Đảng bộ tỉnh thanh hóa lãnh đạo công tác giáo dục chuyên nghiệp tu nam 1996 den nam 2010 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------------

BÙI THỊ HẬU

ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HÓA LÃNH ĐẠO
CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHUYÊN NGHIỆP
TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2010

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội – 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------------

BÙI THỊ HẬU

ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HÓA LÃNH ĐẠO
CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHUYÊN NGHIỆP
TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2010

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56


sao chép của ai. Các tư liệu được trình bày có nguồn gốc rõ ràng tuân thủ
đúng nguyên tắc.
Tác giả luận văn

Bùi Thị Hậu


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BCHTW

: Ban chấp hành Trung ƣơng

CTQG

: Chính trị quốc gia

HĐND

: Hội đồng nhân dân

NQ

: Nghị quyết

Nxb

: Nhà xuất bản

UBND


ĐH

: Đại học

DN

: Dạy nghề

TTDN

: Trung tâm dạy nghề

CNH- HĐH

: Công nghiệp hóa- hiện đại hóa

LĐ-TBXH

: Lao động – Thƣơng binh và Xã hội

TTGDTX-DN

: Trung tâm Giáo dục thƣờng xuyên và dạy nghề


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................................................... 1
Chƣơng 1 THỰC TRẠNG VÀ YÊU CẦU PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC CHUYÊN
NGHIỆP THANH HOÁ TRƢỚC NĂM 1996....................................................................... 10

năm 2010. ........................................................................................................................................ 73


Chƣơng 3: NHẬN XÉT CHUNG VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM.................................. 89
3.1. Nhâ ̣n xét chung....................................................................................................................... 89
3.1.1. Về ưu điểm ............................................................................................................................. 89
3.1.2. Những hạn chế và nguyên nhân ......................................................................................... 93
3.1.3. So sánh giáo dục chuyên nghiệp Thanh Hóa với các tỉnh Bắc Trung
Bộ ...................... 99
3.2. Mô ̣t số kinh nghiệm............................................................................................................. 101
3.3. Nhƣ̃ng vấn đề đặt ra
............................................................................................................ 102
KẾT LUẬN................................................................................................................................... 112
TÀI LIỆU THAM KHẢO
. ....................................................................................................... 115
PHỤ LỤC


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, không riêng gì ở Việt Nam, giáo dục - đào tạo đã đang là bài toán
khó, ngay ở những nước tiên tiến nhất trên thế giới. Trong xã hội hiện đại, thành bại
là do vốn văn hoá, khoa học, công nghệ của con người quyết định, nên giáo dục
đương nhiên là mặt trận xung yếu nhất của mọi quốc gia.
Ở Việt Nam, ngay từ khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước
Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã coi ―Dốt‖ là một trong ba thứ giặc cực kỳ nguy hiểm cần phải tiêu trừ
ngay. Bởi vì: ―một dân tộc dốt là một dân tộc yếu‖, ―dốt thì dại, dại thì hèn‖ [55,
tr.8]. Theo Hồ Chí Minh: ―Nay chúng ta giành quyền độc lập. Một trong những việc
phải thực hiện cấp tốc trong lúc này là nâng cao dân trí‖. Vì: ―Nước nhà cần phải

chứng với nhau. Trong các bậc học của hệ thống giáo dục quốc dân, Giáo dục phổ
thông mới tạo ra mặt bằng học vấn, tạo ra ―vật liệu‖ cho đào tạo nhân lực; còn
chính Giáo dục chuyên nghiệp mới tạo ra được nhân lực kỹ thuật. Mặt bằng học vấn
tốt thì ―vật liệu‖ sẽ tốt, đào tạo chuyên nghiệp phải tốt thì mới có sản phẩm lao động
kỹ thuật lành nghề. Có lực lượng lao động cân đối, được đào tạo ở trình độ chuyên
môn lành nghề thì mới đưa được nền kinh tế đi lên, mới tạo ra được sản phẩm hàng
hóa có sức cạnh tranh lớn trên thị trường và khu vực, do đó mới hoàn thành được sự
nghiệp CNH – HĐH đất nước. Bởi vậy, Đảng và Nhà nước ta phải có sự đầu tư thỏa
đáng và cân đối cho cả hai lĩnh vực: mặt bằng học vấn và trình độ kỹ thuật.
Về mặt bằng học vấn, Nhà nước đã có luật Phổ cập giáo dục tiểu học và đang
chú ý đầu tư trung học. Nhưng về Giáo dục chuyên nghiệp, lĩnh vực trang bị trình
độ chuyên môn, kỹ thuật lành nghề cho số đông trực tiếp làm ra của cải vật chất và
tinh thần cho xã hội, trực tiếp thực hiện sự nghiệp CNH – HĐH, thì vẫn chưa được
quan tâm đúng mức, chưa cân đối với sự quan tâm về mặt bằng học vấn và chưa
gắn chặt với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.
Trong sự nghiệp giáo dục – đào tạo nói chung thì công tác đào tạo ở các
trường chuyên nghiệp chính là yếu tố gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội và chịu
ảnh hưởng trực tiếp của thị trường lao động. Chính vì vậy, công tác giáo dục chuyên
nghiệp luôn luôn được Đảng đặt lên vị trí hàng đầu trong sự nghiệp giáo dục – đào
tạo. Tuy nhiên, hiện nay giáo dục chuyên nghiệp của nước ta đang có nhiều bất cập
cần được Đảng quan tâm, chỉ đạo hơn nữa.

