trung ơng Đoàn thanh niên cộng sản Việt Nam
Học viện thanh thiếu niên việt nam
-----------------------------------------
Chuyên đề tốt nghiệp
Đề tài:
đoàn thanh niên cộng sản hồ chí minh
huyện bình gia - tỉnh lạng sơn với sự nghiệp
giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc
Giáo viên hớng dẫn
: ThS. Dơng Thị Hiền
Ngời thực hiện
: Nông Văn Tú
Lớp
: K42B
Niên khoá
: 2006 - 2008
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
N«ng V¨n Tó – 42B
Mục lục
Trang
Lời cảm ơn
1
Phần thứ nhất
4
Những vấn đề chung
I. Lý do chọn chuyên đề
4
II. Mục đích của chuyên đề
6
III. Khách thể và đối tợng nghiên cứu
6
IV. Nhiệm vụ của đề tài
6
V. Phạm vi nghiên cứu
12
và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc.
1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
12
2. Tổ chức văn hoá UNSCO với văn hoá dân tộc
13
3. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh
13
III. Vai trò của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong sự nghiệp
17
giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc.
Chơng II
20
Thực trạng của việc giữ gìn
và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc.
I. vài nét về địa lý, điều kiện kinh tế- chính trị- văn hóaxã hội.
3. Thực trạng hoạt động của đoàn TNCS Hồ Chí Minh bình gia- tỉnh
26
lạng sơn với sự nghiệp giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc
3. Điều tra nhu cầu của thanh niên với việc giữ gìnvà phát huy bản sắc văn
hoá dân tộc
III. đánh giá chung và bài học kinh nghiệm
28
1. Đánh giá chung
28
2. Những nguyên nhân của thực trạng
30
3. Bài học kinh nghiệm
31
Chơng III
Các giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hơn
việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc
32
I. cơ sở xuất phát của các giải pháp
5
34
34
35
36
36
38
40
Chuyên đề tốt nghiệp
Nông Văn Tú 42B
Phần thứ nhất
i. Lý do chọn chuyên đề.
1. Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều có nền văn hoá riêng của mình. Văn hoá
là đặc trng, là nét riêng để khẳng định nền độc lập chủ quyền của một dân tộc.
Bởi vì, nếu một nền văn hoá của một dân tộc mà bị đồng hoá bởi nền văn hoá
của một quốc gia khác thì dân tộc đó sẽ không đợc coi là tồn tại. Đặc biệt, hiện
nay trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế, hội nhập, giao lu với các quốc gia
trên thế giới về nhiều lĩnh vực trong đó có văn hoá, thì nguy cơ đồng hoá các
nền văn hoá cũng có thể xảy ra. Và nếu không quan tâm, không có trách
nhiệm, không có biện pháp gìn giữ, bảo tồn bản sắc văn hoá, thì dân tộc Việt
Nam cũng không thể tồn tại lâu dài. Chính vì chức năng, vị trí, vai trò vô cùng
quan trọng của văn hoá mà Đảng, Nhà nớc, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cùng
toàn thể xã hội luôn phải nêu cao tinh thần, trách nhiệm giữ gìn và phát huy
cộng sản Hồ Chí Minh Bình Gia cần phải nghiên cứu, đ a ra những biện pháp
để khắc phục.
Vấn đề này không phải là lĩnh vực mới, và biết rằng trớc đó đã có nhiều
ngời nghiên cứu, hội thảo xung quanh chủ đề tôi đang lựa chọn, tuy nhiên, các
công trình nghiên cứu, các hội thảo đó cha đi sâu nghiên cứu mang tính chất hệ
thống. Đồng thời là một ngời con, là thế hệ trẻ của Bình Gia, vì lẽ đó, tôi đã lựa
chọn chuyên đề "Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Bình Gia - tỉnh Lạng Sơn với sự
nghiệp giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc", để làm chuyên đề tốt
nghiệp chơng trình trung cấp lý luận chính trị và nghiệp vụ đoàn, đội tại Học
viện TTN Việt Nam.
