Bình luận " tội giết người" trong bộ luật hình sự năm 1999
LỜI MỞ ĐẦU
Ngành luật học có một vị trí và vai trò to lớn trong hệ thống pháp luật nên
luật hình sự luôn được nhà nước quan tâm đặc biệt. Sự phát triển của luật hình
sự Việt Nam gắn chặt với quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam. Ngay từ
những ngày đầu khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, nhà nước đã ban
hành các văn bản pháp luật hình sự quan trọng để chống các hành vi tội phạm,
bảo vệ chính quền nhân dân non trẻ, bảo vệ trật tự, an toàn xã hội ... Qua 14 năm
thi hành bộ luật hình sự năm 1985 là bộ luật hình sự đầu tiên nhà nước ta cũng
đã tiến hành bốn lần bổ sung và sửa đổi. Bộ luật hình sự năm 1999 được coi là
bộ luật hình sự mới của nước Việt Nam.
Luật hình sự là ngành luật trong hệ thống pháp lụât của nước cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm hệ thống những qui phạm pháp luật do nhà
nước ban hành, xác định những hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm
đồng thời qui định hình phạt đi đôi với những tội phạm ấy.
Luật hình sự của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là vũ khí sắc
bén của nhân dân Việt Nam trong quá trình xấy dựng nước Việt Nam độc lập,
giầu mạnh và có chủ quyền. Ra đời sau thắng lợi cách mạng tháng 8 năm 1945,
luật hình sự Việt Nam là vũ khí sắc bén trong cuộc đấu tranh chống phong kiến,
chống thực dân, đế quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Đó là ngành luật mang
bản chất của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam.
Luật hình sự của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được xây
dựng, phát triển trên nguyên lý của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh phù hợp với đặc điểm Xã hội Việt Nam. Đó là ngành luật luôn luôn lấy
việc bảo vệ lợi ích của người lao động làm mục tiêu phát triển của mình.
Vì lẽ đó nhiệm vụ của lụât hình sự Việt Nam là: bảo vệ chế độ xã hội chủ
nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các
dân tộc, bảo vệ lợi ích của nhà nước, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức,
bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa chống mọi hành vi phạm tội, đồng thời
phòng ngừa tội phạm trong nhiều thập kỉ qua của quá trình xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc.
Bộ luật hình sự thể hiện tinh thần chủ động phòng ngừa và kiên quyết đấu
tranh chống tội phạm và thông qua hình phạt để răn đe, giáo dục, cảm hóa, cải
tạo người phạm tội trở thành người lương thiện, qua đó bồi dưỡng cho mọi công
dân tinh thần, ý thức làm chủ xã hội, ý thức tuân thủ pháp luật, chủ động tham
gia phòng ngừa và chống tội phạm.
Căn cứ vào điều 84 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam năm 1992 quyết định: Bộ luật hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1999 có hiệu lực
ngày 01 tháng 07 năm 2000. Bộ luật hính sự này thay thế bộ luật hình sự được
quốc hội thông qua ngày 27 tháng 06 năm 1985 và các luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của bộ luật hình sự được Quốc hội thông qua 28/12/1989 và 12/8/1991,
ngày 22/12/1992 và 10/5/1997. Bộ luật hình sự 1999 được quốc hội thông qua
01/07/2000 có XXIV chương gồm 344 điều. Chương XII của bộ luật hình sự có
điều 93 quy định về tội giết người. Bộ luật hình sự 1985 chưa có văn bản pháp
luật hình sự nào quy định một cách có hệ thống và đầy đủ về tội giết người này.
Tuy nhiên bộ luật hình sự cũng đã quy định nhưng vẫn còn những hạn chế nhất
định và bộ luật hình sự 1999 đã khắc phục được phần nào những hạn chế đó.
Mặc dù nó chưa hoàn hảo bởi xã hội ngày càng phát triển, mối quan hệ của con
người ngày càng phức tạp. Đó là cơ sở nảy sinh những mâu thuẫn mới. Như triết
học Mác Lênin nói rằng: cái sau bao giờ cũng tiễn bộ hơn cái trước. Mặc dù nó
chỉ ở mức tương đối mà thôi. Em là công dân của một nước tự do, khi đọc bộ
luật hình sự của nước ta ban hành 1999 và có hiệu lực 01/7/2000 với khả năng
nhân biết của em thì em thấy bộ luật này có rất nhiều ưu việt nhưng song song
với nó thì không tránh khỏi hạn chế. Bộ luật hình sự ra đời để đấu tranh phòng
ngừa và chống tội phạm, góp phần vào việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống
nhất và toàn ven lãnh thổ của tổ quốc, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền, lợi
ích hợp pháp của công dân, tổ chức, góp phần duy trì trật tự an toàn xã hội , trật
- Hành vi khách quan của tội phạm
Hành vi khách quan của tội giết người là hành vi tước đoạt trái pháp lụât
tính mạng của người khác.
