ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------------------------
LÊ THỊ HIỀN
ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HÓA LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN
“DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA” TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2013
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 62 22 03 15
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội – 2015
Luận án được hoàn thành tại:TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN
VĂN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Hồng
Giới thiệu 1:
Giới thiệu 2:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng cấp cơ sở chấm Luận án tiến sĩ họp tại Trường
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, số 336 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội, vào
hồi.......giờ.......phút, ngày.......tháng.......năm 2015.
Có thể tìm hiểu Luận án tại:
lãnh đạo thực hiện chủ trương của Đảng về DĐĐT theo hướng CNH, HĐH không chỉ góp phần
đúc rút những kinh nghiệm mà còn cung cấp thêm cơ sở khoa học cho việc giải quyết những vẫn
đề về nhận thức lý luận và chỉ đạo hoạt động thực tiễn đối với sự phát triển kinh tế của tỉnh hiện
nay.
Với ý nghĩa đó, tôi quyết định chọn đề tài Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo thực
hiện DĐĐT từ năm 1996 đến năm 2013 để làm luận án tiến sĩ, chuyên ngành Lịch sử Đảng
Cộng sản Việt Nam.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo thực hiện chủ trương của
Đảng về DĐĐT tại địa phương từ năm 1996 đến năm 2013; trên cơ sở đó, chỉ rõ ưu điểm,
hạn chế, rút ra một số kinh nghiệm cho hoạt động DĐĐT hiện tại.
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích các yếu tố tác động và chi phối công tác DĐĐT ở tỉnh Thanh Hóa
- Trình bày chủ trương và quá trình chỉ đạo thực hiện DĐĐT của Đảng bộ tỉnh
Thanh Hóa từ năm 1996 đến 2013 theo một hệ thống có tính lịch sử.
- Đánh giá ưu điểm, hạn chế của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa trong quá trình lãnh đạo
thực hiện DĐĐT
- Đúc rút kinh nghiệm từ quá trình thực hiện chủ trương DĐĐT ở tỉnh Thanh Hóa.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Chủ trương và các biện pháp chỉ đạo của Đảng bộ
Thanh Hóa trong quá trình lãnh đạo thực hiện công tác DĐĐT; Các hoạt động thực hiện
DĐĐT ở tỉnh Thanh Hóa.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Các yếu tố tác động và chi phối sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh
Thanh Hóa trong DĐĐT; Các chủ trương, biện pháp về DĐĐT của Đảng bộ tỉnh Thanh
Hóa và sự triển khai thực hiện của các cấp trong tỉnh Thanh Hóa; Luận án tập trung cơ
bản vào hoạt động DĐĐT, tuy nhiên ruộng đất là tư liệu sản xuất gắn bó mật thiết với
- Hệ thống hóa các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa về
DĐĐT theo hướng CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn từ năm 1996 đến năm 2013.
- Khôi phục chân thực quá trình tổ chức chỉ đạo và kết quả thực hiện DĐĐT
theo hướng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn từ năm 1996 đến năm 2013 của
Đảng bộ.
- Làm rõ sự phát triển nhận thức của Đảng bộ trong quá trình lãnh đạo, tổ chức thực
hiện DĐĐT theo hướng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn qua các giai đoạn 19962006, 2006-2013; góp phần tổng kết thực tiễn và lý luận, gợi mở những bài học kinh
nghiệm đúc kết trong quá trình Đảng bộ Thanh Hóa lãnh đạo DĐĐT theo hướng
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.
- Tổng hợp những định hướng cơ bản của Đảng bộ trong quá trình tiếp tục lãnh
đạo thực hiện chủ trương DĐĐT theo hướng đẩy mạnh CNH, HĐH và phát triển kinh tế
bền vững.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Luận án là công trình nghiên cứu lịch sử, được xây dựng từ các nguồn tư liệu
phong phú, và các qua kết quả, sưu tầm điều tra, khảo sát, thực địa tại Thanh Hóa. Bằng
nhiều luận cứ khoa học, tác giả đã tập trung phân tích, lý giải và đánh giá thấu đáo kết
quả lãnh đạo thực hiện DĐĐT của Đảng bộ địa phương có nhiều tiềm năng, nhưng cũng
không ít những khó khăn và thách thức.
