ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------
QUÁCH THỊ THƢƠNG
QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO KINH TẾ
NÔNG NGHIỆP CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH YÊN BÁI
TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2010
Chuyên ngành : Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số
: 60 22 56
LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: PGS. NGND LÊ MẬU HÃN
Hà Nội - 2011
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay, với những biến động to lớn của tình hình thế
giới: sự bùng nổ nhƣ vũ bão của cách mạng khoa học công nghệ, sự vƣơn lên
phát triển mạnh mẽ về mặt kinh tế của các quốc gia và xu thế toàn cầu hoá đã
tạo ra những thời cơ mới cho các nƣớc đồng thời cũng đặt ra những thách
thức cho mọi quốc gia đặc biệt là các nƣớc đang phát triển trong đó có Việt
1995, Đảng bộ Yên Bái cơ bản đề ra các chủ trƣơng, giải pháp đẩy mạnh phát
triển trên tất cả mọi lĩnh vực từ kinh tế, xã hội đến văn hoá, giáo dục đào tạo.
Giai đoạn 1996 – 2010 đƣợc xem là giai đoạn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
của tỉnh Yên Bái trên nền tảng sự ổn định về kinh tế, chính trị, xã hội trong
những năm 1991 – 1995.
Điều kiện tự nhiên thuận lợi giúp cho Yên Bái phát triển kinh tế nông
nghiệp: trồng rừng, trồng cây công nghiệp, cây ăn quả, cây đặc sản, cây dƣợc
liệu và cây lƣơng thực, đẩy mạnh hoạt động sản xuất lâm nghiệp, nuôi và
đánh bắt thủy sản. Với trên 80% dân số tham gia sản xuất trong lĩnh vực nông
– lâm nghiệp và thuỷ sản, ngành kinh tế nông nghiệp có vị trí đặc biệt quan
trọng trong chiến lƣợc phát triển kinh tế của tỉnh. Đảng bộ Yên Bái đƣa ra
nhiều chính sách khuyến khích phát triển ngành kinh tế nông nghiệp nhƣ: hỗ
trợ giống cây trồng, vật nuôi cho hộ nghèo; hỗ trợ thực hiện chƣơng trình cải
tạo và trồng mới cây chè, sắn cao sản...do đó sản xuất nông nghiệp đã có
những bƣớc phát triển, đời sống ngƣời nông dân ngày càng cải thiện. Với
những thành tựu đạt đƣợc dƣới sự lãnh đạo của Đảng bộ, Yên Bái đã và đang
tiếp tục vƣợt qua khó khăn, thử thách đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá
hiện đại hoá góp phần vào thắng lợi chung trong sự nghiệp phát triển đất
nƣớc.
Với những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài:“Quá trình lãnh đạo kinh tế
nông nghiệp của Đảng bộ tỉnh Yên Bái từ năm 1996 đến năm 2010” làm Luận
3
văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam với hi vọng hệ
thống hoá chủ trƣơng của Đảng bộ Yên Bái về phát triển kinh tế nông nghiệp;
đồng thời tìm hiểu sự phát triển kinh tế nông nghiệp Yên Bái giai đoạn 1996 2010 từ đó rút ra những nhận xét và một số kiến nghị về lãnh đạo phát triển
kinh tế nông nghiệp trong thời gian tới.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ở Việt Nam, trong lúc đất nƣớc bƣớc vào thời kì quá độ xây dựng chủ
Đảng bộ Yên Bái với xây dựng và phát triển kinh tế nông nghiệp giai đoạn
1996 – 2010. Vì vậy thực hiện đề tài này, tôi tập trung vào vấn đề hệ thống
những chủ trƣơng của Đảng bộ Yên Bái về phát triển kinh tế nông nghiệp với
hi vọng góp một phần nhỏ vào những nghiên cứu về Yên Bái nói riêng và
kinh tế cả nƣớc nói chung
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích:
Mục đích nghiên cứu của luận văn là trình bày một cách hệ thống sự lãnh
đạo của Đảng bộ Yên Bái trên lĩnh vực kinh tế nông nghiệp giai đoạn 1996 –
2010.
- Nhiệm vụ:
Sƣu tầm, thu thập tài liệu, kế thừa chọn lọc những công trình nghiên cứu
trƣớc đó, bổ sung thêm những nguồn nghiên cứu mới liên quan đến vấn đề
Đảng bộ Yên Bái lãnh đạo xây dựng phát triển kinh tế nông nghiệp từ đó trình
bày sự lãnh đạo Đảng bộ Yên Bái.
