YÊU CẦU KHÁCH QUAN CỦA VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ
CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ
1.3.1. Yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; xây dựng
nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; phát huy
tính tự quản của cộng đồng
Hiện nay, nước ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Các nội
dung cơ bản của CNH, HĐH đất nước là: Thay thế phần lớn lao động thủ công bằng lao
động cơ khí hoá, điện khí hoá và một phần tự động hoá, thực hiện công nghiệp hoá nông
nghiệp; tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP và trong lao động xã hội; tiếp
cận và vận dụng, ứng dụng những thành tựu mới nhất của khoa học - công nghệ; nâng
cao dân trí, chất lượng nguồn lực con người ngang bằng khu vực với bản lĩnh, bản sắc
của văn hoá Việt Nam; thực hiện tăng trưởng kinh tế gắn với công bằng xã hội; nâng cao
đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ở cơ sở.
Ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân. Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân có
những đặc trưng sau đây:
Một là, đó là nhà nước của dân, do dân, vì dân; tất cả quyền lực nhà
nước thuộc về nhân dân. Hai là, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân
công rành mạch và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan Nhà nước trong việc
thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Ba là, Nhà nước được tổ
chức và hoạt động trên cơ sở hiến pháp, pháp luật và đảm bảo cho Hiến pháp
và các đạo luật giữ vị trí tối thượng trong điều chỉnh các quan hệ của tất cả các
lĩnh vực của đời sống xã hội. Bốn là, Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền
con người, quyền công dân; nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và
công dân; thực hành dân chủ, đồng thời tăng cường kỷ cương, kỷ luật. Năm là,
Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo,
đồng thời đảm bảo sự giám sát của nhân dân, sự phản biện xã hội của Mặt trận
tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận [5, tr.111-112].
CBCC chính quyền cấp xã là người hướng dẫn nhân dân phát huy tính tự quản ở
cộng đồng dân cư. Hoạt động tự quản nhằm giữ gìn đoàn kết, tương thân, tương ái, giúp
đói giảm nghèo chưa thật sự vững chắc, tỷ lệ hộ đói nghèo còn cao hơn mức bình quân
chung cả nước. Một số cán bộ chậm đổi mới tư duy và phong cách lãnh đạo, nhất là tư
duy kinh tế, còn có biểu hiện của tư tưởng bảo thủ, trì trệ, sớm thỏa mãn với những thành
tích, kết quả đạt được.
Yêu cầu đặt ra của phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Hà Tĩnh là:
Phải đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH, tăng nhanh tỷ
trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm mạnh tỷ trọng nông nghiệp. Muốn vậy phải tập trung
mọi nguồn lực để tạo bước phát triển đột phá trong lĩnh vực công nghiệp và tiểu thủ công
nghiệp. Phát triển mạnh các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các cụm công nghiệp, làng nghề
tập trung ở các huyện, xã nhằm thu hút lao động, giải quyết việc làm, tăng thu ngân sách
cho địa phương.
Phải phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn toàn diện, chuyển dịch mạnh cơ
cấu sản xuất, cơ cấu lao động theo hướng phát triển sản xuất hàng hoá, bảo đảm an ninh
lương thực. Đưa nhanh tiến bộ khoa học, công nghệ nhất là giống cây, con có năng suất
chất lượng tốt vào sản xuất; gắn sản xuất với chế biến và thị trường tiêu thụ. Phát triển
kinh tế nông nghiệp phải gắn với xây dựng nông thôn mới. Từng bước quy hoạch lại các
khu dân cư, các làng, xã, thị trấn; vừa phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp
hoá, hiện đại hoá, vừa tổ chức đời sống ở nông thôn ngày càng văn minh hơn, giảm dần
sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị.
Phải năng động, sáng tạo tìm cơ chế, chính sách thu hút mạnh mẽ các nguồn vốn
đầu tư từ các thành phần kinh tế trong và ngoài tỉnh.
Phải thường xuyên chăm lo giải quyết tốt các vấn đề xã hội, thực hiện tiến bộ và
công bằng xã hội. Đẩy mạnh xã hội hóa và nâng cao chất lượng các lĩnh vực giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khỏe nhân dân, các hoạt động văn hoá, thông tin, thể thao. Thực
hiện các chính sách xã hội xóa đói giảm nghèo một cách thực chất, bền vững.
Cải cách hành chính ở Hà Tĩnh đạt được những thành tựu sau đây: Thể chế hành
chính ngày càng hoàn thiện, bộ máy chính quyền được tổ chức theo hướng gọn nhẹ; chức
năng, nhiệm vụ được phân định rõ ràng, phương thức quản lý, lề lối làm việc được cải
tiến, thủ tục hành chính ngày càng đơn giản, minh bạch, công khai, nền hành chính từng
nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh theo định hướng
XHCN.