- Luận án góp phần đúc kết những kinh nghiệm lịch sử giúp Đảng bộ và các cấp ủy,
các Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn…trong tỉnh
có thêm nguồn tư liệu tham khảo trong quá trình tổng kết thực tiễn và xây dựng chủ
trương, chính sách, biện pháp để lãnh đạo thực hiện chủ trương DĐĐT và những định
hướng phát triển kinh tế trong giai đoạn tiếp theo
- Luận án là nguồn tư liệu phục vụ công tác nghiên cứu và biên soạn Lịch sử
Đảng bộ tỉnh, lịch sử Đảng bộ ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thanh
Hóa, lịch sử Đảng bộ Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thanh Hóa.
7. Bố cục của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận án
thực trạng và giải pháp để nhằm hoàn thiện chính sách ruộng đất, đồng thời đề xuất các
mô hình sử dụng đất bền vững phục vụ cho quy hoạch, quản lý và sử dụng đất đai trong
giai đoạn hiện nay. Đây cũng chính là nguồn tư liệu quý giá tạo tiền đề cơ sở lý luận và
phương pháp nghiên cứu, tiếp cận, giúp cho tác giả hoàn thành luận án nghiên cứu của
mình.
Luận án tiến sỹ năm 1994 của Vũ Văn Châu về “chính sách ruộng đất của Đảng
cộng sản Việt Nam trong công cuộc đổi mới (1986-1993)”; Luận án tiến sỹ năm 2004 của
Đào Xuân Mùi về “Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai ở ngoại thành Hà
Nội”.
Ngoài các đề tài nghiên cứu khoa học và luận án tiến sỹ nêu trên, một số cuốn sách
cũng đã đề cập đến quá trình đổi mới chính sách ruộng đất của Đảng và Nhà nước, cụ thể như
sau: Cuốn sách Vấn đề sở hữu ruộng đất trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở Việt
Nam của Hoàng Việt, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 1999; Cuốn sách Đổi mới quản lý
kinh tế nông nghiệp, thành tựu, vấn đề và triển vọng của Nguyễn Văn Bích, Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội năm 1994; Cuốn sách Ruộng đất, nông nghiệp và nông thôn Việt Nam thời
kỳ cận - hiện đại của Nguyễn Văn Khánh, Nxb.Thế giới, Hà nội năm 2013; Cuốn sách Biến
đổi cơ cấu ruộng đất và kinh tế nông nghiệp ở vùng châu thổ Sông Hồng trong thời kỳ đổi mới
(Qua khảo sát một số làng xã) của Nguyễn Văn Khánh, Nxb Chính trị Quốc gia, H, năm 2001.
Trong số những công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài, có thể kể đến
hai công trình nghiên cứu khá trực tiếp và sâu sắc đến tình trạng manh mún, những chính
sách nhằm giảm thiểu tình trạng manh mún về ruộng đất và tác động của nó đến nông
nghiệp Việt Nam. Đó là cuốn Phát triển nông nghiệp và những chính sách đất đai ở Việt
Nam của các tác giả Sally P.Marsh, T.Gordon MacAulay và Phạm Văn Hùng - Trung tâm
nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế Ôx-trây-lia và Đại học Nông nghiệp 1, Hà Nội năm
2007 và cuốn Đất đai trong thời kỳ đổi mới, cải cách và nghèo đói của nông thôn Việt
Nam của Martin Ravallion và Dominique van de Walle, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội
năm 2008.
Bên cạnh đó, vấn đề đổi mới chính sách ruộng đất đã được phản ánh khá nhiều
giai đoạn 2005 -2010”.
Cuốn sách Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam 20 năm sau đổi mới của Đặng Kim
Sơn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 2006. Cuốn sách Phát triển kinh tế nông nghiệp
nông thôn Việt Nam của Nguyễn Hữu Tiến, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 2008.
