Nghiên cứu nồng độ NT - proBNP trên bênh nhân đái tháo đường type 2 có bệnh tim thiếu máu cục bộ (FULL TEXT) - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUÊ

BỘ Y TÊ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC

NGÔ THỊ MINH HIỀN

Nghiªn cøu nång ®é NT - proBNP trªn bªnh nh©n
®¸i th¸o ®êng type 2 cã bÖnh tim thiÕu m¸u côc bé

LUẬN ÁN CHUYÊN KHOA CẤP II

Chuyên ngành: NỘI KHOA
Mã Số: CK 62 72 20 40

HUÊ- 2015

MỤC LỤC


ĐẶT VẤN ĐỀ..................................................................................................1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU............................................................3
1.1. Đái tháo đường.....................................................................................3
1.2. Đái tháo đường và tim mạch................................................................4
1.3. Bệnh tim thiếu máu cục bộ...................................................................8
1.4. Suy tim ở bệnh nhân đái tháo đường..................................................11
1.5. Các phương tiện cận lâm sàng đánh giá bệnh tim mạch trong
đái tháo đường...................................................................................12
1.6. Tình hình nghiên cứu nồng độ NT-proBNP trên bệnh nhân ĐTĐ.....23

Bảng 3.7: Nồng độ NT - proBNP theo BMI và vòng eo................................47
Bảng 3.8: Tỉ lệ THA........................................................................................47
Bảng 3.9: Nồng độ NT- proBNP theo THA....................................................48
Bảng 3.10: Kết quả kiểm soát glucose máu....................................................48
Bảng 3.11: Nồng độ NT- proBNP theo kiểm soát đường máu.......................49
Bảng 3.12: Thành phần lipid máu..................................................................49
Bảng 3.13: Nồng độ NT- proBNP theo thành phần lipid máu........................50
Bảng 3.14: Thành phần chỉ số sinh xơ vữa.....................................................50
Bảng 3.15: Nồng độ NT - proBNP theo chỉ số sinh xơ vữa............................51
Bảng 3.16: Chỉ số QTc....................................................................................51
Bảng 3.17: NT-proBNP phân bố theo QTc.....................................................52
Bảng 3.18: Tỉ lệ suy tim theo Framingham.....................................................52
Bảng 3.19: NT-proBNP phân bố theo suy tim theo tiêu chuẩn Framingham. .52
Bảng 3.20: Rối loạn vận động thành tâm thất trái trên siêu âm tim................53
Bảng 3.21: NT proBNP và rối loạn vận động thành tâm thất trên siêu âm tim...53
Bảng 3.22. Giá trị trung bình phân suất tống máu trên siêu âm tim................53
Bảng 3.23. Tỉ lệ rối loạn chức năng tâm thu thất trái dựa trên siêu âm tim (EF) 54
Bảng 3.24: Nồng độ NT-proBNP huyết tương phân bố theo rối loạn chức
năng tâm thu thất trái dựa vào EF.................................................54


DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH, BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 1.1. Cơ chế tổn thương tế bào cơ tim trong Đái tháo đường...................6
Sơ đồ 1.2. Tổng hợp và phóng thích Pepide thải Natri...................................18
Sơ đồ 2.1. Sơ đồ thiết kế nghiên cứu...............................................................32
Hình 2.1. Dạng sóng và các khoảng cách của điện tim...................................38
Hình 2.2. Phương pháp đo trên siêu âm TM theo ASE...................................41
Biểu đồ 3.1: Phân bố theo giới........................................................................43
Biểu đồ 3.2. Phân loại béo phì theo BMI........................................................46

hiện bệnh. Điều đó có nghĩa là biến chứng đã hình thành từ giai đoạn tiền đái
tháo đường [18]. Biến chứng tim mạch cũng là nguyên nhân gây tử vong của
hơn 75% bệnh nhân ĐTĐ trong đó nguyên nhân chính liên quan đến bệnh
mạch vành (BMV) chính vì thế bệnh ĐTĐ hiện nay được xem là một yết tố
nguy cơ độc lập của BMV, khoảng 20% bệnh nhân bị nhồi máu cơ
tim(NMCT) và 20% bênh nhân có hội chứng mạch vành không ổn định là
bệnh nhân ĐTĐ [22],[40 ].[8] Đái tháo đường làm tăng nguy cơ suy tim từ 2 5 lần so với người không đái tháo đường. Nhiều nghiên cứu dịch tễ học cho
thấy nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường cao hơn
so với người không bị đái tháo đường là 2- 3 lần ở nam giới và 3 - 5 lần ở nữ
giới. Chính vì vậy việc phát hiện sớm các yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân đái
tháo đường là hết sức quan trọng trong việc theo dõi điều trị cũng như phòng
bệnh [17].