Trên cơ sở thực tiễn kết quả đạt đƣợc và hạn chế về kinh tế nông nghiệp,
đƣa ra những bài học kinh nghiệm mang tính giải pháp góp phần thúc đẩy
kinh tế nông nghiệp Yên Bái phát triển trong giai đoạn tiếp theo.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Chủ trƣơng và sự chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ
Yên Bái.
5
+ Những thành tựu, hạn chế, bài học kinh nghiệm nhằm thúc đẩy phát
triển kinh tế nông nghiệp giai đoạn tiếp theo.
- Phạm vi nghiên cứu:
Kinh tế bao gồm nhiều ngành, nhiều lĩnh vực: nông – lâm – ngƣ nghiệp,
công nghiệp, dịch vụ…Luận văn chỉ tập trung vào sự chỉ đạo chung nhất về
Chƣơng 1: Kinh tế nông nghiệp “chuyển mình” dƣới sự lãnh đạo của
Đảng bộ Yên Bái (1996 - 2000)
Chƣơng 2: Đảng bộ Yên Bái lãnh đạo đẩy mạnh kinh tế nông nghiệp
theo đƣờng lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Đảng (2001 - 2010)
Chƣơng 3: Nhận xét chung và các kinh nghiệm chủ yếu
7
NỘI DUNG
Chƣơng 1: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
CHUYỂN BIẾN DƢỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ
YÊN BÁI (1996 - 2000)
1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, xã hội và kinh tế nông nghiệp
Yên Bái (1991 - 1995)
1.1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, xã hội
Yên Bái là một tỉnh miền núi nằm ở khu vực chuyển tiếp giữa miền Tây
Bắc và Trung du Bắc Bộ. Phía Đông bắc giáp hai tỉnh Tuyên Quang và Hà
Giang, phía Đông Nam giáp tỉnh Phú Thọ, phía Tây nam giáp tỉnh Sơn La,
phía Tây Bắc giáp tỉnh Lào Cai. Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là: 689.949,05 ha
gồm: 1 thành phố (Yên Bái), 1 thị xã (Nghĩa Lộ), 7 huyện (Trạm Tấu, Mù
Cang Chải, Văn Chấn, Văn Yên, Lục Yên, Trấn Yên, Yên Bình).
Địa hình Yên Bái có cấu tạo đa dạng và phức tạp với trên 70% diện tích
đất là địa hình đồi núi và cao nguyên. Đây là vùng tiếp giáp giữa vùng núi
Đông Bắc và Tây Bắc, là địa bàn chuyển tiếp từ địa hình vùng trung du Phú
Thọ lên vùng cao Lào Cai. Địa hình Yên Bái cao dần từ Đông sang Tây và từ
Nam lên Bắc. Xét theo độ cao, có thể chia địa hình Yên Bái thành hai vùng:
vùng cao và vùng thấp.
Vùng cao Yên Bái có độ cao trên 600m gồm 70 xã trên tổng số 159 xã
của tỉnh và chiếm tới 67,4% diện tích đất tự nhiên của tỉnh. Đó là vùng địa
mƣa nhiều với nền nhiệt cao, tổng bức xạ lên tới 100 – 140 kcal/cm2. Lƣợng
mƣa trung bình khá lớn từ 1800 – 2000mm/năm nhƣng phân bố không đều.
Lƣợng bức xạ phong phú và nền nhiệt lƣợng cao là những thuận lợi đối với
việc tạo ra sinh khối lớn giúp cho cây trồng phát triển, cây ăn quả và cây
lƣơng thực ngắn ngày quay vòng nhanh; các ngành khai thác và chế biến có
nhiều thuận lợi. Khí hậu mát mẻ ở vùng cao tạo điều kiện cho trồng cây dƣợc
9
liệu, chăn nuôi gia súc có sừng (bò, dê, hƣơu). Tuy nhiên đặc điểm khí hậu đó
cũng gây ra những bất lợi trong sản xuất và con ngƣời. Mùa đông khí hậu
lạnh gây sƣơng muối. Mùa hè những đợt gió tây nóng tràn sang gây tổn hại
đến sức khỏe con ngƣời, súc vật và cây trồng.