Cuốn sách Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn: Vấn đề và giải pháp của
Lê Quốc Lý, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội năm 2012. Cuốn sách CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn ở Bắc Trung Bộ (Qua khảo sát các tỉnh Thanh – Nghệ - Tĩnh) của Mai
Thị Thanh Xuân, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 2004.
Ngoài ra, còn có một số bài viết, tạp chí đề cập trực tiếp đến vấn đề DĐĐT: Các
hình thức tập trung ruộng đất hợp lý để CNH nông nghiệp, Lê Trọng, Tạp chí Nghiên
cứu kinh tế, số 8 năm 2010; Chuyển đổi ruộng đất ở 3 tỉnh Thanh, Nghệ, Tĩnh, Mai Thị
Thanh Xuân, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 2 năm 2003; Quan hệ họ hàng với việc
DĐĐT và sử dụng ruộng đất với góc nhìn vốn xã hội ở một làng Bắc Trung Bộ, Nguyễn
Tuấn Anh và Thomese Fluer, Tạp chí Nghiên cứu gia đình và giới, số 4 năm 2007;
DĐĐT tốn tiền tỷ vẫn manh mún, Nông thôn mới số 227 kỳ 2 tháng 7/2008; Phú Vang
với cuộc vận động DĐĐT , nông thôn mới số 187 kỳ 2 tháng 7/2006; Hiệu quả chuyển
đổi ruộng đất liền vùng liền thửa ở Phong Hải, Nông thôn mới số 186 kỳ 1 tháng
10/2006; Nhờ DĐĐT đã đánh thức tiềm năng vùng đất trũng, Nông thôn mới số 187 kỳ
2 tháng 10/2006…Đề tài nghiên cứu khoa học của nhóm nghiên cứu thuộc Viện Khoa
học kinh tế nông nghiệp Việt Nam về “ Thực tiễn DĐĐT ở một số tỉnh và đề xuất chính
sách khuyến khích DĐĐT nâng cao hiệu quả sử dụng đất ở Đồng bằng Sông Hồng”.
Những kết quả nghiên cứu của các công trình trên đã góp phần làm sáng tỏ quan
điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về DĐĐT và tích tụ ruộng đất, xác định rõ
những nguyên nhân và đúc kết kinh nghiệm; đồng thời đề xuất những kiến nghị giải pháp
nhằm tiếp tục đưa nông nghiệp, nông thôn phát triển lên trình độ cao hơn. Những công
trình nghiên cứu đó là tài liệu tham khảo hữu ích, giúp cho tác giả không chỉ tiếp thu
thêm được nguồn tư liệu để bổ sung, đối chiếu, so sánh mà còn học hỏi được phương
pháp luận và cách tiếp cận vấn đề trong khi nghiên cứu đề tài.
Các luận văn, luận án khi viết về vấn đề chính sách ruộng đất, kinh tế nông nghiệp ở
Thanh Hóa cũng mới chỉ đề cập đến một khía cạnh nào đó của công tác DĐĐT mà chưa
đi sâu phân tích một cách hệ thống về quá trình lãnh đạo thực hiện DĐĐT của Đảng bộ
tỉnh Thanh Hóa.
1.2. Những vấn đề các công trình nghiên cứu chưa làm sáng tỏ
Dưới góc độ lịch sử Đảng, các công trình nghiên cứu khoa học trên mới chỉ đề cập
đến những nội dung liên quan đến đề tài ở từng phần riêng, ở một khía cạnh nào đó mà chưa
đề cập đến một cách cụ thể, toàn diện và có hệ thống về: Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ
tỉnh Thanh Hóa trong quá trình thực hiện DĐĐT ở địa phương; Quá trình tổ chức thực
hiện chủ trương DĐĐT của Đảng ở tỉnh Thanh Hóa; Chưa nhận xét đánh giá những ưu
điểm, hạn chế về quá trình Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo thực hiện DĐĐT từ năm 1996
- 2013; Chưa rút ra những bài học kinh nghiệm về quá trình lãnh đạo thực hiện DĐĐT ở địa
phương.
