chứ không phải một mình giới tự nhiên, với tính cách
giới tự nhiên, là cơ sở chủ yếu nhất của tư duy con người và trí tuệ con
người đã phát triển song song với việc người ta đã học cải biến tự nhiên”.
Thực tiễn là mục đích của nhận thức chân lý: bằng hoạt động thực tiễn
và thông qua hoạt động thực tiễn, con người tác động vào thế giới khách
quan, buộc chúng phải bộc lộ những thuộc tính, tính chất, quy luật để con
người nhận thức, từ đó tri thức của loài người ngày càng phát triển. Con
người sử dụng các tri thức đó làm phương hướng, giải pháp để tiếp tục chỉ
đạo các hoạt động thực tiễn đạt kết quả cao hơn, tốt hơn.
Thực tiễn là tiêu chuẩn kiểm tra chân lý. Thực tiễn luôn luôn vận
động, biến đổi, phát triển, luôn đòi hỏi được khái quát, tổng kết để làm giàu
kinh nghiệm, phát triển lý luận, định hướng cho hoạt động thực tiễn tiếp
theo. Các tri thức kinh nghiệm đó phải được thực tiễn khẳng định, đánh giá.
Trên cơ sở ấy, thực tiễn thúc đẩy cho lý luận và khoa học phát triển. Chúng
ta cần quán triệt quan điểm thực tiễn, phải đi sâu, đi sát thực tiễn và tăng
cường tổng kết thực tiễn. V.I.Lê-nin đã chỉ rõ: “Quan điểm về đời sống, về
thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức”.
Quan điểm này đòi hỏi:
- Phải xuất phát từ thực tiễn và dựa trên cơ sở thực tiễn để nhận thức

tiễn, tức là sự thống nhất giữa cái phản ánh và cái được phản ánh. Tuy vậy
không phải ở đâu, lúc nào lý luận và thực tiễn cũng thống nhất, mà có lúc
nó mâu thuẫn với nhau.
Sự mâu thuẫn giữa lý luận và thực tiễn thể hiện ra khi thực tiễn không
phù hợp, không phản ánh đúng đắn thực tiễn. Vì thực tiễn luôn luôn vận
động phát triển không ngừng, lý luận đã trở nên không đầy đủ, không còn
phù hợp hoặc trở nên lạc hậu, phải có lý luận mới hình thành. Cứ như vậy
mà lý luận và thực tiễn cùng phát triển không ngừng.
Lý luận có khả năng vượt trước, có thể là giả thiết, là tiên đoán khoa
học có tầm cỡ chỉ đạo thực tiễn rất xa, trở thành định hướng cho hoạt động
thực tiễn, như lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
là lý luận khoa học có giá trị hướng dẫn thực tiễn, là sự tổng hợp các tri
thức về tự nhiên, xã hội được tích lũy trong quá trình lịch sử của con người.
Do vậy, chúng ta phải quán triệt quan điểm thực tiễn, nhận thức lý
luận phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, coi trọng việc
tổng kết thực tiễn. Đồng thời phải thấy rõ sự tác động trở lại của lý luận đối
với thực tiễn, bởi vì nếu lý luận phản ánh đúng thực tiễn, phù hợp với thực
tiễn thì nó có vai trò chỉ đạo hoạt động thực tiễn và cải tạo thế giới khách
quan.
Bác Hồ đã dạy: “Lý luận như kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng
cho chúng ta trong công việc thực tế, không có lý luận thì lúng túng như
nhắm mắt mà đi…Có kinh nghiệm mà không có lý luận cũng như một mắt
sáng, một mắt mờ…Mỗi cán bộ, đảng viên phải học tập lý luận, phải đem
lý luận áp dụng vào công việc thực tế…”. Ngược lại, nếu lý luận không phù
hợp với thực tiễn, không phản ánh đúng thực tiễn thì nó sẽ kìm hãm sự phát
7