Bên cạnh đó, còn có những hạn chế: Quy chế dân chủ ở cơ sở thực hiện chưa đồng
đều, cá biệt có nơi còn mang tính hình thức; một số tổ chức chính trị - xã hội và xã hội - nghề
nghiệp còn thiếu năng động, sáng tạo trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình để thích
ứng với điều kiện cơ chế thị trường.
Yêu cầu của việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở ở Hà Tĩnh hiện
nay là: Phải xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp đổi mới nhằm phát huy
sức mạnh toàn dân, huy động mọi nguồn lực thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị. Tập
trung phát triển kinh tế, văn hoá, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, nâng cao dân trí và
năng lực làm chủ cho nhân dân.
Để đáp ứng yêu cầu của phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, cải cách
hành chính, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở ở Hà Tĩnh, thì Hà Tĩnh cần phải xây
dựng đội ngũ CBCC có những phẩm chất sau:
Bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt; nhận thức sâu sắc về quan
điểm, đường lối đổi mới của Đảng, nhất là kinh tế thị trường định hướng XHCN; năng
động, sáng tạo, dám nghĩ, dàm làm, dám chịu trách nhiệm; có trình độ phù hợp với công
việc, có kỹ năng, phương pháp làm việc tốt, có tác phong nhanh nhẹn, có thái độ thân
thiện cởi mở, với tinh thần phục vụ nhân dân. Do đó, cần phải chú trọng nâng cao năng
lực quản lý nhà nước của CBCC chính quyền cấp xã ở Hà Tĩnh.
1.3.3. Xuất phát từ vị trí, vai trò của cán bộ, công chức chính quyền cấp xã
CBCC chính quyền cấp xã có vai trò rất quan trọng trong việc giữ vững ổn định
chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở; hình
ảnh và uy tín của họ là niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.
Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay một số CBCC chính quyền cấp xã chưa xứng với
các vị trí, vai trò chưa làm tròn bổn phận của mình, còn quan liêu hách dịch, cửa quyền,
lên mặt làm "quan cách mạng" của nhân dân; chưa kịp thời giải quyết và phản ánh những
yêu cầu chính đáng cấp thiết của nhân dân, bản thân và gia đình chưa đi đầu gương mẫu
chuyên môn
(tỷ lệ %)
Trung
Đại
cấp
học
Trình độ chính Qua lớp
trị
quản lý
(tỷ lệ %)
nhà
nước
Trung
CC-CN
(tỷ lệ %)
cấp
THCS
THPT
Bí thư Đảng uỷ,
CTHĐND, CTUBND
37,8
55,8
9,7
35,6
9,5
2,3
20,5
1,1
Bốn
chức
chuyên môn
33,7
60,7
14,6
2,8
10,7
1,2
Các chức danh khác
thuộc UBND
45,5
Qua số liệu trên cho thấy, trình độ văn hoá của đội ngũ cán bộ cấp xã vẫn còn 8,8%
là tiểu học; trình độ chuyên môn cả trung cấp và đại học chỉ chiếm 13,7%; trình độ lý
luận chính trị cả trung cấp, cao cấp và cử nhân chỉ chiếm 31,9%.
- Tính theo vùng
Bảng 1.2: Trình độ cán bộ cấp xã (tính theo vùng) [2]
Trình độ văn
hoá (tỷ lệ %)
Trình độ
chuyên môn
(tỷ lệ %)
Trình độ
chính trị (tỷ
lệ %)
THCS
THPT
Trung
cấp
Đại
học
Trung
cấp
0,8
32,3
14 tỉnh đồng bằng
Bắc Bộ, khu bốn cũ
34,6
64,4
10,1
4,3
55,0
1,7
43,8
11 tỉnh miền Trung và
Tây Nguyên
42,4
43,1
6,9
Qua
lớp
quản
lý nhà
nước
(tỷ lệ
%)
Qua số liệu trên, các thành phố Trung ương có các chỉ số về năng lực trình độ cao
hơn hẳn các vùng khác.
- Cán bộ thuộc 4 chức danh chuyên môn
Bảng 1.3: Trình độ cán bộ cấp xã (theo 4 chức danh chuyên môn) [2]
Trình độ văn
hoá (tỷ lệ %)
Trình độ
chuyên môn
(tỷ lệ %)
Trình độ
chính trị (tỷ lệ
%)
Vùng
Qua
lớp
quản lý
nhà
17,2
1,4
31,2
15 tỉnh miền núi
phía Bắc
46,2
40,9
11,1
1,8
7,9
0,8
11,6
14 tỉnh đồng bằng
Bắc Bộ, khu bốn
cũ
29,6
18,3
17 tỉnh Nam Bộ
30,7
67,5
13,6
1,7
10,2
0,8
12,1
Về trình độ quản lý nhà nước nhìn chung đối với 4 chức danh chuyên môn là thấp,
thấp nhất vẫn là các khu vực các tỉnh miền núi phía Bắc, các tỉnh Nam Bộ, các tỉnh miền
Trung và Tây Nguyên.