1.3 Những vấn đề đề tài luận án tập trung nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu, giải quyết những vấn đề sau:
- Phân tích một cách hệ thống và toàn diện về chủ trương, quá trình chỉ đạo thực hiện
DĐĐT theo hướng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa từ
năm 1996 đến năm 2013.
- Phân tích kết quả lãnh đạo DĐĐT theo hướng CNH, HĐH, những thành tựu, hạn
chế, giải pháp trong lãnh đạo của Đảng bộ Thanh Hóa.
- Bước đầu rút ra một số bài học kinh nghiệm làm cơ sở khoa học cho việc lãnh đạo
DĐĐT của tỉnh trong giai đoạn tiếp theo, nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, cải thiện đời sống
nhân dân
Chương 2
ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HÓA LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN
DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA TỪ NĂM 1996 ĐẾN 2006
2.1. Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo thực hiện Dồn điền đổi thửa của
Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa
thông qua Nghị quyết 06-NQ/TW về một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn.
Nghị quyết đã xác định một trong những vấn đề cấp bách hiện nay để phát triển nông
nghiệp, nông thôn thực hiện CNH - HĐH đất nước là tích tụ ruộng đất
Về vấn đề giao đất, sử dụng đất trống đồi trọc và đất rừng Nghị quyết 06-NQ/TW
ngày 10/11/1998 của Bộ Chính trị và Ban chấp hành TW cũng đã nêu lên: “Đẩy mạnh
việc giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ổn định lâu dài cho nông dân,
giải quyết những tranh chấp và khiếu kiện về đất đai; đảm bảo mỗi khoảnh đất, khoảnh
rừng đều có chủ quản lý hợp pháp, cụ thể…” [48; tr.45].
Văn kiện Đại hội IX (2001) phần định hướng phát triển các ngành và vùng đối với
nông nghiệp, nông thôn đã chỉ rõ: “Đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn theo
hướng hình thành nền nông nghiệp hàng hóa lớn phù hợp với nhu cầu thị trường và sinh thái
từng vùng; chuyển dịch cơ cấu ngành, nghề, cơ cấu lao động, tạo việc làm thu hút lao động ở
nông thôn” [53;tr.168]. Đồng thời trong phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội 5
năm 2001 -2005 nêu rõ: “chuyển đổi nhanh chóng cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế
nông thôn; xây dựng các vùng sản xuất hàng hóa chuyên canh phù hợp với tiềm năng lợi thế
về khí hậu, đất đai và lao động của từng vùng, từng địa phương” [53; tr.16]
Hội thảo khoa học với chủ đề: “chuyển đổi ruộng đất và chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp, nông thôn” do viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương phối hợp với
UBND tỉnh Hưng Yên tổ chức vào ngày 10-11/5/2001 tại huyện Khoái Châu, Hưng Yên.
Hội thảo đã nêu lên tình trạng manh mún về ruộng đất, tính đến năm 2001 cả nước có
khoảng 11 triệu hộ nông dân đang quản lý và sử dụng trên 80 mảnh ruộng với diện tích
rất khác nhau. Bình quân mỗi hộ có từ 5 - 10 mảnh, cá biệt có hộ có tới 30 mảnh.
Tiếp đó, Ngày 18/3/2002, Hội nghị lần thứ 5 BCH Trung ương Đảng khóa IX đã
thông qua Nghị quyết số 13-NQ/TW về tiếp tục đổi mới nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể
cũng đã đề cập đến vấn đề DĐĐT: “Khuyến khích tạo điều kiện cho kinh tế hộ nông dân
DĐĐT, tập trung ruộng đất theo chính sách của nông nghiệp để phát triển sản xuất hàng
hóa, mở mang ngành nghề” [54; tr.34].
Ngày 18/3/2002, Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khóa IX) ra
Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa từ năm 1996 đến 2006.
2.3.1 Hiện tượng tự phát DĐĐT ở một số địa phương.
Trong quá trình sản xuất, một số hộ nông dân ở tỉnh Thanh Hóa đã tự phát chuyển
đổi ruộng đất cho nhau, trước tiên là giữa các hộ trong nội tộc gia đình, sau đó là phạm vi
thôn, xóm. Năm 1995 một số địa phương đã tự nguyện chuyển đổi ruộng đất.