Lớp Trung cấp Lý Luận chính trị- Hành chính K75


hợp quần chúng trong hoạt động thực tiễn của con người.
2. Quan điểm của Đảng :
Đảng ta xác định : Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là
hệ tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng.
Đại hội IX của Đảng đã chỉ rõ: “ Công tác lý luận chưa theo kịp sự
phát triển của thực tiễn và yêu cầu của cách mạng, chưa làm sáng tỏ nhiều
vấn đề quan trọng trong công cuộc đổi mới để phục vụ việc hoạch định
chiến lược, chủ trương, chính sách của Đảng, tăng cường sự nhất trí về
chính trị, tư tưởng trong xã hội”.
Đại hội đã đề ra nhiệm vụ: “ Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn và nghiên
cứu lý luận, thảo luận dân chủ, sớm làm rõ và kết luận những vấn đề mới,
bức xúc nảy sinh từ thực tiễn; từng bước cụ thể hóa, bổ sung, phát triển
8


Lớp Trung cấp Lý Luận chính trị- Hành chính K75

đường lối, chính sách của Đảng, đấu tranh với những khuynh hướng tư
tưởng sai trái.”
Phải có quan điểm thực tiễn trong nhận thức và hoạt động, nghĩa là
nhận thức vấn đề gì luôn phải xuất phát từ thực tiễn; gắn bó, sâu sát với cơ
sở, phong trào; coi trọng hiệu quả tổ chức thực tiễn; học tập lý luận phải
liên hệ với thực tế; coi trọng tổng kết thực tiễn.
Phải bổ sung lý luận cũng như chủ trương, đường lối, chính sách của
Đảng và Nhà nước bằng con đường tổng kết thực tiễn; chống các bệnh giáo
điều, kinh nghiệm, chủ quan.
Luôn lấy thực tiễn làm cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức và
làm tiêu chuẩn cho chân lý. Thực hiện tốt trên thực tế nguyên tắc thống
nhất giữa lý luận và thực tiễn; nói đi đôi với làm; học đi đôi với hành;
thường xuyên học tập chuyên môn, nghiệp vụ và lý luận chính trị để nâng



Lớp Trung cấp Lý Luận chính trị- Hành chính K75

-THCS gắn chặt với địa bàn xã phường, gắn chặt với cộng đồng mà
hơn 70% là nông thôn sẽ có ý nghĩa quyết định đối với một nước nông
nghiệp như nước ta trên con đường công nghiệp hóa nông nghiệp và phát
triển nông thôn.
-THCS là mắc xích quan trọng trong hệ thống giáo dục phổ thông
hoàn chỉnh. Nó nối với tiểu học không chỉ vì đầu vào mà chính là ở chức
năng phát triển con người bao gồm nhân lực.
-THCS phát triển trong sự gắn bó chặt chẽ với địa phương và vùng
kinh tế - xã hội. Phải có quan điểm về vùng kinh tế -xã hội một cách sâu
sắc và quán triệt quan điểm đó trong mọi họat động giáo dục THCS, mọi
quá trình giáo dục từ mục tiêu, nội dung, phương pháp đến tổ chức giáo
dục. Giáo dục THCS phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội địa phương, vì
sự phát triển cộng đồng và bằng sức mạnh của cộng đồng. Đặc biệt nhấn
mạnh vai trò của giáo dục THCS đối với sự nghiệp công nghiệp hóa nông
nghiệp và phát triển nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn có
những đặc điểm riêng về dân trí, về cơ cấu trình độ đội ngũ cán bộ người
dân tộc.
- Giáo dục THCS phải nhấn mạnh mục tiêu dân trí, mục tiêu nhân
lực cho nhân lực địa phương và các ngành kinh tế.
- Giáo dục THCS phải được xây dựng gắn bó chặt chẽ trong hệ
thống giáo dục thống nhất và hoàn chỉnh. Giải quyết tốt mối quan hệ hai
đầu: tiểu học và phổ thông trung học. Giải quyết mối quan hệ giữa THCS
và trung học nghề (dạy nghề). Giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tính
chỉnh thể của bản thân THCS (có mục tiêu, nội dung, phương pháp và tổ
chức giáo dục riêng hoàn chỉnh) với các phân hệ ngang, dọc trong hệ thống
giáo dục phổ thông, hệ thống giáo dục quốc dân và mối quan hệ giữa hệ