II. Mục đích của chuyên đề.
Trên cơ sở đánh giá nghiên cứu thực trạng của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Bình
Gia- tỉnh Lạng Sơn trong sự nghiệp giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, tìm
hiểu đợc các nguyên nhân cơ bản, qua đó đề xuất một số giải pháp với Đảng uỷ,
chính quyền địa phơng, và Đoàn cấp trên và đa ra một số kiến nghị với cấp uỷ
đảng, chính quyền địa phơng và Đoàn cấp trên về công tác giữ gìn và phát huy
bản sắc văn hoá dân tộc ở huyện Bình Gia - tỉnh Lạng Sơn.
III. đối tợng và Khách thể nghiên cứu.
1. Đối tợng nghiên cứu.
Các giải pháp nhằm nâng cao việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá
dân tộc.
2. Khách thể nghiên cứu.
Đoàn viên thanh niên; chi bộ Đoàn, chi bộ Đảng chính quyền, đoàn thể
nhân dân
IV. Nhiệm vụ của chuyên đề.
1- Nghiên cứu những cơ sở lý luận của việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn
hoá dân tộc.
Nông Văn Tú 42B
Phần thứ hai
nội dung nghiên cứu
Chơng I:
Cơ sở lý luận của chuyên đề
I. một số khái niệm về văn hoá.
* Khái niệm Đoàn tncs Hồ Chí Minh
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là đội dự bị tin cậy của Đảng cộng sản Việt Nam, là
đội quân xung kích cách mạng, là trờng học xã hội chủ nghĩa của thanh niên, đại
diện chăm lo và bảo vệ, quyền lợi hợp pháp của tuổi trẻ, phụ trách Đội TNTP Hồ Chí
Minh. Là thành viên của hệ thống chính trị, hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp,
pháp luật của Nhà nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Nói đến văn hoá là nói đến nhân văn, vì cuộc sống, lợi ích của con ngời.
Tất cả các hoạt động về văn hoá là phải phục vụ cho lợi ích tốt đẹp của con ngời,
phục vụ con ngời. Văn hoá có ở các quốc gia và quốc gia nào cũng có những giá
trị, những sản phẩm văn hoá của riêng mình. Những giá trị đó không chỉ có giá
trị sử dụng ở phạm vi một quốc gia mà còn có những giá trị văn hoá vợt ra tầm
châu lục và thế giới. Tất cả chỉ để phục vụ lợi ích của con ngời chứ không chỉ
cho một ngời, hoặc một vài ngời. Mỗi quốc gia đều có những nhân tài có khả
năng sáng chế ra những sản phẩm có giá trị văn hoá cao. Mỗi dân tộc đều có
những đặc trng, bản sắc, giá trị văn hoá của riêng mình. Tuy nhiên những sản
phẩm văn hoá tốt đẹp cần phải đợc đem ra, đợc công bố cho mọi ngời đợc biết,
và mọi ngời đều đợc sử dụng thì nó mới có giá trị cao. Nếu không nó sẽ dần bị
mai một lãng quên theo dòng chảy của lịch sử. Sản phẩm văn hóa của một ngời,
một tập thể, một quốc gia đều đợc cả thế giới sử dụng phát huy. Nh chúng ta đã
biết phần mềm Microsop là do Binget sáng lập ra và đến giờ đã đợc cả thế giới
sử dụng phát huy tốt vào mọi công việc. Chiếc ô tô Meccedes, giày Adidas, máy
bay Boing... Nay đã đợc rất nhiều các quốc gia trên thế giới sử dụng và coi đó là
Chí Minh làm khái niệm cơ bản nhất về văn hoá.
Trớc cách mạng tháng 8, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đa ra khái niệm về văn
hoá nh sau: "Vì lẽ sinh tồn cũng nh mục đích cuộc sống, loài ngời mới sáng tạo
ra và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo,
văn học nghệ thuật... Những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và
phơng thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo đó là văn hoá".
Tóm lại, văn hoá là hoạt động của con ngời, phục vụ cho đời sống sinh hoạt
của con ngời, và do con ngời sáng tạo ra.
11
Chuyên đề tốt nghiệp
Nông Văn Tú 42B
I.2. Khái niệm bản sắc văn hoá dân tộc.
Bên cạnh khái niệm về văn hoá còn có các khái niệm liên quan đến văn
hoá. Đó là các khái niệm về văn hoá dân tộc, bản sắc văn hoá dân tộc và tính dân
tộc trong văn hoá.