Như vậy, việc tự phát DĐĐT ở một số địa phương tỉnh Thanh Hóa cho thấy đây là
một xu hướng phù hợp với thực tiễn từng địa phương, góp phần thúc đẩy phát triển sản
xuất, hộ gia đình chủ động bảo quản đất đai, cải tạo bồi bổ đất, nông dân phấn khởi cải
tạo bồi bổ đất, nông dân phấn khởi tin tưởng là động lực mãnh mẽ thúc đẩy sản xuất.
Trong từng hộ nông dân đã xuất hiện sự phân bố lại lực lượng lao động, giảm phần lớn
lao động không có việc làm. Bố trí sắp xếp cơ cấu kinh tế của từng hộ được thay đổi phù
hợp. Đất đai của từng hộ được quản lý chặt chẽ. Vì vậy, tình hình lấn chiếm đất trái phép,
sử dụng đất không đúng mục đích ít xẩy ra. Mọi mâu thuẫn phát sinh trong quá trình sản
xuất được người dân thỏa thuận giải quyết nhanh chóng.
2.3.2 Chỉ đạo làm thí điểm DĐĐT
Ngày 27/8/1997, UBND Tỉnh đã có công văn số 1657 CV-NN/UB “về việc tập
trung chỉ đạo những nhiệm vụ trọng tâm về quản lý đất đai”, trong đó nhấn mạnh về việc
chỉ đạo, hướng dẫn cụ thể các địa phương tiếp tục thực hiện DĐĐT, cụ thể: “Các huyện
đồng bằng tiến hành vận động nông dân chuyển đổi ruộng từ ô, thửa nhỏ thành ô thửa lớn
và phải coi đây là một nhiệm vụ quan trọng cần tập trung chỉ đạo trong những năm tới.
Mỗi huyện làm thí điểm một, vài xã để rút kinh nghiệm triển khai ra diện rộng…” [226;
tr.3].
Tính đến tháng 7/1998, đã có 21 xã thuộc 14 huyện đã hoàn thành công tác thí
điểm DĐĐT, những vướng mắc về tư tưởng và cách làm trong quá trình triển khai đã
được tháo gỡ từng bước.
Nhìn chung qua 21 xã làm điểm, bước đầu có một số xã trong quá trình triển khai
gặp khó khăn về công tác tư tưởng và cách xây dựng phương án. Song được sự chỉ đạo
chặt chẽ của huyện, thị và ngành địa chính nên cả 21 xã triển khai đều đạt kết quả tốt, qua
tế hợp lý theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ giảm tỷ trọng ngành nông
nghiệp, phân công lại lao động, góp phần nâng cao đời sống của nhân dân. Những kết quả
bước đầu đạt được đã tạo những tiền đề vật chất, tinh thần quan trọng cho Đảng bộ và nhân
dân Thanh Hóa trong những chặng đường phát triển tiếp theo.
DĐĐT là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước, đã được Đảng bộ tỉnh
Thanh Hóa vận dụng sáng tạo phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn của địa phương. Trong giai
đoạn đầu thực hiện chủ trương DĐĐT, mục đích DĐĐT của các hộ nông dân là chuyển đổi ruộng
đất cho nhau để khắc phục tình trạng ruộng đất manh mún, thuận lợi cho việc canh tác, sản xuất
nông nghiệp. Các hộ nông dân trong quá trình canh tác sản xuất đã thấy những vấn đề bất cập do
ruộng đất manh mún, gây khó khăn cho sản xuất, do đó giữa các hộ đã tự phát chuyển đổi ruộng
đất để sản xuất được thuận lợi, tuy nhiên việc các hộ tự phát chuyển đổi ruộng đất cho nhau gặp
phải khó khăn đó là việc xác nhận giấy tờ chuyển đổi ruộng đất về mặt pháp lý, hầu hết các hộ tự
thỏa thuận miệng với nhau hoặc viết giấy chuyển đổi nhưng không có người làm chứng và xác
nhận của chính quyền địa phương. Do đó, ruộng đất chuyển đổi giữa các hộ với nhau rất dễ gây
tranh cãi, chính quyền địa phương khó quản lý và giải quyết vấn đề ruộng đất không triệt để.