đó có thể chiếm lĩnh được những nội dung khác của hệ thống khoa học xã
hội và nhân văn, của khoa học tự nhiên và công nghệ; nắm được những
kiến thức có ý nghĩa cá nhân và cộng đồng.
- Bước đầu có kỹ năng vận dụng kiến thức đã học và kinh nghiệm
của bản thân để giải quyết những vấn đề thường gặp trong cuộc sống; có kỹ
năng lao động kỹ thuật đơn giản, biết thưởng thức và ham thích sáng tạo
cái đẹp trong cuộc sống và văn hoá nghệ thuật; biết rèn luyện thân thể, giữ
gìn vệ sinh và bảo vệ sức khỏe; biết sử dụng hợp lý thời gian để cân bằng
hoạt động trí lực và thể lực, giữa lao động và nghỉ ngơi; biết tự định hướng
con đường học tập và lao động tiếp theo.
Để đạt được mục tiêu trên, ngành Giáo dục phải tiếp tục” đổi mới
giáo dục” nhằm nâng cao chất lượng dạy và học. Theo lời dạy của Chủ tịch
Hồ Chí Minh, phải luôn coi con người là vốn quý nhất, nguồn lực hàng đầu
có tính chất quyết định của đất nước; cần coi trọng, nuôi dưỡng và phát
triển không ngừng. Con người là không lặp lại, sự trưởng thành và phát
triển của mỗi con người đều được đánh dấu bằng một loạt những vấn đề và
đòi hỏi riêng, do đó phải tôn trọng tính cá thể và giá trị chân thực của từng
người. Điều này lại càng cần được coi trọng trong việc giáo dục.
- Điều 28 của Luật Giáo dục quy định về yêu cầu, nội dung, phương
pháp giáo dục phổ thông là phải đảm bảo tính phổ thông, cơ bản, toàn diện,
hướng nghiệp và có hệ thống; gắn với thực tiễn của cuộc sống, phù hợp với
tâm sinh lý của lứa tuổi học sinh, đáp ứng mục tiêu giáo dục ở mỗi cấp học.
Giáo dục THCS phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở tiểu học,
bảo đảm cho học sinh có những hiểu biết phổ thông cơ bản về tiếng Việt,
toán, lịch sử dân tộc; kiến thức khác về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên,
pháp luật, tin học, ngoại ngữ; có những hiểu biết cần thiết tối thiểu về kỹ
thuật và hướng nghiệp.
c. Đổi mới nội dung và phương pháp dạy học:
Trong những năm qua, sự nghiệp giáo dục của nước ta đã đạt được
những thành tựu quan trọng. Việt Nam đã tham gia vào Tuyên bố giôm

vào học sinh trên cơ sở hoạt động của học sinh” hay “dạy học lấy học sinh
làm trung tâm”.
Kiểu dạy học này làm thay đổi vai trò của người giáo viên, thay đổi
mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học. Người giáo
viên phải là người tổ chức ra những tình huống học tập có tác dụng kích
thích óc tò mò và tư duy độc lập, hình thành và phát triển những kỹ năng
giải quyết vấn đề, xúc tiến việc tự học để lĩnh hội kiến thức thông qua quan
sát, tư duy phê phán và hoạt động.
Kiểu dạy học lấy học sinh làm trung tâm là quá trình gồm hai mặt
quan hệ hữu cơ: hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học
sinh. Người giáo viên là chủ thể của hoạt động dạy với hai chức năng
truyền đạt và chỉ đạo tổ chức. Người học sinh là đối tượng (khách thể) của
hoạt động dạy, nhưng lại là chủ thể của hoạt động học tập với hai chức
năng tiếp thu và tự tổ chức.
Hoạt động học tập chỉ có thể đạt hiệu quả nếu học sinh tiến hành các
hành động học tập một cách tích cực, chủ động, tự giác, với một động cơ
nhận thức sâu sắc. Bằng hoạt động học tập, mỗi học sinh tự hình thành và
phát triển nhân cách của mình, không có ai có thể làm thay được.
Tư tưởng nhấn mạnh vai trò tích cực, chủ động của người học đã có
từ lâu. Ngay từ thế kỷ XVII A.Komenxi đã viết: “ Giáo dục có mục đích
đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán, phát triển đúng nhân cách…Hãy
tìm ra phương pháp cho phép giáo viên dạy ít hơn, học sinh học nhiều
hơn”.
12