Văn hoá dân tộc đợc hiểu đó là nền văn hoá tiêu biểu quy định thị hiếu văn
hoá của các dân tộc. Văn hoá dân tộc đợc hình thành và phát triển cùng với các
dân tộc, đó là nét văn hoá độc đáo về ăn, mặc, ở, lao động, phong tục tập quán,
lễ hội... Cùng với bản sắc văn hoá dân tộc.
Bản sắc văn hoá chính là tính đặc thù dân tộc của nền văn hoá. Đó là những
tinh thần cốt lõi của mỗi dân tộc, là cốt cách dân tộc đợc lu giữ thể hiện trong
văn hoá. Bản sắc văn hoá dân tộc làm cho văn hoá các dân tộc giữ đợc sắc thái
riêng, không trở thành cái bóng của dân tộc khác trong xu thế hội nhập toàn cầu.
I.3. Bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam.
Trong lịch sử dựng nớc và giữ nớc dân tộc ta đã phải trải qua nhiều khó
triển theo từng giai đoạn khác nhau. Các dân tộc không ngừng vận động, tiến
hoá theo quá trình vận động, phát triển của lịch sử. Vì vậy, những bản sắc dân
tộc cũng luôn tiến hoá và tính dân tộc không phải cứ nh thế ở trong một thời kỳ
lịch sử nhất định. Dân tộc tiến hoá theo quy luật kế thừa và phát triển.
Hai hình thái này không tách rời riêng biệt nhau, mà thống nhất, đi đôi với
nhau. Dân tộc ở trong thời kỳ phát triển này, không thể cứ tiếp thu nguyên nh cũ
và lặp đi lặp lại. Bất cứ cái gì cũng cần đợc biến đổi cho phù hợp với những điều
kiện hiện tại.
Mỗi dân tộc có những truyền thống riêng đó là bản sắc, là tính cách, nét
sinh hoạt riêng của dân tộc đợc phát huy đến một trình độ rất cao, có một hiệu
lực rất lớn ở một thời kì lịch sử và từ đó cho đến sau này trở thành bài học, tấm
gơng, kinh nghiệm cho đời sau tiếp tục noi theo nh: truyền thống chống giặc
ngoại xâm, hiếu học, cần cù, chịu thơng chịu khó, lao động sáng tạo...
Nh vậy, truyền thống đợc lu truyền rất lâu, hay một thời gian nào đó rồi mai
một tởng nh gần mất đi vì những điều kiện sinh hoạt của dân tộc thay đổi với
những điều kiện mới ấy, thì truyền thống cũ kia không còn thích hợp nữa. Nhng
đến thời kỳ lịch sử sau thì truyền thống đó lại đợc khôi phục trở lại, trong mỗi
giai đoạn của lịch sử, khi tiếp thu và sử dụng những truyền thống cũ thì nhân dân
đều cải biến nó cho phù hợp, chứ không phải giữ nguyên vẹn nội dung cũ. Trên
thực tế với tài trí, nghiên cứu, học tập, và vận dụng sáng tạo, truyền thống của
dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đa vào trong t tởng, lời nói và hành động của
mình, ví nh trong lời dạy cán bộ của Bác đó là: "Tận trung với nớc, tận hiếu với
dân", cần kiệm, liêm chính, chí công vô t. Đó là những truyền thống quý báu, và
tốt đẹp lâu đời của dân tộc ta. Nhng nội dung: Trung, Hiếu, cần, kiệm, liêm,
13
Chuyên đề tốt nghiệp
Nông Văn Tú 42B
thể lẫn đợc, khi nhìn vào đó là chúng ta biết ngay là dân tộc nào. Nh vậy những
nét riêng đó đã tạo thành bản sắc văn hoá dân tộc, Mỗi dân tộc đều phải có đợc
14
Chuyên đề tốt nghiệp
Nông Văn Tú 42B
những cái chung của mình từ đó mới tạo ra những cái riêng trở thành bản sắc văn
hoá dân tộc (điển hình nh: tiếng nói, chữ viết, phạm vi lãnh thổ, phơng thức sinh
hoạt kinh tế, chính trị...) khi đã có đợc những nét chung thì sẽ tạo thành một đặc
thù riêng của những ngời có những cái chung, tạo thành bản sắc văn hoá dân tộc.
II.2. Tổ chức văn hoá UNESCO với văn hoá dân tộc.