Trước những khó khăn của việc các hộ tự phát chuyển đổi ruộng đất cho nhau như vậy nên Đảng
bộ tỉnh đã đề ra chủ trương hướng dẫn nhân dân làm điểm ở một số địa phương và sau đó nhân
rộng ra toàn tỉnh. Có thể nói rằng, trong 10 năm đầu thực hiện chủ trương DĐĐT Đảng bộ tỉnh
Thanh Hóa đã đạt được nhiều kết quả đáng kể, đây là giai đoạn mà công tác DĐĐT được Đảng bộ
coi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, do đó công tác DĐĐT được triển khai trên quy mô
toàn tỉnh đặc biệt là sau chỉ thị 13-CT/TU về vấn đề DĐĐT của tỉnh ủy.
Mặc dù vậy trong giai đoạn này tiến độ thực hiện chủ trương DĐĐT vẫn còn chậm,
chưa đạt được mục tiêu đề ra, một số huyện còn chưa thể triển khai DĐĐT do địa hình khó
khăn, phức tạp, đặc biệt là một số huyện miền núi. Do đó, trong thời gian tiếp theo Đảng bộ
tỉnh Thanh Hóa cần tiếp tục tăng cường đẩy mạnh lãnh đạo thực hiện chủ trương DĐĐT, để
hoàn thành mục tiêu đề ra, mở rộng quy mô sử dụng đất nông nghiệp, phát triển hàng hóa
theo định hướng CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn.
nông nghiệp thuê đất của các hộ gia đình để tích tụ, tập trung ruộng đất, phát triển
sản xuất hàng hóa chuyên canh, quy mô lớn”
Những chủ trương, định hướng phát triển của Đảng bộ về cuộc vận động DĐĐT
có ý nghĩa rất quan trọng cho các ngành, các cấp triển khai thực hiện, tạo sự chuyển biến
tích cực cho nông nghiệp, nông thôn toàn tỉnh theo hướng CNH, HĐH trong những tiếp
theo.
3.2 Tăng cường chỉ đạo thực hiện và kết quả đạt được
3.2.1 Tăng cường các biện pháp thực hiện DĐĐT
Thực hiện chủ trương của Ban thường vụ Tỉnh ủy tại Chỉ thị số 13-CT/TU ngày
3/9/1998, UBND tỉnh đã hướng dẫn các sở, ban, ngành liên quan, Cấp ủy, Chính quyền
các cấp một số địa phương đã ban hành chỉ thị, nghị quyết, kế hoạch và xây dựng phương
án thực hiện DĐĐT lần 2.
Như vậy, với chủ trương tăng cường đẩy mạnh thực hiện DĐĐT, Đảng bộ tỉnh đã
khuyến khích và chỉ đạo sát sao các huyện ủy tiếp tục thực hiện DĐĐT gắn liền với việc xây
dựng nông thôn mới. DĐĐT trong giai đoạn 2006-2013 được thực hiện theo hai hình thức
chủ yếu là: chia lại ruộng đất và chuyển đổi quyền sử dụng đất.
Như vậy, do công tác phổ biến, tuyên truyền, vận động được tiến hành thường
xuyên, liên tục trong cả quá trình triển khai thực hiện, bằng nhiều hình thức phong phú
nên chủ trương của Tỉnh ủy, các quy định về pháp luật đất đai của Nhà nước và các chỉ
thị, nghị quyết, kế hoạch, phương án thực hiện của cấp ủy, chính quyền địa phương về
thực hiện DĐĐT đã nhanh chóng đi vào cuộc sống, được đại đa số người dân đồng tình
ủng hộ, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong công tác quy hoạch, sử dụng và quản
lý Nhà nước về đất đai.