Lớp Trung cấp Lý Luận chính trị- Hành chính K75

Tuy nhiên thuật ngữ “ dạy học theo hướng tập trung vào học sinh”
mới chỉ được sử dụng gần đây. Nhưng cơ sở của tư tưởng hướng tập trung

người tổ chức, người hướng dẫn, người cố vấn cho học sinh trong việc học
tập. Vai trò của giáo viên không bị hạ thấp mà được nâng cao lên nhiều với
những yêu cầu cao hơn. Người giáo viên hình thành ở học sinh cách học
đúng đắn, nhờ đó phát triển ở các em những kỹ năng cơ sở của quan sát,
thu nhập thông tin, đưa ra những suy luận, phán đoán và kết luận.
II. Thực trạng của sự kết hợp đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa
lý luận và thực tiễn trong việc đổi mới nội dung và phương pháp dạy
học ở trường THCS Nguyễn Huệ từ năm 2005-2008 :
1. Đặc điểm tình hình trường THCS Nguyễn Huệ –Diên Khánh
Trường THCS Nguyễn Huệ được hình thành từ năm học 1991, thuộc
địa phận xã Diên Phước, huyện Diên Khánh. Trường cách thị trấn Diên
13


Lớp Trung cấp Lý Luận chính trị- Hành chính K75

Khánh 7 km về hướng Tây, cách trục lộ tỉnh lộ 2 khoảng 100m, trên đường
đi vào xã Diên Tân đến khu du lịch Giang-Bay.
* Về xây dựng đội ngũ giáo viên:
Năm học 2007-2008:
Tổng số CB-GV-NV: 77 người. Trong đó:
- BGH: 03-100% trên chuẩn (Đảng viên: 02) - TPT: 01 - Thiết bị: 01
- CNV: 06.
- Giáo viên: 66. Tỉ lệ gv/lớp: 1,94 - Nữ: 48 - Tỉ lệ: 73 %. Trong đó:
Biên chế
Nam

18

Nữ

(SL-%)

%
BD

Giỏi

Khá

TB

Yếu

100

51
14
-77, -21,
2
2

11,6

0

* Về cơ sở vật chất kỹ thuật:
- Tổng số phòng học: 21. Trong đó Phòng cấp 4 bán kiên cố: 1152,4%. Phòng cấp 4 kiên cố : 10 - 47,6%.
- Số phòng chức năng: 11. Trong đó gồm các phòng Thư viện Vitính - Thiết bị – Truyền thống – Y tế - 02 phòng Bộ môn và 04 phòng
Hành chính.
- Tỉ lệ học sinh bình quân: 42 hs /lớp.

50,7
53,6
54,1
51,0
năm
T.số
H.Đ ngang
0
tăng
so đầu Chuyển đến
1
2
3
năm
Bỏ học (sl13 –
11 –
36 –
2 – 0,57 10 – 3,0
T.số
%)
4,3
4,0
2,87
giảm
Chuyển đi
0
1
0
0
1