2


Trong thực tế, từ khi Đảng đề ra đường lối đổi mới cho đến nay, trong sự
phát triển chung của sự nghiệp giáo dục – đào tạo thì giáo dục chuyên nghiệp cũng
có nhiều chuyển biến lớn và giành được nhiều kết quả quan trọng. Những thành tựu
đạt được đó chính là nhờ sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, là sự đóng góp tích cực
của nhiều địa phương trong cả nước.

Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Lịch sử nghiên cứu
Phải khẳng định rằng không có đề tài nào mà được toàn xã hội quan tâm như
giáo dục – đào tạo, bởi nó là yếu tố quyết định sự sống còn, hưng thịnh của một
quốc gia, một gia đình, một cá nhân. Không phải chỉ bây giờ, trong thời đại ngày
nay, giáo dục đào tạo mới được nhắc đến, quan tâm như thế. Đã có rất nhiều công
trình kinh điển về giáo dục – đào tạo được loài người nhắc đến như: các bộ kinh của
Nho gia, chủ nghĩa Mác - Lênin…
Là một lãnh tụ thiên tài, mà những tư tưởng của người đã trở thành kim chỉ
nam dẫn đường cho cách mạng Việt Nam tiến lên, ngay từ đầu Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã đề cao vai trò của giáo dục, và sự cần thiết của một nền giáo dục trong chế
độ xã hội chủ nghĩa bằng tác phẩm ―Bàn về công tác giáo dục‖, Nxb Sự thật, Hà
nội, 1972.
Nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo nói chung, công tác
giáo dục chuyên nghiệp nói riêng với sự phát triển của đất nước nên các nhà lãnh
đạo Đảng và Nhà nước cũng có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này như:
“Sự nghiệp giáo dục trong chế độ xã hội chủ nghĩa” của Phạm Văn Đồng, Nxb Sự
thật, Hà Nội (1978); “Phát triển mạnh mẽ giáo dục và đào tạo phục vụ đắc lực sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước‖ của Tổng Bí thư Đỗ Mười, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội (1991)...Các tác giả là những người giữ cương vị lãnh
đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước nên các công trình này đã hệ thống những quan
điểm, tư tưởng của Đảng về giáo dục – đào tạo.
Đảng Cộng sản Việt Nam với các Nghị quyết chuyên đề bàn về thực trạng và
phương hướng đổi mới giáo dục – đào tạo như: Nghị quyết Hội nghị Trung ương
lầ n thứ 4 (khóa VII), Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 2 (khóa VIII), Nghị
quyế t Hô ̣i nghi ̣Trung ương lầ n thứ 6 (khóa IX). Những tài liệu này là một hệ thống
những quan điểm, tư tưởng khoa học, bao gồm cả khái niệm, mục đích, nội dung,
cách dạy, cách học, cách quản lý, cách lãnh đạo ngành giáo dục. Đây là cơ sở lý
luận cho đường lối chính sách giáo dục đã và đang tiến hành ở nước ta, cho nền


dục nhưng cũng đã đề cập đến vai trò của tài năng và bồi dưỡng tài năng nhằm
chuẩn bị cho Thanh Hoá trong thời kỳ mới; Nhân kỉ niệm 60 năm ngày thành lập