Chế độ thủy văn Yên Bái rất phong phú nhờ hai con sông lớn là sông
Hồng và sông Chảy cùng với khoảng 200 ngòi, suối lớn nhỏ cùng một hệ
thống hồ, đầm trong đó lớn nhất là hồ Thác Bà. Nguồn nƣớc sông Hồng và
sông Chảy chứa nhiều phù sa màu mỡ đồng thời còn tạo ra nguồn thủy năng
lớn. Hồ Thác Bà có diện tích 23.400 ha trong đó diện tích mặt nƣớc là 19.000
ha, còn lại là các đảo với chiều dài 80km, chiều rộng từ 5 – 15 km. Đổ vào hồ
Thác Bà là sông Chảy cùng hàng trăm suối nhỏ chứa một lƣợng phù sa và
thức ăn cho thủy sinh vật phát triển. Ở đây có trên 130 loại cá tự nhiên có giá
trị kinh tế cao (cá trôi, chép, măng, ngão, quả, bống tƣợng…). Hồ Thác Bà
góp phần rất lớn vào bảo vệ và cải tạo môi trƣờng, giúp cho nhiệt độ trong
mùa hè giảm từ 1 – 20C, tăng độ ẩm mùa khô lên 20% và lƣợng mƣa từ 1700
– 2000mm/năm, tạo điều kiện cho thảm thực vật xanh tốt đặc biệt thích nghi
với trồng chè năng suất lớn [66, tr. 21]
Ngoài ra Yên Bái là tỉnh có trữ lƣợng khoáng sản tƣơng đối lớn với kim
loại quý hiếm: vàng ở Xuân Ái (Văn Yên), Kiên Thành (Trấn Yên), mỏ bạc ở
Tú Lệ…kim loại màu: đồng, chì, kẽm, sắt và các mỏ nhiên liệu: mỏ than đá ở
Minh Quân, Bái Dƣơng (Trấn Yên), mỏ Than mỡ ở Hồng Quang (Lục Yên).
Lộ…
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đồng
bào các tộc ngƣời ở Yên Bái đã có những đóng góp to lớn về sức ngƣời, sức
của góp phần vào thắng lợi chung của đất nƣớc. Sau khi đất nƣớc thống nhất,
dƣới sự lãnh đạo của Đảng bộ Yên Bái, nhân dân tập trung vào phát triển sản
xuất kinh tế và đạt đƣợc những thành tựu to lớn. Sự phát triển về kinh tế, ổn
định về chính trị, mức sống ngƣời dân nâng cao vừa góp phần đƣa Yên Bái
trở thành một tỉnh giàu mạnh đồng thời là nhân tố tích cực đối với phát triển
11
kinh tế - xã hội của cả nƣớc, có ý nghĩa quan trọng đối với việc đảm bảo an
ninh quốc gia.
1.1.2. Kinh tế nông nghiệp Yên Bái (1991 - 1995)
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng diễn ra trong bối cảnh
quốc tế có những thay đổi lớn và tác động sâu sắc đến nƣớc ta. Quan hệ đối
ngoại ngày càng đƣợc mở rộng trong đó quan hệ với một số nƣớc đƣợc cải
thiện rõ rệt tạo thêm cơ hội Việt Nam mở rộng thị trƣờng, thu hút nguồn vốn
đầu tƣ kỹ thuật, học hỏi kinh nghiệm thế giới xây dựng đất nƣớc. Tuy nhiên
tình hình chính trị thế giới cũng có những mặt phức tạp tác động tới Việt
Nam. Tình hình trong nƣớc khủng hoảng kinh tế - xã hội vẫn chƣa chấm dứt
trong đó khó khăn lớn nhất là tạo ra nguồn cân đối về vật chất, tài chính mở
rộng thị trƣờng tiêu thụ, đáp ứng mục tiêu ổn định và phát triển kinh tế khắc
phục lạm phát đang ở mức cao.