12
0
25
Sl-%
Tổng số hs THCS: 1214 em. So với dân số các xã trong độ tuổi 11-14
đạt: 72,8% (1720 em).
Tổng số hs vào lớp 6: 315 em. So với số hs lớp 5 năm trước đạt: 100 %.
So với số hs tốt nghiệp tiểu học đạt: 100 %
• Trong 36 HS bỏ học, đã ra lớp phổ cập: 24 em =>HS thực bỏ
học: 12 em - Tỉ lệ: 0,95 %
• Tỉ lệ duy trì sĩ sô’: 99,05%
a. Những thuận lợi cơ bản khi thực hiện đổi mới nội dung và
phương pháp dạy học:
- Ngành giáo dục thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn về đổi mới
nội dung chương trình, sách giáo khoa mới, tổ chức các tiết dạy mẫu, tổ
chức sinh hoạt chuyên môn cụm trường để giáo viên học tập kinh nghiệm
lẫn nhau. Ngành còn tổ chức học bồi dưỡng thường xuyên để kịp
thời bổ sung những kiến thức mới, phương pháp mới.
- Nhà trường luôn nhận được sự quan tâm của các cấp như Phòng
Giáo dục Diên Khánh, Đảng ủy, UBND và các đoàn thể ở xã Diên Phước,
hỗ trợ về tinh thần cũng như vật chất cho học sinh và giáo viên.
- Sự ủng hộ nhiệt tình của Hội Phụ huynh học sinh, của toàn thể phụ
huynh trong các hoạt động, nhất là hoạt động dạy và học của trường. Điều
đó đã động viên khích lệ tinh thần làm việc của cán bộ giáo viên hoàn
thành tốt nhiệm vụ.
- Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên của trường đều nhiệt tình
trong công tác và giảng dạy. Năng lực chuyên môn đều đạt khá tốt. Giáo
viên trẻ yêu nghề, nhiệt tình, giáo viên lớn tuổi tận tâm và có nhiều kinh
nghiệm trong công tác giảng dạy.
-Tham gia đầy đủ các buổi tập huấn về đổi mới nội dung, chương

truyền thống phù hợp nhiều đối tượng học sinh hơn.
- Chuẩn bị cho một tiết lên lớp theo phương pháp mới tốn quá nhiều
thời gian, trong lúc đồ dùng dạy học chưa được phục vụ sẳn tại lớp. Do đó
trình trạng dạy chay (không đồ dùng) vẫn còn diễn ra ở một số tiết, ở một
số giáo viên.
-Tổ chức giáo viên học tập phương pháp mới không sát thực tế, do
những tiết dạy mẫu thường là được đầu tư kỹ, học sinh là học sinh các
trường chất lượng cao và có chọn lọc do đó ít có tình huống phải xử lý trên
lớp, chưa phù hợp học sinh các vùng nông thôn.
- Nội dung chương trình có tinh giản nhưng còn nhiều bất cập, có
nhiều bài còn dài, nhiều đơn vị kiến thức trong một tiết học, không đủ thời
gian giảng dạy; bài tập ít phong phú, không đa dạng, nếu giải tại lớp thì
không có bài tương tự cho về nhà. Nội dung chương trình cũng chưa quy
định rõ đơn vị kiến thức đã học nào được sử dụng không cần chứng minh
lại và những đơn vị kiến thức đã học nào phải chứng minh lại trong quá
trình giải bài tập.
- Thiết bị dạy học chưa được cung cấp đủ như chưa có máy cassett
phục vụ giảng dạy Anh văn. Một số thiết bị không có chất lượng, chưa
dùng đã hỏng, mốt số thiết bị đo lường, kiểm nghiệm thiếu chính xác nên
việc sử dụng rất khó khăn.
2. Kết quả đổi mới nội dung và phương pháp dạy học :
a. Kết quả đạt được, nguyên nhân:
* Về phía lãnh đạo trường :
- Nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà
nước , các văn bản chỉ đạo của ngành, đặc biệt là các văn bản chỉ đạo về
16


Lớp Trung cấp Lý Luận chính trị- Hành chính K75


Nhìn chung tập thể sư phạm của trường luôn đoàn kết, thương yêu
tôn trọng học sinh, học tập kinh nghiệm lẫn nhau, cùng nhau tiến bộ.
*Một số nội dung cụ thể về chất lượng, hiệu quả giáo dục trong hoạt
động dạy và học của trường năm học 2007-2008:
1. Về hoạt động dạy và học:
a. Các biện pháp thực hiện:
- Tổ chức dạy đủ các môn học và tiếp tục củng cố việc đổi mới
phương pháp dạy-học.
- Tổ chức sinh hoạt tổ - nhóm chuyên môn theo lịch qui định.
- Thực hiện nghiêm túc Qui chế đánh giá, xếp loại HS theo Quyết
định 40/BGD&ĐT - Qui chế xét công nhận tốt nghiệp THCS, Qui chế
tuyển sinh THCS-THPT theo Quyết định 11&12/BGD&ĐT và các yêu cầu
thực hiện cuộc vận động “Hai không”.
17