UNESCO là tổ chức về văn hoá - khoa học - giáo dục của Liên hiệp quốc.
Những vấn đề mà UNESCO đa ra đều mang tính chất toàn cầu để định hớng
cho các quốc gia, dân tộc căn cứ vào đó để thực hiện.
Trong lĩnh vực văn hoá UNESCO đã đa ra nhận định và định nghĩa về văn
hoá nh sau:
(M Bow Amodo - Nguyên Tổng giám đốc UNESCO) đã nói nh sau:
"Văn hoá là yếu tố cơ bản cho sức sống của một dân tộc, nó tổng hợp những
hoạt động sáng tạo của một dân tộc, những phơng thức sản xuất và sở hữu,
những của cải vật chất, những hình thái tổ chức, những tín ngỡng và những đau
khổ, những sự nghiệp đang làm và những giải trí, những ớc mơ và khát vọng".
Từ những yếu tố này đã bao hàm ở trong đó nhiều nội dung. Văn hoá là sự
phát triển tự thân và tất yếu, mang tính xã hội cao, do nhu cầu tồn tại của con ngời. Văn hoá là phơng thức hoạt động không ngừng nâng cao các phơng thức theo
tiến triển của xã hội.
Trong cái chung về phơng thức hoạt động có cái riêng về công cụ cho sinh
hoạt hàng ngày.
Từ mặt đó vai trò sáng tạo và giá trị nhân văn để trở thành cốt lõi của văn
con ngời và tự nhiên; truyền thống hiện đại; của cá nhân và cộng đồng; của dân
tộc và tộc ngời; của dân tộc và quốc tế; của hình thức và nội dung. Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã nhấn mạnh: Trong công cuộc kiến thiết nớc nhà, có 4 vấn đề cơ
bản coi là quan trọng ngang nhau: Chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội.
T tởng coi trọng ngang nhau cả kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội trong
tiến trình xây dựng xã hội mới có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất sâu sắc. Trong
tiến trình phát triển của xã hội, có những vấn đề nảy sinh cấp bách, chúng ta cần
phải giải quyết, song quyết không thể duy nhất hoá, chỉ tập trung giải quyết các
vấn đề trớc mắt mà không nghĩ đến toàn cục, đến các mối liên hệ phổ biến, đến
sự phát triển lâu bền. Quan điểm về sự phát triển toàn diện của Chủ tịch Hồ Chí
Minh luôn cảnh báo về tính phiến diện, tính cục bộ trong quá trình nhân dân ta
xây dựng xã hội mới.
Tuy nhiên, quan điểm toàn diện trong triết lý phát triển của Chủ tịch Hồ
Chí Minh không phải là cách xem xét sự vật, hiện tợng theo số lợng các đơn vị
bên ngoài và ngợc lại nó xem xét đối tợng từ các mối liên hệ bên trong khi Chủ
tịch Hồ Chí Minh nói rằng: Kiến thiết xã hội phải coi trọng ngang nhau cả kinh
16
Chuyên đề tốt nghiệp
Nông Văn Tú 42B
tế, xã hội, văn hoá, không có nghĩa rằng mỗi bộ phận đó của xã hội tách rời
nhau, càng không có nghĩa không có cái nào là cơ sở, là cơ bản . Theo Chủ tịch
Hồ Chí Minh: Văn hoá là kiến trúc thợng tầng, những cơ sở hạ tầng của xã hội có
kiến thiết rồi, văn hoá mới kiến thiết đợc và đủ điều kiện phát triển đợc.
Rõ ràng là Chủ tịch Hồ Chí Minh không những đồng nhất kinh tế, chính
trị, văn hoá, xã hội mà còn coi tính quyết định của cơ sở hạ tầng đối với sự phát
triển của văn hoá. Trong t tởng Hồ Chí Minh, các quan hệ kinh tế có vai trò to
lịch sử và vai trò sáng tạo của quần chúng nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho
rằng: Trong bầu trời này không gì quý bằng nhân dân, trong thế giới này không
có gì mạnh bằng lực lợng đoàn kết của nhân dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh thờng nhắc nhở: Dễ trăm lần không dân cũng
chịu, khó vạn lần dân liệu cung xong. Vì thế trong t tởng của mình, dù giải
quyết bất cứ một vấn đề gì, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng gắn với sức mạnh đại
đoàn kết của nhân dân. Nhân dân tin tởng, nhân dân bàn bạc, nhân dân thực hiện
là quy luật phát triển của xã hội của nền văn hoá mới Việt Nam.