2

Trong những năm gần đây với sự phát triển của chẩn đoán hình ảnh,
siêu âm tim đã trở thành phương pháp không xâm nhập, dễ sử dụng. Nó cho
phép thăm dò về hình thái và chức năng thất trái. Bên cạnh đó các nhà khoa
học đã tìm ra các peptide lợi niệu nhóm B, đặc biệt nồng độ NT-proBNP
huyết tương có vai trò trong chẩn đoán rối loạn hình thái và chức năng tim,
ước lượng độ nặng và tiên lượng suy tim [76]. Xét nghiệm này được phát
triển một cách nhanh chóng sẽ góp phần vào việc kiểm soát và điều trị suy tim
có hiệu quả hơn. Trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về dấu ấn sinh
học này, Pudil R ghi nhận nồng độ NT-proBNP liên quan một cách có ý
nghĩa với đường kính cuối tâm thu, cuối tâm trương thất trái và phân suất
tống máu. Theo Tschope C, nồng độ NT-proBNP huyết tương là một yếu tố
dự báo độc lập của rối loạn chức năng tâm trương [29].
Tại Việt Nam cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế - xã hội, tỉ lệ
mắc bệnh đái tháo đường đang có chiều hướng gia tăng [5]. Việc định lượng

triệu người hay 7% dân số mắc bệnh vào năm 2005.[29] Theo dự báo đến
năm 2025 trên thế giới có khỏang 333 triệu người bị ĐTĐ type 2 chiếm 85 90 %, trong đó ở các nước đang phát triển chiếm 75%, nhiều nhất ở độ tuổi 45
- 64 [1]. Tỉ lệ mắc ở Việt Nam hiện nay khoảng 3,5 % trên toàn quốc và các
thành phố lớn là 5,5 %[4]
Biến chứng cấp tính của ĐTĐ bao gồm các loại hôn mê (hạ đường
huyết, toan cetone, quá ưu trương, toan acid lactic). Biến chứng mãn tính như
nhiễm trùng (nhiễm trùng da, lao, nấm), mạch máu lớn (bệnh mạch vành, tai
biến mạch máu não, mạch máu ngọai biên), mạch máu nhỏ (bệnh võng mạc,
thận, thần kinh)[4]. Biến chứng mạn tính thường thấy ở người lớn tuổi khi mới
phát hiện chiếm tỉ lệ 10 - 20 % bệnh lý võng mạc, thận và 10 % biến chứng tim
mạch và thần kinh. Trong đó bệnh tim mạch là nguyên nhân chính gây tử vong ở
người ĐTĐ[29]. Bệnh lý tim mạch chiếm phần lớn tỉ lệ tử vong ở BN ĐTĐ, biến
chứng mạch máu nhỏ như thận, thần kinh, võng mạc và mạch máu lớn như là xơ


4

vữa động mạch vành, não, ngọai biên chiếm tỉ lệ xấp xỉ 80% tỉ lệ tử vong và 75
% tỉ lệ nhập viện ở bệnh nhân đái tháo đường. [29]
Phân loại ĐTĐ: type 1(tự miễn, vô căn), type 2, ĐTĐ thai kỳ, đặc hiệu [4].
1.2. ĐÁI THÁO ĐƯỜNG VÀ TIM MẠCH
Khi nói đến ĐTĐ typ 2 người ta thường liên tưởng đến biến chứng tim
mạch. Thật vậy ĐTĐ typ 2 thường âm thầm, không có triệu chứng lâm sàng
trong một thời gian dài còn gọi là tiền ĐTĐ, nếu không được phát hiện. Khi
phát hiện tỉ lệ biến chứng tim mạch lên đến 50% bệnh nhân bao gồm NMCT,
suy mạch vành, THA, và đặc biệt bệnh cơ tim ĐTĐ ngày càng được y văn đề
cập nhiều hơn. [2]
1.2.1. Bệnh cơ tim Đái tháo đường
Bệnh cơ tim ĐTĐ được phát hiện đầu tiên bởi Rubler (1972). Trong
nghiên cứu đoàn hệ Framingham nhóm từ 35 - 64 tuổi, ĐTĐ làm tăng yếu tố