3.2.2 Kết quả thực hiện DĐĐT
So với giai đoạn 1996- 2006, giai đoạn 2006 -2013 có thêm 4 huyện (Thạch
Thành, Cẩm Thủy, Như Thanh, Ngọc Lặc) triển khai DĐĐT. Sau khi thực hiện DĐĐT,
các xã đã đo đạc, chỉnh lý bản đồ địa chính, lập hồ sơ địa chính và cấp được 252.406 giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho 148.221 hộ với diện tích là 24.768 ha. Sau gần 20
Chương 4
MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM
4. 1. Một số nhận xét
4.1.1 Những ưu điểm trong lãnh đạo thực hiện DĐĐT của Đảng bộ tỉnh Thanh
Hóa.
Thứ nhất, Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa đã đề ra chủ trương, biện pháp thực hiện
DĐĐT sát hợp với thực tiễn.
Thứ hai, Đảng bộ Thanh Hóa luôn coi trọng lợi ích kinh tế và quyền làm chủ
ruộng đất thực sự của nông dân, luôn đặt lợi ích của người nông dân lên hàng đầu, từ đó
khơi dậy động lực trong sản xuất, góp phần tạo nên những thành tựu trong nông nghiệp.
Thứ ba, Đảng bộ đã triển khai tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực
hiện DĐĐT và ban hành nhiều cơ chế, chính sách, giải pháp đúng đắn, thiết thực, kịp thời,
phù hợp với tình hình của địa phương.
Thứ tư, Đảng bộ Thanh Hóa đã gắn DĐĐT với quá trình phát triển nông nghiệp,
nông thôn theo hướng CNH, HĐH.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, trong quá trình lãnh đạo thực hiện DĐĐT, Đảng bộ
Thanh Hóa còn một số hạn chế, yếu kém chưa được khắc phục.
4.1.2 Những hạn chế trong lãnh đạo thực hiện DĐĐT
Thứ nhất, sự chỉ đạo thực hiện DĐĐT của Đảng bộ chưa thực sự sâu sát, còn buông lỏng,
do đó tiến độ thực hiện DĐĐT còn chậm, chưa đáp ứng được mục tiêu đề ra.
Thứ hai, việc tuyên truyền phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của
nhà nước về DĐĐT ở một số huyện còn hạn chế và thiếu quy hoạch tổng thể.
Thứ ba, Đảng bộ tỉnh chưa có những biện pháp hiệu quả để phá bỏ tập quán canh tác
nhỏ lẻ, manh mún, tự phát, tâm lý ngại thay đổi trong một bộ phận nông dân.
Thứ tư, Dồn điền đổi thửa dẫn đến một số vấn đề tiêu cực của xã hội: phân hóa
giàu nghèo; sức ép về vấn đề việc làm cho lao động nông thôn và nảy sinh các tệ nạn xã
hội.
4.2. Một số kinh nghiệm trong lãnh đạo thực hiện DĐĐT của Đảng bộ Thanh
Hóa.
Một là, trong lãnh đạo DĐĐT, phải quán triệt đường lối chung của Đảng đồng thời
công nghệ tiến tiến, năng suất và hiệu quả ngày càng cao. Các mô hình kinh tế hiệu quả
được hình thành và phát triển ngày càng phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương.
1. Quá trình lãnh đạo DĐĐT, góp phần thực hiện nông nghiệp, nông thôn theo
hướng CNH, HĐH của Đảng bộ là quá trình từng bước hoàn thiện về chủ trương, biện
pháp, sự chỉ đạo tổ chức thực hiện. Trong quá trình đó, Đảng bộ đã quán triệt và vận dụng
đường lối của Đảng vào thực tiễn địa phương, coi trọng công tác tổng kết thực tiễn, bổ sung,
điều chỉnh định hướng, đề ra chủ trương, biện pháp và tổ chức chỉ đạo thực hiện phù hợp.
Thông qua quá trình lãnh đạo và chỉ đạo cuộc vận động DĐĐT, các cấp ủy và
chính quyền địa phương được rèn luyện, vượt qua nhiều thử thách, khó khăn, bám sát
thực tiễn, đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo phù hợp vơi nguyện vọng của nhân dân.