Văn hoá là là thể hiện trình độ của con ngời trong tất cả các mối quan hệ,
con ngời là trung tâm của văn hoá. Trong tiến trình xây dựng xã hội mới, ngời đã
đề ra chiến lợc: Vì lợi ích mời năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng ngời.
Trong t tởng văn hoá của Hồ Chí Minh, con ngời là vốn quý nhất của xã hội, cần
thiết phải quan tâm toàn diện đến xã hội, không chỉ quan tâm đến đạo đức lối
sống của thanh niên, Ngời đã xây dựng các chiến lợc giáo dục nhằm nâng cao
dân trí cho nhân dân để nhân dân có điều kiện mở rộng khả năng sáng tạo và hởng thụ văn hoá. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: Muốn xây dựng chủ nghĩa
xã hội trớc hết phải có con ngời xã hội chủ nghĩa. Đó là những ngời có sự giác
ngộ về lý tởng nhân văn sâu sắc, có đạo đức trong sáng, tích cực tham gia hoạt
động xã hội, đó là những ngời vừa hồng, vừa chuyên, vừa có đức, vừa có tài, là
con ngời phát triển toàn diện. Xã hội nào có những con ngời nh thế thì đó là một
xã hội có văn hoá cao.
Trong t tởng của mình, Ngời cho rằng một nền văn hoá mới nh nớc ta phải
do Đảng lãnh đạo. Vì thế bản chất của nền văn hoá lấy con ngời làm trung tâm
hoà quyện và thống nhất với lý tởng của Đảng.
Để lãnh đạo nền văn hoá, nhất thiết phải xây dựng văn hoá Đảng, đó là:
Thắng không kiêu, bại không nản, cần- kiệm- liêm- chính- chí- công- vôt, đó là
biểu hiện của những con ngời có đạo đức cách mạng và lý tởng xã hội chủ nghĩa.
Văn hoá là sản phẩm của quá trình hoạt động tích cực của con ngời cải tạo
tự nhiên, xây dựng xã hội. Văn hoá gắn với đất và nớc, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho
rằng: Văn hoá gắn trực tiếp với quá trình cách mạng của nhân dân ta. Trong tiến trình
đó, văn hoá giữ vai trò nền tảng trong đời sống tinh thần của xã hội, văn hoá gắn liền
Đoàn kết, hợp tác bình đẳng với các tổ chức thanh niên tiến bộ trên thế giới.
Lịch sử của dân tộc Việt Nam đã trải qua nhiều biến đổi, thăng trầm của hơn
4000 năm dựng nớc và giữ nớc, với rất nhiều hy sinh xơng máu của cha ông để
đánh thù trong, giặc ngoài giữ vững chủ quyền quốc gia và xây dựng đất nớc
giàu mạnh.
Ngày nay, thế hệ trẻ thanh niên là những ngời đợc thừa hởng những thành
quả đó, là những ngời kế tục sự nghiệp cách mạng của dân tộc, hơn nữa họ là
những chủ nhân tơng lai của dân tộc, của nền văn hoá nớc nhà. Với vai trò lịch
19
Chuyên đề tốt nghiệp
Nông Văn Tú 42B
sử vô cùng quan trọng đó, cộng với tinh thần, sự năng động, sáng tạo, xung kích
đi đầu trong mọi lĩnh vực. Thế hệ trẻ của Việt Nam phải biết giữ gìn và phát huy
phát triển nền văn hoá của dân tộc mình, ngày càng làm phong phú, làm đẹp
thêm cho bản sắc văn hoá của dân tộc. Đặc biệt trong xu thế hội nhập toàn cầu
hiện nay, trong đó có hội nhập về văn hoá. Nhờ đó các lớp thanh niên trẻ của
Việt Nam đều đợc giao lu, học hỏi, tham khảo về văn hoá của các quốc gia, của
nhân loại. Từ đó làm phong phú thêm nét đẹp văn hoá của dân tộc Việt Nam, tuy
nhiên, chúng ta hội nhập, hoà nhập nhng không hoà tan, đổi mới chứ không đổi
mầu, không biến chất, mà vẫn giữ đợc bản sắc riêng. Nhng, cùng với sự phát
triển, hội nhập của đất nớc thì vẫn còn nhiều thanh niên đã không biết thừa kế,
gìn giữ, phát huy bản sắc của dân tộc mình và dần lãng quên đi những nét đẹp
văn hoá đó. Nhiều thanh niên hiện nay còn ít mặc những trang phục nh váy Tày,
xoè Thái, thổ cẩm.... hay không biết hát, múa các điệu múa của dân tộc mình.