5


trường, tập thể giáo viên trường THPT Lam Sơn biên soạn “60 năm Collège de
Lam Sơn - Đào Duy Từ - Lam Sơn 1931 – 1991” năm 1991…
Ngoài ra, gần đây có luận án thạc sỹ của Nguyễn Thị Hường "Đảng bộ tỉnh
Thanh Hoá lãnh đạo sự nghiệp giáo dục phổ thông thời kỳ (1954 – 1975)"; mô ̣t số
các tham luận, nghiên cứu khoa học của những người tâm huyết với sự nghiệp giáo
dục - đào tạo trong tỉnh.
Các văn bản, nghị quyết của BCH Trung ương Đảng, các báo cáo của Tỉnh
ủy Thanh Hoá, UBND tỉnh, HĐND tỉnh về phát triển Giáo dục đào tạo nói chung và
phát triển giáo dục chuyên nghiệp nói riêng thời kỳ từ năm 1996 đến năm 2010.
Đây là nguồn tư liệu thể hiện những quan điểm, chính sách phát triển Giáo dục đào
tạo nói chung và giáo dục chuyên nghiệp nói riêng. Những báo cáo hàng năm của
HĐND tỉnh, UBND tỉnh đã tóm tắt tình hình phát triển Giáo dục đào tạo nói chung
và giáo dục chuyên nghiệp nói riêng qua các năm, nêu lên những thành tựu, hạn
chế, đề ra vướng mắc cần được tháo gỡ hay phương hướng nhiệm vụ cho những
năm tiếp theo. Khai thác các tư liệu trên sẽ phục vụ trực tiếp cho việc nghiên cứu đề
tài của tác giả luận văn.
Như vậy, hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu riêng về giáo dục
chuyên nghiệp một cách chuyên sâu và tổng quát, nhấ t là các công trình nghiên cứu
về đường lối, chủ trương phát triển công tác giáo dục chuyên nghiệp của Đảng bộ
và chính quyền tỉnh Thanh Hoá trong thời kỳ đổi mới.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu và trình bày có hệ thống quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh
Thanh Hoá từ năm 1996 đến 2010 (chủ trương, đường lối, biện pháp thực hiện đổi

+ Thời gian: trong thời kỳ từ năm 1996 đến 2010.
Mố c 1996: Đa ̣i hô ̣i Đảng lầ n th ứ VIII và đặc biệt là khi Hội nghị lần thứ Hai
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (tháng 12 - 1996) ra Nghị quyết:
“Định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kì CNH, HĐH
và nhiệm vụ đến năm 2000‖.
Mố c cuố i là năm 2010, năm kế t thúc nhiê ̣m kỳ Đa ̣i hô ̣i X của Đảng Cô ̣ng sản
Viê ̣t Nam.

7


5. Phƣơng pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
5.1. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luâ ̣n : luâ ̣n văn dựa vào quan điể m của chủ nghiã Mác -Lênin, quan
điể m của Đảng Cô ̣ng sản Viê ̣t Nam , tư tưởng Hồ Chí Minh về cách ma ̣ng xã hô ̣i
chủ nghĩa nói chung, về vấ n đề giáo du ̣c - đào ta ̣o nói riêng.
- Các phương pháp chủ yếu: phương pháp lịch sử và phương pháp logic
- Các phương pháp khác: phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng
hợp... để làm rõ những vấn đề cần thiết trong quá trình nghiên cứu.
5.2. Nguồ n tài liệu
Trong khuôn khổ luận văn thạc sỹ lịch sử, tác giả sử dụng nguồn tư liệu chủ
yếu sau:
- Về kinh điển: tác giả chọn lựa các bài nói, bài viết của Các Mác, Ăng ghen,
Lênin và Hồ Chí Minh bàn về giáo dục.
- Các Văn kiện, Nghị định, Chỉ thị, Quyết định của Đảng và Nhà nước; của
Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh Thanh Hoá về giáo dục - đào tạo nói chung và công
tác giáo dục chuyên nghiệp nói riêng.
- Một số bài phát biểu, bài viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước,
Bộ GD - ĐT; Tỉnh ủy, Sở GD - ĐT tỉnh Thanh Hoá.
- Các văn bản, báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo về giáo dục chuyên