bào cơ tim phì đại có sự đề kháng với insulin [18]. Vào giai đoạn cuối của
bệnh thường biểu hiện bệnh cảnh suy tim sung huyết. Trên lâm sàng suy tim
sung huyết ở BN ĐTĐ thường gặp sau nhồi máu cơ tim nhiều hơn người
không bị ĐTĐ [19]. Theo Framingham suy tim sung huyết ở ĐTĐ tăng gấp 2
lần đối với nam và gấp 5 lần đối với nữ ở độ tuổi 45 - 75 so với nhóm không
ĐTĐ, không liên quan đến tuổi, tăng huyết áp, béo phì, bệnh mạch vành và
rối loạn lipid máu.
1.2.1.1. Rối loạn chuyển hóa tế bào cơ tim đái tháo đường
Tế bào cơ tim hoạt động co bóp thường xuyên đòi hỏi cung cấp năng
lượng dưới dạng ATP thông qua chuyển hóa glucose và acid béo nội bào.
Trong ĐTĐ, hàng loạt rối loạn xảy ra cơ bản là rối loạn chuyển hóa glucose
và acid béo. Thương tổn chính xảy ra trong cơ tim ĐTĐ là các hệ thống kiểm
soát chuyển hóa năng lượng. Đặc biệt sự thu nhận glucose vào nội bào, sự
oxy hóa glucose trong ty lạp thể đều bị giảm trong khi chuyển hóa acid béo lại
gia tăng [18].


6

Rối loạn chuyển hóa glucose ở cơ tim đái tháo đường: Tác dụng của
Insulin trên các tế bào đích (cơ tim, gan, tế bào mỡ) đều bị giảm sẽ làm gia
tăng nồng độ acid béo, cetone, tăng glucose và giảm hiệu quả vận chuyển
glucose vào tế bào cơ tim. Giảm nồng độ insulin và hoặc đề kháng của tế bào
đối với tác dụng của insulin làm tăng nồng độ acid béo, thể cetone dẫn đến
giảm thu nhận và oxy hóa glucose và lactate. Giảm thu nhận glucose vào nội
bào, giảm thoái biến glucose và oxy hóa pyruvate[18].
Rối loạn chuyển hóa acide béo: Do nồng độ insulin thấp hoặc do giảm
tác dụng sinh học của insulin (đề kháng insulin) do thoái biến chất mỡ ở trong
tế bào mỡ ít bị ức chế làm gia tăng nồng độ acid béo tự do huyết tương. Điều
này dẫn đến sự gia tăng thu nhận acid béo tự do, thu nhận và oxy hóa glucose

thước của ổ nhồi máu [19].
1.2.1.3. Thay đổi cấu trúc cơ tim Đái Tháo Đường
Về phương diện giải phẫu bệnh lý, bệnh cơ tim ĐTĐ có thể nguyên
phát với sự lắng đọng glycoprotein và collagene bất thường trong tổ chức kẽ
của cơ tim làm gia tăng sự cứng cơ tim. Có tổn thương cơ chất ngoài tế bào


8

do sự tích lũy collagen không hòa tan và gia tăng tân sinh mạch máu ngoại
biên và xơ hóa tổ chức kẽ mà không có tổn thương động mạch vành và THA.
Có sự hiện diện chất glycoprotein trong thành các tiểu động mạch nhưng lại
không tìm thấy ở mao mạch. Về phương diện vi thể cơ tim bị xơ hóa từng
vùng và hiện tượng tiêu hủy các tế bào cơ lân cận, dày màng đáy mao mạch,
thâm nhiễm tế bào nội mạc và lắng đọng các chất mucopolysaccharide, các
phình vi mạch ở các tiểu động mạch vành trong cơ tim. Có sự gia tăng chết tế
bào theo chương trình, như thể là một trong những cơ chế góp phần vào dự
hậu xấu của BN ĐTĐ sau nhồi máu cơ tim [18].
1.3. BỆNH TIM THIÊU MÁU CỤC BỘ
Bệnh ĐTĐ là một bệnh lý nội tiết chuyển hóa chiếm 60 - 70% trong
nhóm các bệnh lý nội tiết theo Third Adult Treament Panel năm 2001 bệnh
ĐTĐ hiện nay được xem tương đương với BMV do tính chất hạn chế của dự
phòng và điều trị, bệnh thiếu máu cơ tim cục bộ đái tháo đường ngày càng
được y văn đề cập nhiều hơn. [6]
Bệnh tim thiếu máu cục bộ là các tổn thương cơ tim do giảm cung cấp
máu từ động mạch vành. Nguyên nhân chủ yếu là do vữa xơ động mạch,
ngoài ra còn có thể do co thắt, tổn thương động mạch vành do giang mai, và
một số nguyên nhân ít gặp hơn như: dị dạng động mạch vành, chấn thương,
hoặc tắc mạch do cục máu đông từ nơi khác đến... Đây là một nguyên nhân
chính gây tử vong ở các nước công nghiệp phát triển và trong những năm gần