Lớp Trung cấp Lý Luận chính trị- Hành chính K75

- Tổ chức dạy thêm, học thêm đúng qui định và phụ đạo cho HS yếu
kém.
- Tổ chức hoạt động ngoại khóa, hoạt động ngoài giờ.
- BGH tổ chức dự giờ thao giảng theo từng bộ môn/HK và tổ chức
kiểm tra đồng loạt 3 môn Văn-Toán-Tiếng Anh theo định kỳ.
- Đoàn-Đội triển khai đầy đủ và phong phú chương trình hoạt động.
- Triển khai các chuyên đề hướng nghiệp cho HS lớp 9 và tổ chức
dạy nghề phổ thông cho lớp 8-9.
b.Kết quả:
- Chương trình được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc (có tổ chức bù tiết
do mưa lũ).
- GV-HS đã quen dần với phương pháp dạy-học mới, gây được hứng

29,4%

Giáo viên dạy giỏi (SL % /chỉ tiêu giao)
Trường Huyện Tỉnh
51
08
00
77,2%
67%

2.Về giáo dục đạo đức, giáo dục thể chất, vệ sinh học đường, văn
hóa văn nghệ:
a.Các biện pháp thực hiện:
a.1. Giáo dục đạo đức:
- Tổ chức cho GV – HS học tập Điều lệ nhà trường phổ thông; Tiểu
sử anh hùng Nguyễn Huệ và những yêu cầu đối với HS về cuộc vận động
“Hai không”.
- Lập kế hoạch và triển khai nghiêm túc chương trình sinh hoạt ngoài
giờ lên lớp theo chủ điểm giáo dục.
- Lập kế hoạch và triển khai kịp thời các chương trình hoạt động của
tổ chức Đoàn-Đội.
18


Lớp Trung cấp Lý Luận chính trị- Hành chính K75

-Duy trì tốt công tác phối hợp giữa nhà trường-gia đình- Hội PHHS
và địa phương nhằm giáo dục và xử lý kịp thời những học sinh yếu kém về
2 mặt giáo dục.
a.2. Giáo dục thể chất:

- Được công nhận đơn vị Tiên Tiến về giáo dục thể chất.
b.3. Về giáo dục vệ sinh học đường – văn hóa văn nghệ:
- Đạt các tiêu chuẩn trường học xanh - sạch - đẹp.
- Được huyện kiểm tra và xếp loại tốt về vệ sinh học đường.
-Duy trì khá tốt phong trào văn nghệ học đường……………..
* Về phía học sinh:
- Ham thích học hơn được thể hiện qua phần chuẩn bị bài ở nhà, sưu
tầm mẫu vật chuẩn bị thực hành môn sinh; tham khảo sách báo trả lời các
19


Lớp Trung cấp Lý Luận chính trị- Hành chính K75

câu hỏi môn văn, sử, địa; vẽ các vật mẫu môn mỹ thuật; tích cực tham gia
phát biểu xây dựng bài, có trách nhiệm trong việc học và làm theo nhóm, đi
học chuyên cần, ít bỏ học …
- Chủ động trong việc tìm tòi phát hiện kiến thức mới dưới sự điều
khiển dẫn dắt của thầy cô giáo, mạnh dạn trong tranh luận với bạn bè để
tìm ra cái đúng, cái cần tìm, nhờ đó mà kiến thức được nhớ lâu, nhớ chắc;
Nhanh, nhạy trong thực hành thí nghiệm hoặc giải bài tập nhanh.
- Có đức tính độc lập suy nghĩ, tự lực trong làm bài; cẩn thận, chính
xác trong tính toán, thực hành thí nghiệm.
- Chất lượng học tập, đạo đức có chuyển biến, nâng cao.
Kết quả xếp loại các mặt giáo dục học sinh qua các năm học:

Năm
học

Khối
/Ts HS

0
233-68,5
94-27,7
9-2,6
4-1,2

Tc:1499

951-63,4

469-31,3

75-5

4-0,3

6-347
7-381
8-358
9-354

206-59,4
198-51,9
202-56,4
224-63,3

125-36
148-38,8
134-37,4
111-31,4


110-32,4
108-33,3
116-34,6
109-32,8

15-4,5
35-10,8
30-9
11-3,3

0
2-0,6
4-1,2
0

Tc:1330

790-59,4

443-33,3

91-6,8

6-0,5

6-345
7- 317
8-288
9/ 264


TB trở
lên
(Sl/%)
399-100
387-100
373-100
336-98,8
149599,7
344-99,2
381-100
358-100
351-99,2
143499,6
339-100
322-99,4
331-98,8
332-100
132499,5
345-100
311-98,1
288-100
264-100
120899,5

KẾT QUẢ XẾP LOẠI HỌC LỰC:
20


Lớp Trung cấp Lý Luận chính trị- Hành chính K75

8-335
9-332
Tc:133
0
6-345
7- 317
8-288
9/ 264
Tc:121
4

Giỏi
(Sl/%)
11328,3
10326,6
75-20.1
10129,7
39226,2
10831,1
10828,3
72-20,2
69-19,5
35724,8
55-16,2
76-23,5
66-19,7
45-13,6
24218,2
69-20,0
65-20,5

127-34,1 159-42,6

12-3,2

0

361-96,8

119-35,0 106-31,2

14-4,1

0

326-95,9

489-32,6 550-36,7

67-4,4

1-0,1

144195,5

81-23,3

116-33,4 36-10,4

6-1,8


174335-27,6 459-37,8
14,4

2-0,6
1-0,3
4-1,2
0

322-89,9
342-96,6
130790,8
276-81,4
262-80,8
253-75,5
313-94,3
110483,0
275-79,7
275-86,7
232-80,5
255-96,6
103785,4

Khá
(Sl/%)

Trung
bình
(Sl/%)

7-0,5

- Có giải pháp thích hợp để khắc phục những hạn chế trong quá trình
thực hiện kế hoạch như công tác phối hợp, tham mưu với cấp ủy, chính
quyền, PHHS trong việc chống lưu ban-bỏ học, việc giáo dục đạo đức học
sinh.
b. Những việc chưa làm được, nguyên nhân :
- Việc sử dụng đổi mới phương pháp dạy học phát huy tính tích cực
của học sinh chưa thực hiện đều khắp trong các tiết học, các môn học, chủ
yếu tập trung ở những tiết hội giảng, thao giảng.
- Một bộ phận nhỏ HS (0,5%) vi phạm 5 điều cấm về mặt hạnh kiểm,
phối hợp giáo dục nhiều lần nhưng chuyển biến chậm hoặc không chuyển
biến.
- 14,6% HS có chất lượng học tập yếu kém, kiến thức cơ bản không
bảo đảm theo học với bạn cùng lớp dẫn đến chán học, lười học, phối hợp
giúp đỡ nhiều lần nhưng chuyển biến chậm hoặc không chuyển biến. Trong
đó có khoảng 0,2% trí tuệ kém phát triển.
* Nguyên nhân:
- Gia đình: Nhận thức về việc học của người dân chưa được nâng cao
lắm. Còn một ít PHHS chưa ý thức đầy đủ về trách nhiệm đối với công tác
giáo dục con em dẫn đến quan tâm không thường xuyên, không đồng bộ.
Có phụ huynh khoán trắng cho nhà trường từ việc dạy chữ cho đến dạy
người. Nghèo không phải là nguyên nhân chính, vì có khá đông HS còn
khó khăn nhưng lại chăm học.
- Xã hội: Quan tâm đến giáo dục chưa đồng bộ, chưa kịp thời, chưa
thật sự đồng tình, nhiều gia đình còn lo toan đến kinh tế, chưa nhận thức
đầy đủ các yêu cầu và tầm quan trọng của giáo dục.
- Học sinh: Còn 10 % HS chưa có ý thức, động cơ học tập đúng, bị
chi phối bởi mặt trái của xã hội.
- Đội ngũ giáo viên: Vẫn còn vài giáo viên chưa làm hết trách nhiệm
được giao, chưa gương mẫu.
- Ngành giáo dục: Vẫn còn lúng túng trong việc đề xuất các giải