9


Chƣơng 1
THỰC TRẠNG VÀ YÊU CẦU PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC CHUYÊN
NGHIỆP THANH HOÁ TRƢỚC NĂM 1996
1.1. Vài nét về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và truyền thống hiếu học của
nhân dân Thanh Hoá.
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Thanh Hoá là một tỉnh (xưa là bộ, là thừa tuyên, là trấn) của đất nước Việt
Nam, đã hiện diện trên bản đồ Việt Nam từ thời Hùng Vương và luôn có vị trí đặc
biệt trong quá trình tiến hoá của lịch sử. Các triều đại luôn thừa nhận đây là một dải
đất phên dậu để bảo vệ Tổ quốc. Vùng đất này đã chia sẻ với cả dân tộc những
chiến công chiến đấu và xây dựng suốt ngàn năm lịch sử.
Thanh Hoá là tỉnh địa đầu miền Trung - cửa ngõ của Trung Bộ nơi tiếp giáp
với đồng bằng Bắc Bộ rộng lớn phì nhiêu, với dải đất dài và hẹp về phía Nam.
Là một tỉnh lớn và đông dân, Thanh Hoá có diện tích đất liền 11.168km 2,
bằng 3,3 diện tích cả nước, có 70% đất đai là núi đồi và rừng. Phía Bắc giáp 3 tỉnh
Sơn La, Hoà Bình và Ninh Bình với đường ranh giới dài 175 km. Phía Tây giáp tỉnh
Hủa Phăn của nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, với đường biên giới dài
192km. Phía Đông, mở rộng ra phần giữa của Vịnh Bắc Bộ thuộc biển Đông với
đường bờ biển dài hơn 102 km.
Thanh Hoá có hai miền là trung du - miền núi và đồng bằng – ven biển; trung
du - miền núi gắn với hệ núi cao phía Tây bắc và hệ núi Trường Sơn phía Nam gồm
11 huyện: Mường Lát, Quan Sơn, Quan Hoá, Bá Thước, Lang Chánh, Ngọc Lặc,
Thường Xuân, Như Xuân, Cẩm Thuỷ, Thạch Thành, Như Thanh; với tổng diện tích
tự nhiên trên 800.000 ha (chiếm 2/3 diện tích cả tỉnh); dân số gần 1 triệu người, mật
độ dân số hơn 90 người/km2.
Đồng bằng – ven biển Thanh Hoá thuộc kiểu đồng bằng bồi tụ gồm 13
huyện, 2 thị xã và 1 thành phố là: huyện Vĩnh Lộc, Thọ Xuân, Triệu Sơn, Nông

điện năng đã có trạm và hệ thống phân phối điện năng toàn tỉnh phân bổ điện cho
sản xuất và sinh hoạt.
Về mặt khí hậu, Thanh Hoá nằm ở vĩ tuyến 20 trong vùng nhiệt đới gió mùa
rõ rệt của Đông Nam Á mưa nhiều, nắng lắm. Đây là điều kiện tự nhiên thuận lợi
cho hoa màu cây cối phát triển quanh năm. Khí hậu Thanh Hoá vừa mang đặc điểm

11


của Bắc Bộ (có một mùa đông ngắn, khô và lạnh, mùa xuân mưa phùn âm u và
thiếu nắng do sương mù), vừa mang đặc điểm của khí hậu Trung bộ (khô nóng, có
gió Tây Nam).
Nhìn chung tiềm năng tự nhiên của tỉnh Thanh Hoá là rất lớn, có đủ điều
kiện để phát triển thành một tỉnh kiểu mẫu về các lĩnh vực kinh tế xã hội. Trong
khoảng 10 năm trở lại đây nền kinh tế của tỉnh phát triển tương đối ổn định, có tốc
độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm là 6%. Cơ cấu kinh tế phát triển ngày
càng phù hợp với các ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh như: mía đường, xi măng,
phân bón, vật liệu xây dựng,… tăng mạnh, Thanh Hoá có thể tham gia vào các tam
giác phát triển kinh tế phía Bắc.
1.1.2. Điều kiện dân cƣ
Về cư dân, Thanh Hoá có khoảng 3,6 triệu người, là tỉnh đông dân thứ 2
trong 61 tỉnh thành (sau thành phố Hồ Chí Minh). Huyện có số dân đông nhất tỉnh
là Quảng Xương với gần 300.000 người, ít dân nhất là huyện Mường Lát khoảng
29.000 người. Quy mô trung bình của mỗi đơn vị hành chính trong tỉnh là 13 vạn
người. Thanh Hoá là một cộng đồng gồm nhiều các dân tộc anh em: Kinh, Thái,
Mường, Hmông, Dao, Khơ mú, Tày, Nùng, … trong đó người Kinh chiếm đa số cư
dân với hơn 85% dân số. Người Thái có khoảng 20 vạn người gồm Thái trắng và
Thái đen, người Mường có 29 vạn người, người Hmông khoảng 5000 người, sống ở
vùng cao biên giới Thanh Hoá, người Tày có khoảng 7642 người sống ở Như
Xuân… Dân số đông là một trong những nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế

kinh tế, các vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh của
các vùng miền. Việc huy động vốn đầu tư phát triển tăng rõ nét. Năm 2010, tổng vốn
huy động ước đạt 85. 395 tỉ đồng tăng 55% so mục tiêu đề ra. Trong đó vốn tín dụng
nhà nước giảm, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng. Nhờ vậy, đời sống của nhân dân
địa phương cũng không ngừng được nâng cao. Nhưng nhìn chung Thanh Hóa vẫn là
một tỉnh nghèo. Năm 2008, cả nước có 62 huyện nghèo, riêng Thanh Hoá có 7
huyện, bình quân thu nhập GDP/người năm 2009 so với cả nước vẫn còn rất thấp
(ước 720 USD/1.200 USD).
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn 2001
– 2010 là tập trung đẩy mạnh CNH nông nghiệp và phát triển nông thôn, phát triển
các ngành chế biến nông – lâm - thuỷ sản, công nghiệp vật liệu xây dựng, công

13


nghiệp hàng tiêu dùng, công nghiệp điện tử tin học, phát triển du lịch dịch vụ. Khôi
phục và phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống của địa
phương. Như vậy, nhu cầu về đào tạo lao động qua đào tạo sẽ tăng từ 19% lên 27%
vào năm 2005 và 38% vào năm 2010; đồng thời nhu cầu được đào tạo nghề cũng
tăng từ 87.700 năm 2000 lên 200.000 vào năm 2005 và 250.000 người vào năm
2010; từ đó đòi hỏi giáo dục chuyên nghiệp Thanh Hoá phải có kế hoạch đào tạo
nguồn nhân lực phù hợp để đáp ứng sự nghiệp CNH và HĐH của tỉnh.
1.1.3.2 . Về xã hội
Thanh Hoá là vùng đất địa linh nhân kiệt, nơi phát tích của nhiều triều đại
phong kiến, đồng thời cũng là nơi sinh ra nhiều danh nhân với những đóng góp lớn
lao cho đất nước. Trong bài nói chuyện với đại biểu thân sỹ, trí thức ngày
20/2/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá ―Thanh Hoá có tiếng là văn vật‖,
―tỉnh Thanh Hoá vừa rạng rỡ đất văn vừa oai phong đất võ‖ [5, tr.7]. Suốt thời
phong kiến, từ khoa thi đầu tiên thời Lý (1075) đến khoa thi cuối cùng thời Nguyễn
(1919), Thanh Hoá có trên 200 vị đỗ tiến sỹ trong tổng số 2989 tiến sỹ của cả nước.

Bá Sỹ là thầy học của Bảng nhãn Phạm Thanh, Thám hoa Mai Anh Tuấn, từng
được sỹ phu nhà Thanh (Trung Quốc) khâm phục ví như ―Cây si già toả rộng ngàn
nắng lửa‖.
Bên cạnh các hiền nhân nổi tiếng còn có các thầy giáo nổi tiếng không chỉ ở
địa phương mà còn trong cả nước. Cuối thế kỷ XIV đầu XV, thầy giáo Lê Văn Linh
quê Thọ Xuân, tuy không đỗ đạt gì nhưng đã mở trường dạy học, đào tạo nhiều
người giỏi sau này góp phần tích cực cho cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Ông được tôn
là thầy Mai Trai (đồng thời với Nguyễn Trãi là Ức Trai). Thầy giáo Nguyễn Sư Lộ
(Thám hoa năm 1554) là người có cách dạy rất độc đáo, ngồi trên phiến đá bên
đường dạy cho tất cả những ai đi qua (vì vậy mới gọi là Sư Lộ). Đầu thế kỷ XVIII,
thầy giáo Trần Ân Chiêm là người thầy lỗi lạc, đã mở trường Yên Định. Học trò của
ông sau này rất nhiều người đỗ đạt như: Bảng nhãn Hà Tông Huân, Thám hoa Đỗ
Huy Kỷ…
Đặc biệt, đầu thế kỷ XIX, thầy giáo Nhữ Bá Sỹ được xem là người thầy xuất
sắc nhất không chỉ ở Thanh Hoá mà còn của cả nước, có lẽ ông là người đầu tiên
mở trường và đưa ra những quy định, nội dung, thể thức dạy học đầu tiên.
Với tinh thần ―tôn sư trọng đạo‖, nhân dân Thanh Hóa đã bằng nhiều hình
thức ghi nhận công lao của họ như: lập đền thờ, khắc tên vào bia đá ở địa phương