Hành vi tước đoạt tính mạng của người khác được hiểu là hành vi có khả
năng gây ra cái chết cho con người, chấm dứt sự sống của họ. Những hành vi
không có khả năng này không thể là hành vi khách quan của tội giết người.
Hành vi có khả năng gây ra cái chết cho con người có thể là hành động bắn,
đâm, chém... hành vi khách quan của tội giết người cũng còn có thể là không
hành động. Đó là những trường hợp chủ thể có nghĩa vụ phải hành động, phải
làm những việc nhất định để đảm bảo sự an toàn về tính mạng của người khác
nhưng họ đã không hành động, không thực hiện những việc làm đó. Không hành
động của họ trong những trương hợp này cũng có khả năng gây ra cái chết cho
con người.
Đối tượng của hành vi tước đoạt tính mạng chỉ có thể là con người đang
sống. Thời điểm bắt đầu của con người đang sống được tính từ thời điểm được
sinh ra và kết thúc khi sự sống thực sự chấm dứt.
Hành vi tước đoạt tính mạng được coi là hành vi khách quan của tội giết
người phải là hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng người khác.
5
Hành vi tự tước đoạt tính mạng của chính mình không thuộc hành vi
khách quan của tội giết người. Những hành vi gây ra cái chết cho người khác
được pháp luật cho phép cũng không phải là hành vi khách quan của tội giết
người. Ví dụ: hành vi tước đoạt tính mạng người khác trong trường hợp phòng
vệ chính đáng ( điều 15 BLHS ).
Trong thực tiễm xét xử còn gặp những trường hợp tước đoạt tính mạng
người khác do được sự đồng ý của nạn nhân. động cơ của những hành vi này có
thể khác nhau. Trong đó có những động cơ mang tính nhân đạo. Ví dụ: Tước
đoạt tính mạng người bị mắc bệnh hiểm nghèo, nhằm tránh đau khổ kéo dài cho
Ở đây cần chú ý: chỉ có thể có lỗi cố ý gián tiếp nếu người phạm tội thấy
trước hậu quả chết người có thể xảy ra. Nếu đã thấy trước hậu quả chết người
tất nhiên xảy ra thì chỉ có thể là cố ý trực tiếp.
Trong trường hợp hậu quả chết người đã xảy ra việc xác định lỗi là cố ý
trực tiếp hay cố ý gián tiếp không có ý nghĩa trong việc định tội, nhưng việc xác
định này sẽ có ý nghĩa rất quan trọng nếu người phạm tội đã thực hiện hành vi
khách quan nhưng hậu quả chết người chưa xảy ra. Cụ thể:
+ Nếu hậu quả chết người chưa xảy ra và lỗi của người phạm tội là cố ý
trực tiếp thì người phạm tội phải chịu TNHS về tội giết người chưa đạt.
+ Nếu hậu quả chết người chưa xảy ra và lỗi của người phạm tội là cố ý
gián tiếp thì người phạm tội thì phải chịu TNHS về tội cố ý gây thương tích mà
không phải chịu TNHS về tôih giết người chưa đạt.
trong thực tiễm áp dụng luật hình sự, việc xác định lỗi cố ý trực tiếp hay
cố ý gián tiếp không phải luôn luôn đơn giản mà trong nhiều trường hợp hết sức
phức tạp. việc xác định lỗi còn đặc biêth phức tạp hơn trong những trường hợp
xác định lỗi cố ý gián tiếp hay chỉ là lỗi vô ý quá tự tin đối với hậu quả chết
người.
- Mục đích động cơ phạm tội
Mục đích, động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc của CTTP
tội giết người. Hành vi giết người có mục đích chống chính quyền nhân dân cấu
thành tội khủng bố theo điều 84 BLHS. động cơ phạm tội tuy không có ý nghĩa
trong định tội nhưng một số động cơ phạm tội được quy định là tình tiết định
khung tăng nặng.
2. Hình phạt
7
Điều 93 bộ luật hình sự quy định hai khung hình phạt.