Trên cơ sở tổng kết, đánh giá thành tựu, ƣu điểm và hạn chế qua 5 năm
thực hiện đƣờng lối đổi mới đất nƣớc (1986 - 2000), Đại hội Đảng lần thứ VII
đã đƣa ra phƣơng hƣớng về kinh tế: “Phát triển nông, lâm, ngƣ nghiệp gắn với
công nghiệp chế biến, phát triển toàn diện kinh tế nông thôn và xây dựng
nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế xã hội” [24, tr. 270]. Trong sản xuất nông nghiệp đặc biệt nhấn mạnh tới:
“Đặt trọng tâm vào chƣơng trình lƣơng thực – thực phẩm nhằm bảo đảm vững
đẩy quá trình phát triển kinh tế của tỉnh. Tháng 3/1993, Ban chấp hành Đảng
bộ ra Nghị quyết 03: “Về tiếp tục đổi mới và phát triển nông – lâm nghiệp
toàn diện, xây dựng nông thôn mới đến năm 2000”. Đây là nghị quyết đi
trƣớc một bƣớc và phù hợp với Nghị quyết Trung ƣơng 5 (khóa VII) về tiếp
tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, là cơ sở để Tỉnh ủy Yên
Bái chỉ đạo xây dựng 6 chƣơng trình kinh tế - xã hội trình Chính phủ phê
duyệt:
1. Chƣơng trình phủ xanh 374.000 ha đất trống, đồi núi trọc. Mục tiêu
đến năm 2000 đƣa tỷ lệ rừng che phủ lên đến 45% diện tích đất tự nhiên của
13
tỉnh. Thực hiện chƣơng trình này nhằm góp phần giải quyết việc làm và cải
thiện đời sống cho 46 vạn dân, trong đó có 16 vạn dân ở vùng cao.
2. Chƣơng trình khai thác tổng hợp 2 vạn ha đất đảo hồ Thác Bà. Tổ
chức đƣa 4.000 hộ dân ra các đảo lập nghiệp trồng rừng, trồng các cây công
nghiệp, nuôi cá lồng nhằm biến hồ Thác Bà thành trung tâm kinh tế, du lịch
quan trọng.
3. Chƣơng trình định canh, định cƣ, tập trung giải quyết dứt điểm 15 xã
còn lại, củng cố 4 xã đã định canh nhƣng còn du cƣ, ổn định đời sống đồng
bào các dân tộc vùng cao. Gắn chƣơng trình này với việc củng cố hệ thống
chính trị, xóa mù chữ, nâng cao dân trí, giải quyết các vấn đề xã hội, xây dựng
hạ tầng kinh tế - xã hội vùng cao.
4. Chƣơng trình giải quyết nƣớc cho sản xuất và cho sinh hoạt. Đầu tƣ
sửa chữa 390/710 công trình thủy lợi đã có, xây dựng một số công trình thủy
lợi mới, xây dựng nhà máy nƣớc, lấy nƣớc từ hồ Thác Bà cung cấp nƣớc sinh
hoạt cho thị trấn Yên Bình và thị xã Yên Bái.
5. Chƣơng trình phát triển công nghiệp chế biến nông – lâm – khoáng
sản. Đầu tƣ tăng công suất chế biến chè từ 100 tấn/ngày lên 200 tấn/ngày; đổi
mới công nghệ sản xuất sứ, xi măng, vật liệu xây dựng, phát triển ngành công
Từ 1992 – 1993, nhà nƣớc đầu tƣ gần 10 tỷ đồng sửa chữa và làm mới
270 công trình thủy lợi. Toàn tỉnh đã cấp lúa giống cho trên 70% diện tích
gieo cấy. Nhiều giống mới có năng suất cao, kháng bệnh tốt đƣợc đƣa vào sản
xuất. Năng suất lúa năm 1991 đạt 5 tấn/ha đến năm 1993 đạt 7 tấn/ha; sản
lƣợng lƣơng thực từ 136.000 tấn tăng lên 165.512 tấn, lƣơng thực bình quân
đầu ngƣời từ 224 kg/năm tăng 258kg/năm [5, tr. 140]
Chăn nuôi phát triển theo hƣớng sản xuất hàng hóa. Ở vùng thấp, đàn lợn
lai chiếm 70% tổng đàn, còn ở thị xã và thị trấn tỷ lệ là 100%. Năm 1993,
tổng đàn lợn có 195.000 con, đàn trâu, bò có 91.000 con, sản lƣợng thịt hàng
hóa đạt gần 5.000 tấn, cung cấp cho miền xuôi gần 1.000 con trâu, bò cày
kéo. [5, tr. 140]
15
Trong cây công nghiệp, chè đƣợc đặc biệt quan tâm. Tỉnh ủy đã tập trung
đầu tƣ thâm canh 5000 ha chè, đồng thời đẩy mạnh trồng mới một số giống
chè nhập ngoại đáp ứng đƣợc yêu cầu của thị trƣờng. Cây quế là cây đặc sản
đƣợc mở rộng trồng với diện tích gần 6.500ha. Từ 1991 – 1993 đã giao trên
147.000 ha đất và rừng cho dân khoanh nuôi, bảo vệ và trồng đƣợc 22.600 ha
rừng tập trung [5, tr. 140]
Công nghiệp, thủ công nghiệp đƣợc điều chỉnh hƣớng vào các ngành chế
biến nông – lâm – khoáng sản. Trong hai năm (1992 – 1993), tỉnh đầu tƣ hơn
10 tỷ đồng vào đổi mới thiết bị chế biến chè, sản xuất đũa gỗ và chế biến gỗ.