Nếu có thì chỉ mặc vào các ngày lễ lớn trong năm, hay dịp gì đó quan trọng, đây
quả là một điều trở ngại, một điều không tốt, ảnh hởng không nhỏ đến sự nghiệp
chạy theo những cái mới lạ một cánh quá đà thiếu suy nghĩ và chọn lọc. Có bạn
trẻ cho rằng đã là vui chơi, giải trí thì phải Thả phanh, việc gì phải Xét nét
nh vậy. Chúng ta khẳng định rằng các hoạt động văn hoá là hớng tới hoàn thiện
nhân cách con ngời. Các hoạt động văn hoá, vui chơi, giải trí lành mạnh góp
phần nâng cao con ngời lên, còn những hành vi hoạt động phi văn hoá hạ thấp
con ngời xuống. Để các bạn trẻ biết tiếp thu cái mới có chọn lọc trớc hết cần
phải tăng cờng giáo dục thẩm mỹ, giáo dục văn hoá truyền thống, giúp họ có vốn
kiến thức và vốn sống, công tác nghiên cứu những vấn đề, trào lu văn hoá mới,
phân định rõ cái nào có thể tiếp thu, cái nào phải ngăn chặn, có vai trò rất quan
trọng để tìm ra một hớng đi đúng đắn, thuyết phục không thể để xảy ra tình trạng
tự chọn Món ăn nhiều đến hoa mắt một cách tự phát đẻ rồi Ngộ độc mà
không biết.
Vậy, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Bình Gia phải làm gì để giữ gìn và phát
huy bản sắc dân tộc. Với vai trò quan trọng đó, Ban Chấp hành Đoàn Bình Gia
phải tích cực, trực tiếp giáo dục, tuyên truyền cho đoàn viên thanh niên của mình
trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, đa ra các giải pháp thực
hiện hiệu quả vấn đề đó.
21
Chuyên đề tốt nghiệp
Nông Văn Tú 42B
Chơng II
Thực trạng của việc giữ gìn
và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc
I. Vài nét về vị trí địa lý, điều kiện kinh tế - chính trị,
văn hoá - xã hội
Nông Văn Tú 42B
lâm nghiệp và công nghiệp thơng mại dịch vụ, thờng xuyên tăng cờng, nâng cao
nghiệp vụ, trình độ cho cán bộ an ninh, lực lợng vũ trang trong công tác bảo vệ
an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn . Tình hình an ninh chính trị trên địa
bàn đợc giữ vững, trật tự an toàn xã hội ổn định, tội phạm hình sự sảy ra 15 vụ,
tăng 5 vụ so với cùng kỳ, thực hiện thu hồi vũ khí vật liệu nổ đợc trên 1.300 khẩu
súng các loại, tuy nhiên các loại tội phạm còn nhiều diễn biến phức tạp, tình
trạng khai thác vận chuyển lâm sản trái phép vẫn sảy ra... Công tác tuyên truyền
phổ biến giáo dục pháp luật đợc quan tâm. Công tác giải quyết đơn th khiếu nại,
tố cáo, tiếp nhận và giải quyết kịp thời các vụ việc an ninh khu dân c đảm bảo
giữ gìn an ninh trật tự khu dân c, thôn bản.