Những kết quả đạt được, thể hiện rõ tính đúng đắn trong các chủ trương của Đảng bộ;
đồng thời, là thực tiễn sinh động minh chứng sự đúng đắn trong đường lối đổi mới, trước
hết là đổi mới tư duy kinh tế của Đảng.
2. Trong quá trình lãnh đạo DĐĐT, Đảng bộ chú trọng chỉ đạo UBND tỉnh, các
cấp ủy Đảng, các sở ban ngành nhằm đạt một số mục tiêu: Khắc phục ruộng đất manh
mún, nhỏ lẻ, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh
tế; quy hoạch, sử dụng và quản lý đất nông nghiệp một cách hợp lý; hình thành và phát
triển các mô hình kinh tế hiệu quả; đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế hàng hóa, nâng
cao đời sống của nhân dân, thực hiện an sinh xã hội... Đây cũng chính là kết quả của quá
trình Đảng bộ tích cực vận dụng sáng tạo đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước
vào thực tiễn cụ thể của tỉnh.
3. Bên cạnh những thành công, những kết quả đạt được đó, trong quá trình lãnh
đạo DĐĐT theo hướng CNH, HĐH của Đảng bộ từ năm 1996 đến năm 2013 còn tồn tại
những mặt hạn chế: Tiến độ thực hiện chủ trương DĐĐT còn chậm, chưa đạt được mục
tiêu đề ra; việc quy hoạch, sử dụng và quản lý ruộng đất chưa hiệu quả, những vấn đề về
tranh chấp ruộng đất vẫn còn tồn tại; các vấn đề về giải quyết việc làm, phân công lại lao
lao động ở nông thôn vẫn còn nhiều khó khăn…Nhìn chung, kinh tế Thanh Hóa mặc dù
đã có sự chuyển biến đáng kể, tuy nhiên kinh tế nông nghiệp vẫn phát triển mang tính
Tóm lại, chủ trương về DĐĐT của Đảng và Nhà là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp
với xu thế phát triển của đất nước nói chung và thực tiễn nông nghiệp, nông thôn Thanh
Hóa nói riêng. Tuy nhiên, khi triển khai vào thực tiễn Thanh Hóa thì chủ trương về
DĐĐT còn nhiều vướng mắc, khó khăn và kết quả đạt được chưa cao, sản xuất nông
nghiệp vẫn “dậm chân tại chỗ”, chưa có nhiều chuyển biến so với trước khi DĐĐT, nông
nghiệp chưa tạo ra các sản phẩm lớn và chất lượng không đủ sức cạnh tranh với thị
trường. Vậy đâu lý do? Liệu có phải chủ trương DĐĐT không phù hợp với thực tiễn, hay
quá trình triển khai thực hiện chưa đúng?. Có thể khẳng định rằng: chủ trương về DĐĐT là
hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với thực tiễn nông nghiệp, nông thôn Thanh Hóa. Tuy nhiên
lý do nông nghiệp Thanh Hóa vẫn “dậm chân tại chỗ”, chưa tạo ra bước đột phá là vì Đảng
bộ tỉnh chưa giải quyết triệt để và đồng bộ các giải pháp để giải quyết bài toán hậu DĐĐT.
Bởi chủ trương về DĐĐT mới chỉ là cơ sở, tiền đề, là bước đầu để tiến hành CNH, HĐH
nông nghiệp, nông thôn. Nếu chỉ dừng lại ở chủ trương DĐĐT mà không có giải pháp tiếp
theo để giải quyết vấn đề hậu DĐĐT như vấn đề việc làm, phương thức sản xuất, ứng dụng
khoa học công nghệ vào sản xuất...và không hướng tới việc tích tụ ruộng đất để làm ăn lớn,
tạo ra nhiều cánh đồng mẫu lớn, thì mục tiêu của DĐĐT về phát triển kinh tế hàng hóa với
quy mô lớn theo hướng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Thanh Hóa khó có thể
đạt được.