Nhịp độ phát triển bình quân của công nghiệp địa phƣơng đạt 13%/năm, năm
1993 giá trị sản lƣợng đạt 22.5 tỷ đồng tăng hơn 6 tỷ so với năm 1991. Xây
dựng cơ bản phát triển mạnh. Các công trình cầu Yên Bái, Tô Mậu, đƣờng
Yên Bình…đƣợc xây dựng và đƣa vào sử dụng góp phần rất lớn đối với kinh
tế - xã hội của tỉnh [5, tr. 140]
Trong hai năm (1992 - 1993), Nhà nƣớc đầu tƣ 20 tỷ đồng phát triển kinh
tế - xã hội vùng cao, tạo điều kiện để cơ cấu kinh tế vùng cao có bƣớc chuyển
Nhờ vận dụng đƣờng lối quan điểm của Đảng trên cơ sở tổng kết thực
tiễn địa phƣơng, từ năm 1991 đến 1995, Đảng bộ Yên Bái cơ bản hoàn thành
các chủ trƣơng, giải pháp lớn, đẩy mạnh công cuộc đổi mới trên tất cả các
lĩnh vực, chính trị, kinh tế - xã hội, chuẩn bị một bƣớc về chính trị, tƣ tƣởng
cho thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Qua năm năm (1991 - 1995), sản xuất nông – lâm nghiệp đã có sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng tích cực, tiến bộ, từng bƣớc khắc phục
kinh tế thuần nông và chuyển dần sang sản xuất hàng hóa gắn với thị trƣờng,
kinh doanh tổng hợp, sản xuất nông – lâm nghiệp gắn với công nghiệp chế
biến. Tốc độ tăng trƣởng bình quân đạt 7.5%/năm trong đó nông – lâm nghiệp
tăng 5.6%/năm; dịch vụ thƣơng mại tăng 10.6%/năm. Cơ cấu kinh tế đạt một
bƣớc chuyển dịch quan trọng. Năm 1991, giá trị nông - lâm nghiệp chiếm
17
68.8% GDP, công nghiệp và dịch vụ chiếm 31.2% đến năm 1995, nông – lâm
nghiệp là 55.5%, công nghiệp và dịch vụ tăng lên 44.5% [5, tr. 152]
Về sản xuất lƣơng thực mỗi năm tỉnh đã đầu tƣ gần một tỷ đồng trợ giá
giống lúa, ngô, cƣớc vận chuyển phân bón, khuyến nông và chuyển giao kỹ
thuật cho nông dân…tổng sản lƣợng lƣơng thực quy thóc vƣợt 6,9% mục tiêu.
Đại hội XIII đề ra (tăng thêm 3,5 vạn tấn lƣơng thực. Riêng năm 1995 năng
suất lúa đạt 74,4 tạ/ha, sản lƣợng lƣơng thực trên 171.000 tấn) bình quân
lƣơng thực đạt 255kg/ngƣời/năm tăng 3%.. Năm 1991, năng suất lúa chỉ đạt 5
tấn/ha (huyện Văn Yên đạt 7 tấn/ha) thì năm 1994 tăng lên 7.2 tấn/ha, 6
huyện thị đạt trên 7 tấn (Văn Yên đạt 8.7 tấn/ha) [5, tr.142]
Về cây công nghiệp: Cây chè mở rộng thêm diện tích và đẩy mạnh thâm
canh, đã hình thành vùng chè 7.300 ha, diện tích chè trồng mới tăng thêm
1.000 ha, mỗi năm chế biến hơn 4.500 tấn chè thƣơng phẩm, cây chè đặc sản
vùng cao đƣợc chú ý đầu tƣ phát triển với gần 800 ha, góp phần ổn định đời
chế biến nâng cao chất lƣợng và giá trị sản phẩm, vì vậy hạn chế đƣợc việc
bán nguyên liệu thô ra ngoài tỉnh.