* Khung cơ bản được quy định tại khoản 2 điều 93 trong bộ luật hình sự
có mức phạt tù từ 7 đến 15 năm. khung hình phạt này chỉ được áp dụng trong
trời không dung đất không tha cho những kẻ mặt người dạ sói. đứa trẻ mới đang
hình thành nó có tội tình gì mà chưa ra đời đã bị giết. Thật là đáng thương!
- Giết trẻ em
Ở đây chúng ta hiểu trẻ em là dưới 16 tuổi, là tương lai của đất nước. Đây
là đối tượng được pháp luật và Xã hội quan tâm và bảo vệ đặc biệt. kẻ giết
người vì nguyên nhân nào đó giết những chủ nhân tương lai của đất nước. đây là
những kẻ không còn lương tri của một con người nữa. chúng đã hạ tay giết hại
những đứa trẻ chưa đến tuổi vị thành niên, mà trong mắt các em nhìn cả thế giới
là một mầu hồng đẹp đẽ,tâm tưởng các em là một trang giấy trắng. vậy mà
chúng đã không lương tay trước những cặp mắt tròn đẹp đẽ đó vì những mưu lợi
của riêng mình, hay vì thù oán cá nhân với những kẻ khác mà chúng đổ cơn giận
và thù oán lên các em. Đây là những đứa trẻ vô tội, pháp luật hãy trả lại cho các
em những gì mà các em sứng đáng được nhận và trừng trị những kẻ đã gây ra
những tội ác đó thật đích đáng và cho đúng người đúng tội.
- Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân
Giết người đang thi hành công vụ là trường hợp giết người mà nạn nhân
là người đang thi hành công vụ.
Giết người vì lý do công vụ của nạn nhân là trường hợp giết người mà
động cơ của hành vi giết người gắn liền với việc thi hành công vụ của nạn nhân:
Giết nạn nhân để không cho nạn nhân thi hành công vụ hay giết nạn nhân để trả
thù việc nạn nhân đã thi hành công vụ.
Công vụ ở đây được hiểu là những vì lợi ích chung mà việc thực hiện
công việc đó đòi hỏi người thi hành đó phải có những quyền hành nhất định với
những công dân khác. Ví dụ: Công việc giữ gìn trật tự công cộng hay an toàn
giao thông của công an.... Tính nguy hiểm của những trường hợp giết người này
là ở chỗ nó không chỉ xâm phạm đến tính mạng con người mà đồng thời còn
xâm phạm nghiêm trọng đến trật tự công cộng, cản trở hoạt động chung của xã
hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an.
- Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuồi dưỡng, thầy giáo, cô giáo, của mình
xem hành vi vi phạm pháp luật đó ở trong trạng thái nào của con người, trong
lúc tinh thần có tỉnh táo hay trong tinh thần không ổn định.... Đây là một điều
kiện rất quan trọng để định tội cho hành vi giết người đó, để không oan, và kẻ
10
gây tội phải khâm phục khẩu phục trước pháp luật. Và trong quá trình, cải tạo
của tội nhân, pháp luật phải làm sao cho họ thấy rõ hành vi phạm pháp của
mình, mà cải tạo tốt để sớm được trở về với cộng đồng. Chứ không phải là cho
họ vào con đường cùng của cuộc sống. Mà phải làm cho họ thấy được rằng nặc
dù vậy họ luôn luôn được pháp luật bảo vệ và họ thấy được giá trị nhân văn của
pháp luật.
* Hình phạt bổ sung
Khoản 3 điều 93 BLHS quy định các hình phạt bổ sung có thể áp dụng
cho người phạm tội. Đó là:
- Cấm đảm nhiệm chức vụ , cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định
từ 1 đến 5 năm:
- Quản chế hoặc cấm cư trú từ 1 đến5 năm.
11
PHẦN KẾT LUẬN
Điều 93 BLHS năm 1999 quy định hình phạt về tội giết người. Đây là
một trong những tội vô nhân đạo nhất, thiếu tính người và pháp luật đã quy
định hình phạt đối với từng tội danh của từng động cơ giết người một của tội
phạm. Tuỳ vào hoàn cảnh gây án mà pháp luật định tội danh cho từng hành vi
một để cho kẻ gây an cúi đầu nhận tội mà không một lời nào oán trách, đồng
thời để răn đe cho con người, giữ gìn trật tự xã hội, an ninh quốc phòng tạo cho
con người có một môi trường sống lành mạnh hơn, và tốt đẹp hơn, đây là mục
và trong mối quan hệ với quốc tế.
MỤC LỤC
13