Bình Gia đã chủ động quan tâm đặc biệt đến vấn đề giáo dục và đào tạo,
quy mô giáo dục tiếp tục đợc phát triển, chú trọng nâng cao chất lợng giáo dục
theo tinh thần Chỉ thị 40 của Ban thờng vụ Tỉnh uỷ; phổ cập tiểu học năm 1997,
phổ cập trung học cơ sở đợc 15/20 ; 1 trờng tiể học đạt chuẩn quốc gia. Kết qủa
năm 2006- 2007, duy trì sĩ số các bậc học đạt trên 98%, xét thi tốt nghiệp lớp 5
đạt 100%, lớp 9 đạt 99,6%, thi tốt nghiệp THPT đạt 76%, THBT đạt 57%. Công
tác PCGDTH đúng độ tuổi, phổ cập THCS, tổ chức trung tâm học tập cộng đồng
và xây dựng trờng đạt chuẩn quốc gia đợc quan tâm chỉ đạo thực hiện. Hoàn
thành công tác bồi dỡng hè cho giáo viên, tổ chức ngày toàn dân đa trẻ đến trờng
và khai giảng năm học đúng quy định.
Công tác phòng dịch, và chữa bệnh chăm sóc sức khoẻ cho bệnh nhân đợc
duy trì tốt, đảm bảo, thờng xuyên. Đẩy mạnh thực hiện các chơng trình mục tiêu
quốc gia, chỉ đạo kiểm các cơ sở hành nghề t nhân, kiểm tra vệ sinh an toàn thực
phẩm, công tác phòng bệnh duy trì thờng xuyên, khám chữa bệnh đợc 71.256 lợt
ngời trong đó điều trị 8.606 lợt ngời, thực hiện khám chữa bệnh cho ngời nghèo,
các đối tợng chính sách, trẻ em dới 6 tuổi đúng quy định, tăng cờng hoạt động
tuyên truyền về dân số, kế hoạch hoá gia đình, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 0,4%.
Đến nay có 8/20 đạt chuẩn quốc gia về y tế . Công tác dân số và kế hoạch hoá
Nhân dân của Bình Gia đợc hởng thụ, kế thừa và phát huy bề dày truyền
thống anh hùng, cách mạng, tinh thần yêu nớc nồng nàn, đoàn kết cần cù trong
lao động sản xuất... của cha ông, các thế hệ đi trớc để lại, với các chiến dịch nh:
Bông lau biên giới, Khởi nghĩa Bắc Sơn, ải Chi Lăng... đã thể hiện ý chí chiến
đấu kiên cờng của nhân dân Bình Gia trong sự nghiệp đấu tranh chống giặc
ngoại xâm, giữ gìn, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia và nền văn
hoá của nớc nhà.
24
Chuyên đề tốt nghiệp
Nông Văn Tú 42B
Trong lịch sử đấu tranh bảo vệ chủ quyền biên giới toàn vẹn lãnh thổ của
mình, nhân dân các dân tộc Bình Gia, đã phải trải qua nhiều biến cố, khó khăn
và đầy gian nguy, nên nguy cơ bị xâm chiếm, bị đồng hoá rất có thể xảy ra. Nhng, với truyền thống yêu nớc nồng nàn, ý chí chiến đấu quật cờng, và sự đoàn kết
của các dân tộc, nhân dân các dân tộc Bình Gia đã bảo vệ, gìn giữ đ ợc độc lập,
chủ quyền, và bản sắc văn hoá của các dân tộc trong mình. Là một huyện miền
núi Bình Giá là nơi hội tụ của nhiều dân tộc với nhiều đặc trng văn hoá, phong
tục tập quán đa dạng, phong phú, nằm trong bản sắc văn hoá chung của dân tộc
Việt Nam. Nhân dân các dân tộc Bình Gia đều có bản sắc, đặc trng riêng, những
bản sắc, đặc trng văn hoá đó thể hiện trong văn hoá ăn, mặc, ở, lao động, giao
tiếp ứng xử, phong tục tập quán, ngôn ngữ, chữ viết... của họ. Các dân tộc này đợc hiểu là những dân tộc nhỏ trong dân tộc lớn Việt Nam. Và bản sắc văn hoá
của mỗi dân tộc đợc ví nh tế bào của dân tộc lớn Việt Nam. Cũng nh gia đình là
tế bào của xã hội. Nh vậy thì bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc là mỗi đơn vị, mỗi
yếu tố cấu thành, tạo nên bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam. Các đặc trng,
bản sắc đó càng làm phong phú, đa dạng thêm bản sắc văn hoá dân tộc Việt
Nam. Vì lẽ đó, việc gìn giữ, bảo vệ, và phát huy bản sắc văn hoá của các dân tộc
trên địa bàn Bìmh Gia là vấn đề rất quan trọng của các cấp, các ngành, lãnh đạo,