Đồng thời với đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, phát
triển công nghiệp chế biến dịch vụ thuộc mọi thành phần kinh tế cũng thu hút
nhiều lao động, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn. Sản xuất công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tăng bình quân 24,5%, giá trị sản lƣợng năm
1994 đạt 105 tỷ đồng, trong đó công nghiệp địa phƣơng chiếm 35,6%, tăng
bình quân 21,1%/năm. Xuất khẩu tăng bình quân 12,8%, năm 1994 đạt 7,3
triệu USD, bình quân đầu ngƣời đạt 12USD. Hoàn thành và đƣa vào sử dụng
một loạt công trình có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xã hội
ở địa phƣơng nhƣ cầu Yên Bái, cây cầu lớn đầu tiên Yên Bái bắc qua sông
Hồng, cầu Tô Mậu, cầu Ngòi Lâu. 8/9 huyện, thị trong tỉnh đã có điện lƣới
quốc gia. Đó là những nỗ lực vƣợt bậc của các cấp, các ngành, các địa
phƣơng trong tỉnh. [5, tr. 153]
19
Đảng bộ Yên Bái thực hiện một số chính sách xã hội và thu đƣợc những
kết quả to lớn. Thu nhập bình quân đầu ngƣời đạt gần 170 USD/năm, 14% số
hộ giàu, số hộ nghèo đói từ 30% năm 1991 giảm xuống còn 18%...Đã có 57%
số hộ dùng điện thắp sáng trong đó có 15.000 hộ dung điện thủy lợi nhỏ và
cực nhỏ, 133 (74,2%) xã có đƣờng ô tô đến trung tâm xã. [5, tr. 154]
Nền kinh tế nhiều thành phần đƣợc khuyến khích tạo đà phát triển mạnh.
Đến cuối năm 1995, toàn tỉnh có 22 doanh nghiệp tƣ nhân, 6 công ty trách
nhiệm hữu hạn, 7.300 hộ gia đình sản xuất tiểu thủ công nghiệp, 5.900 hộ gia
đình kinh doanh dịch vụ thƣơng mại; 3.250 hộ làm kinh tế trang trại có từ 3ha
đến 300ha đất. [5, tr. 154]
Kinh tế vùng cao có bƣớc chuyển biến tích cực. Đảng bộ đã tập trung
lãnh đạo, chỉ đạo có kết quả bƣớc đầu trong việc chuyển dịch cơ cấu cây
biến và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định
tình hình kinh tế - xã hội. Những thành tựu trong lĩnh vực kinh tế đã khẳng
định sự đúng đắn về đƣờng lối đồng thời là điều kiện để Đảng ta tiếp tục cụ
thể hóa đƣờng lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc trên từng lĩnh vực.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996) tiếp tục hoàn chỉnh đƣờng lối đổi
mới đã quyết định chọn công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông
thôn làm bƣớc đi đầu tiên để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nƣớc. Đại hội đã xác định nội dung cơ bản của công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nƣớc trong những năm còn lại của thập kỷ 90 trong đó đặc biệt coi trọng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn với các nội dung chủ
yếu:
- Phát triển toàn diện nông, lâm, ngƣ nghiệp, hình thành các vùng tập
trung chuyên canh, có cơ cấu hợp lý về cây trồng vật nuôi, có sản phẩm hàng
hóa nhiều về số lƣợng, tốt về chất lƣợng, đảm bảo an toàn lƣơng thực trong xã
hội, đáp ứng đƣợc yêu cầu của công nghiệp chế biến và của thị trƣờng trong
và ngoài nƣớc.
- Thực hiện thủy lợi hóa, điện khí hóa, cơ giới hóa và sinh học hóa.
21
- Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản với công nghệ
ngày càng cao, gắn với nguồn nguyên liệu và liên kết với công nghiệp ở đô
thị.
- Phát triển các ngành nghề, làng nghề truyền thống và các ngành nghề
mới bao gồm tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, hàng
xuất khẩu, công nghiệp khai thác và chế biến các nguồn nguyên liệu phi nông
nghiệp, các loại hình dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân.
- Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, từng bƣớc hình thành nông
thôn mới văn minh, hiện đại.
- Hoàn thành việc cơ bản giao đất, khoán rừng cho hộ nông dân. Điều
nông thôn đi vào thực hiện đƣợc hai năm. Để có hệ thống chính sách, luật
pháp hoàn chỉnh và xây dựng thành chƣơng trình thực hiện đồng bộ, Bộ chính
trị ra Nghị quyết riêng về vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn. Nghị
quyết 06 của Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng (khóa VIII) ngày 10/11/1998
là bƣớc phát triển cao hơn, đầy đủ hơn về nội dung đƣờng lối, chủ trƣơng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn, nông thôn.
Nghị quyết đã đƣa ra 4 quan điểm và 6 mục tiêu về nông nghiệp, nông
thôn trong đó nhấn mạnh: phải coi trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong
phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn. Đƣa nông nghiệp và kinh tế
nông thôn lên sản xuất lớn là nhiệm vụ quan trọng trƣớc mắt và lâu dài. Đẩy
mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế gồm phát triển nông nghiệp với công nghiệp
chế biến, ngành nghề hình thành sự liên kết nông – công nghiệp – công
nghiệp – dịch vụ và thị trƣờng trên địa bàn nông thôn. Phát huy lợi thế từng
vùng và cả nƣớc, áp dụng nhanh tiến bộ khoa học công nghệ để phát triển
nông nghiệp hàng hóa đa dạng. Phát triển nền nông nghiệp với nhiều thành
phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nƣớc giữ vai trò chủ đạo cùng với kinh tế
hợp tác xã dần dần trở thành nền tảng hợp tác và hƣớng dẫn kinh tế tƣ nhân
phát triển theo đúng luật, tạo điều kiện khuyến khích mạnh hộ nông dân đầu
23
tƣ phát triển sản xuất, kinh doanh nông nghiệp, công nghiệp dịch vụ nông
thôn.
Quá trình thực hiện Nghị quyết của Bộ chính trị, của Trung ƣơng Đảng
về công nghiệp hóa, hiện đại hóa hóa nông nghiệp, nông thôn diễn ra khẩn
trƣơng ở nhiều địa phƣơng trong cả nƣớc và đã thu đƣợc những kết quả quan
trọng bƣớc đầu về phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn theo hƣớng
hiện đại, văn minh. Sự phát triển kinh tế, xã hội nhất là nông nghiệp, xây
dựng nông thôn năm 1999 và 2000 đã chứng minh đƣờng lối đúng đắn của
50 - 51]
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII và Đại hội đại biểu
Đảng bộ Yên Bái XIV, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh xây dựng 5 nhiệm vụ,
mục tiêu trong đó nhấn mạnh kinh tế nông nghiệp:
Tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nông – lâm – công nghiệp chế
biến, dịch vụ và xuất khẩu theo hƣớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa: phát
triển một nền sản xuất nông – lâm nghiệp toàn diện theo hƣớng sản xuất hàng
hóa nhiều thành phần, tạo ra nhiều vùng sản xuất luân canh, thâm canh và
kinh doanh tổng hợp; chú trọng sản xuất lƣơng thực, bố trí hợp lí cơ cấu mùa
vụ đƣa 35 – 40% diện tích ruộng một vụ lên 2 vụ, phát triển mạnh cây màu
lƣơng thực, đƣa tổng sản lƣợng lƣơng thực lên 190.000 – 195.000 tấn đạt mức
bình quân 270 – 280 kg/ngƣời; tập trung thâm canh có hiệu quả cây công
nghiệp và cây ăn quả, đƣa diện tích chè lên 1 vạn ha và cà phê lên 5000 ha
vào năm 2000. Quy hoạch vùng và xác định tập đoàn cây ăn quả phù hợp với
khí hậu thổ nhƣỡng của từng vùng, tập trung cải tạo cơ bản diện tích vƣờn tạp
thành vƣờn hàng hóa. Hình thành một số vùng sản xuất tập trung đối với một
số loại cây ăn quả có giá trị kinh tế cao: nhãn, vải, cam…đến đầu năm 2000
có từ 5000 – 6000 ha và đạt 6000 – 7000 tấn quả. Phấn đấu đƣa tỷ trọng cây
công nghiệp, cây ăn quả trong ngành trồng trọt từ 10,4% lên 20% năm 2000.
[25, tr. 55]
25