- Ban Giám hiệu nhà trường thường xuyên dự giờ, rút kinh nghiệm
kịp thời trong việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học. Có động viên,
khen thưởng đối với các tiết dạy tốt. Tổ chức phong trào thi đua “Hai tốt”,
chú trọng đến việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, theo hướng tập
trung vào học sinh.
- Tổ chức cho toàn thể giáo viên thi tự làm đồ dùng dạy học, phát
động vào đầu năm học. Các đồ dùng dạy học được ứng dụng vào trong các
tiết dạy. Sử dụng tốt đồ dùng dạy học trên lớp sẽ phát huy tính tích cực học
tập của học sinh, đó là phương tiện tốt để các em chủ động nắm được kiến
thức.
- Phát huy vai trò của giáo viên chủ nhiệm, thường xuyên liên hệ với
gia đình học sinh; tìm hiểu, nắm bắt hoàn cảnh của từng đối tượng gia đình
học sinh để có nhận thức đúng đắn về công tác giáo dục, vận động gia đình
cùng tham gia và làm gương cho học sinh noi theo, theo dõi, đôn đốc, nhắc
nhở học sinh học tập tốt.
- Tổ chức các hoạt động ngoại khóa phù hợp với tâm sinh lý học
sinh. Trong các hoạt động của nhà trường, cần có sự tham dự của cha mẹ
học sinh; đồng thời tranh thủ được ý kiến đóng góp khi giải quyết các vấn
đề nảy sinh trong lĩnh vực giáo dục.
23


Lớp Trung cấp Lý Luận chính trị- Hành chính K75

- Nhà trường không ngừng đổi mới công tác quản lý đáp ứng yêu cầu
phát triển giáo dục trong giai đoạn hiện nay, xây dựng toàn diện nhà trường
đạt hiệu quả giáo dục cao theo các tiêu chí của trường đạt chuẩn quốc gia.
2. Kiến nghị:
Bộ giáo dục – đào tạo cần quan tâm một số vấn đề sau:
- Cần nghiên cứu Phân phối chương trình cho thật hợp lý như còn

trong việc đổi mới nội dung và phương pháp dạy học để nâng cao hơn nữa
chất lượng dạy - học và vị trí của ngành trong xã hội hiện nay.

C. PHẦN KẾT LUẬN:

24


Lớp Trung cấp Lý Luận chính trị- Hành chính K75

Kết hợp đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn
được biểu hiện trong công tác, là thế giới quan, phương pháp luận khoa
học, là một trong những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh. Nó có ý nghĩa quyết định sự thành bại trong công tác
lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý cũng như hành động của mỗi người trong cuộc
sống.
Giữa lý luận và thực tiễn có mối quan hệ biện chứng cho nên trong
hoạt động thực tiễn chúng ta không được xem nhẹ mặt nào. Vì nếu coi
trọng quá mức vai trò của thực tiễn sẽ rơi vào chủ nghĩa kinh nghiệm.
Ngược lại nếu đề cao quá mức vai trò của lý luận sẽ rơi vào chủ nghĩa giáo
điều.
Lý luận và thực tiễn là hai phạm trù có mối quan hệ biện chứng
mang tính khoa học, luôn tác động qua lại lẫn nhau. Chủ nghĩa Mác- Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh luôn xuất phát từ mối quan hệ biện chứng giữa lý
luận và thực tiễn, đánh giá một cách đúng đắn vai trò, vị trí của mỗi mặt
trong mối quan hệ ấy.
Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn trong công tác đổi
mới phương pháp dạy và học ở trường THCS là vấn đề quan trọng giúp
chúng ta hiểu rõ thực trạng khách quan, chủ quan của công tác giáo dục
trong thời gian vừa qua. Từ đó, mỗi người tự đề ra yêu cầu nghiên cứu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status