15


để thờ phụng và lưu truyền hậu thế. Ngày nay, tại một số địa phương như: Thọ
Xuân, Đông Sơn, Hoằng Hoá…vẫn còn dấu tích của việc dựng Bia, lập Văn chỉ
nhằm lưu giữ lại thành tích học tập và kết quả khoa bảng của sỹ tử xưa. Đây là một
nét truyền thống tốt đẹp của xứ Thanh, nó thể hiện sự kính trọng của người dân đối
với những người có học.
Ngày nay, kế thừa những di sản vô giá đó, tại các địa phương trong tỉnh
Thanh luôn luôn có những ―trò hay thầy giỏi‖. Đất Thanh được coi là ―đất học‖ của
cả nước. Hiện tại, có hơn 300 Phó giáo sư, Tiến sỹ, hơn 200 Thạc sỹ và hàng ngàn

môn cho các ngành học. Nhìn chung đó là một hệ thống gồm 3 cấp: Sơ cấp (HS tốt
nghiệp cấp I – tốt nghiệp lớp 4); Trung cấp (học sinh học hết cấp II-tốt nghiệp lớp 7
học từ 2 đến 4 năm); Cao cấp – Đại học (học sinh hết cấp III). Thời gian học từ 1
đến 2 năm là chủ yếu. Bên cạnh hệ thống chính quy này vẫn tồn tại hệ thống không
chính quy, đào tạo cấp tốc.
Ở Thanh Hóa trước năm 1950 (năm 1949), Bộ Quốc gia Giáo dục đặt một lớp
Đại học văn khoa ở Quần Tín (Thọ Xuân) có 7 sinh viên chính thức, 4 sinh viên không
chính thức để giáo sư Đặng Thai Mai dạy. Lớp này học một số chuyên đề trong vòng
một vào tháng với thầy Đặng Thai Mai lại vào Diễn Châu (Nghệ An) học một số
chuyên đề với thầy giáo Cao Xuân Huy, và cũng chỉ tồn tại trong năm 1949. Năm
1950, Bộ Ngoại giao cũng mở và tuyển sinh ở Thanh Hóa trường trung cấp ngoại giao
(chỉ chưa đến 20 người). Cũng năm này, trường Sư phạm sơ cấp Liên khu IV (đào tạo
giáo viên cấp I) được thành lập ở tỉnh, tuyển sinh và khai giảng từ năm học 1950 –
1951. Các trường lớp này là trường của Trung ương và khu vực đặt tại Thanh Hóa.
Nghĩa là đến 1950, thực tế Thanh Hóa chưa xuất hiện hệ thống giáo dục chuyên nghiệp
của mình, ngoại trừ một số lớp sư phạm cấp tốc, một số lớp sư phạm thực hành, kỹ
nghệ thực nghiệm đã tổ chức và thi kiểm tra tốt nghiệp từ năm 1946 đến 1949.
Trường lớp chuyên nghiệp đầu tiên của tỉnh là Sư phạm cấp tốc miền núi Ngọc
Lặc (36 học viên). Hòa bình lập lại, từ 1958 trở đi tỉnh Thanh Hoá mới hình thành và
phát triển hệ thống giáo dục chuyên nghiệp mà đầu tiên là các trường sư phạm cấp I và
Sư phạm trung cấp. Hệ thống Giáo dục chuyên nghiệp phát triển mạnh mẽ nhất chính
là vào những năm tháng cả nước cũng như toàn tỉnh phải chiến đấu ác liệt với chiến
tranh phá hoại của đế quốc Mỹ xâm lược (1965 - 1975). Phát triển nhanh chóng về số
lượng đến mức Nghị quyết 278 ĐT/UBTH của Ủy ban hành chính tỉnh tháng 5 – 1970

17


phải nêu là một nhược điểm: ―Việc phát triển về số lượng quá nhanh vượt quá các điều
kiện khác để đảm bảo về chất lượng‖. (Tổng số trường lên đến 93, kể cả một số



Trích đoạn Mô ̣t số kinh nghiệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status