Ngoài ra sự bất cập về trình độ còn thể hiện qua số liệu về kết quả điều tra và khảo
sát ở 7 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương từ tháng 4 đến tháng 7/2000 do Vụ chính
quyền địa phương - Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ tiến hành đối với 18.014 cán bộ xã,
phường, thị trấn, với kết quả được tổng hợp như sau:
- Về độ tuổi: Dưới 35 tuổi: 19,23%; Từ 35 đến 50 tuổi: 57,77%; Trên 50 tuổi: 23%.
- Nguồn cán bộ trước khi làm cán bộ xã, phường, thị trấn là: CBCC, viên chức nhà
nước: 8,69%; là công an, bộ đội xuất ngũ: 26,38%; người đang hưởng chế độ hưu trí hoặc
mất sức: 9,29%; là thương binh, bệnh binh: 3,69%; là lao động nông nghiệp với các đối
tượng khác: 51,95%.
- Thời gian công tác của cán bộ xã, phường, thị trấn: từ 15 năm trở lên: 25,73%; từ
10 năm đến dưới 15 năm: 21,91%; từ 5 năm đến dưới 10 năm: 24,60%; dưới 5 năm:
27,76%.
- Về trình độ chuyên môn: Sơ cấp: 14,44%; trung cấp: 20,96%; đại học 8,84%;
chưa qua đào tạo: 55,76%.
- Về bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước: 22,74% đã được bồi dưỡng kiến thức
quản lý nhà nước, còn 77,26% chưa được bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước.
Qua thực trạng trên có thể đánh giá chung: Trình độ của đa số cán bộ cấp xã còn
vào thực hiện chức trách, nhiệm vụ của mình. Cụ thể như: Thu thập thông tin chưa nhanh
nhạy, xử lý thông tin chưa kịp thời; báo cáo chưa khách quan trung thực; giải quyết công việc
đột xuất, giải quyết tình huống quản lý nhà nước còn lúng túng, nhất là tranh chấp đất đai,
chế độ chính sách; chưa lắng nghe hết ý kiến nhân dân, giải quyết yêu cầu của nhân dân chưa
kịp thời, triệt để; phân bổ quỹ thời gian làm việc chưa khoa học, thời gian nghiên cứu văn
bản Nhà nước còn ít, thời gian hội họp nhiều. Văn bản ban hành còn sai thể thức, ngôn ngữ
và câu văn chưa chuẩn. Kỹ thuật soạn thảo đang còn yếu, kỹ năng tuyên truyền, phổ biến
pháp luật cho nhân dân còn hạn chế, hình thức tuyên truyền chưa phong phú, kỹ năng quản lý
hồ sơ, sổ sách chưa khoa học.
Phương pháp quản lý nhà nước của CBCC chính quyền cấp xã: Nhiều CBCC chính
quyền cấp xã phương pháp quản lý chưa tốt, chưa biết kết hợp hài hoà, nhuần nhuyễn
giữa các phương pháp. Có những nơi CBCC thiên về phương pháp giáo dục tư tưởng,
đạo đức XHCN mà đối tượng quản lý không tự giác thực hiện mà không áp dụng phương
pháp hành chính để đối tượng thực hiện; không sử dụng phương pháp giáo dục tư tưởng,
đạo đức XHCN mà lại áp dụng ngay phương pháp hành chính mang tính mệnh.lệnh đơn
phương nhằm bắt buộc nhân dân thực hiện. Chưa kịp thời nêu gương và động viên khen
thưởng đối với "người tốt việc tốt", chưa phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa cá nhân, hiện
tượng tham nhũng, thói vô trách nhiệm, tư tưởng cục bộ, địa phương chủ nghĩa, chưa
nắm bắt được diễn biến tâm lý của đồng nghiệp, của cộng đồng dân cư; có những cán bộ
thực hiện điều tra, kiểm soát, thu thập thông tin không kiên quyết, trung thực dẫn tới ra
các quyết định không phù hợp với thực tế, làm kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội.
Kỹ năng và phương pháp quản lý nhà nước như trên đã dẫn đến năng lực quản lý
nhà nước của CBCC ở cơ sở thấp.
1.3.4.3. Thực trạng về phẩm chất đạo đức
Đa số CBCC chính quyền cấp xã có bản lĩnh chính trị vững vàng, có lối sống trong
sạch, giản dị, quan tâm chăm lo đến sự nghiệp chung. Nhưng có một bộ phận không nhỏ cán
bộ cơ sở do tác động tiêu cực của kinh tế thị trường, đã có biểu hiện suy thoái về phẩm chất
đạo đức: Sống xa dân, quan liêu, hách dịch, cửa quyền, mất dân chủ, tham nhũng, lãng phí,