sàng. Còn khi bị hẹp từ 50-70% thì có giảm dự trữ vành và có thể có các dấu
hiệu thiếu máu cơ tim khi gắng sức. Vì thế đây được coi là vùng “ im lặng ”
về lâm sàng. Chỉ khi động mạch vành bị hẹp từ 70-90% các dấu hiệu thiếu
máu cơ tim mới có thể xuất hiện khi nghỉ ngơi và nếu động mạch vành bị tắc
trên 90% hay tắc hoàn toàn thì nhồi máu cơ tim mới xuất hiện, tuy không phải
là tất cả.[18]


10

1.3.1. Rối loạn chuyển hóa cơ tim trong thiếu máu cơ tim cục bộ ở bệnh
nhân ĐTĐ
Thiếu máu cơ tim mức độ trung bình: Sự oxy hóa các cơ chất chuyển
hóa acid béo và glucose bị giảm, thoái biến glucose trở thành nguồn cung cấp
ATP chính. Lượng lưu trữ glucogen nội bào chuyển đổi để cung cấp cơ chất
nhằm thoái biến glucose.
Thiếu máu cơ tim mức độ nặng: Cơ tim không còn nguồn cung cấp
ATP nào khác ngoài sự thoái biến glucose, lưu lượng mạch vành bị giảm và
sự cung cấp glucose cho tế bào cũng giảm, glucogen nội bào lại được sữ
dụng. Sự kích thích đáng kể thoái biến glucose phối hợp với sự ức chế oxy
hóa glucose thông qua sự phân hủy sản phẩm ATP do thoái biến glucose kỵ
khí sẽ sản xuất một lượng proton (hay ion H+). Thật vậy, chính việc không
liên kết giữa thoái biến glucose và oxy hóa glucose sẽ tạo phần lớn các proton
trong quá trinhfthieeus máu cơ tim..[18]
Trong lúc thiếu máu lượng malonyl CoA cũng bị giảm song song với
sự hoạt động của chất CPT - I. Sự gia tăng hoạt động CPT - I và tăng nồng độ
acid béo ghi nhận trong quá trình thiếu máu vì thế sẽ phối hợp để cung cấp
cho chuyển hóa acid béo trong những điều kiện này. Điều này sẽ giải thích
một sự giảm đáng kể vè oxy hóa glucose, sản suất đáng kể proton và tiêu thụ
nhiều oxy mà khả năng có sãn thì lại hạn chế và hậu quả giảm hiệu quả

gồm rối loạn lipid máu, tăng huyết áp, tăng đông máu, béo phì, phản ứng
viêm là những thành phần liên quan hội chứng đề kháng insulin và được điều
hòa bởi các thụ thể hoạt hóa tân sinh peroxisome nhân (PPAR), hoạt hóa
PPAR gamma cải thiện nhạy insulin và chức năng nội mạc, làm giảm phản
ứng viêm và hạ huyết áp, (2) do xơ vữa động mạch vành đây là nguyên nhân
tiềm tàng gây suy tim trong 2/3 BN có rối loạn chức năng tâm thu thất trái.
Nhồi máu cơ tim do xơ vữa động mạch vành thường gặp ở BN ĐTĐ có thời
gian tiến triển kéo dài. Khi tổn thương cơ tim lan rộng, phần lớn cơ tim còn


12

lại mất chức năng biểu hiện suy tim mới bắt đầu và (3) do bệnh cơ tim ĐTĐ
đây là tổn thương đặc hiệu của ĐTĐ không liên quan đến BMV, THA ở BN
ĐTĐ[ 21].
Giải phẩu tử thi BN cơ tim ĐTĐ ghi nhận xơ hóa cơ tim lan tỏa nhiều
vùng, tuy nhiên tổn thương không có tổn thương đặc hiệu so với người không
ĐTĐ. Chi tiết đầu tiên bệnh cơ tim ĐTĐ được Rubler và cs mô tả ở 4 BN
ĐTĐ suy tim nhưng không có minh chứng bệnh tim. Thương tổn trên tim ở
BN tử vong là thất trái giãn kèm sẹo, thất trái phì đại kèm xơ hóa quang mạch
máu, tổ chức kẻ được thay thế tổ chức xơ lắng đọng glycoprotein.
Trên lâm sàng suy tim trên BN ĐTĐ là bệnh cảnh suy tim thường im
lặng với rối loạn CNTTr ban đầu và chỉ biểu hiện lâm sàng khi CNTT giảm
nặng. Khởi đầu suy tim tâm thu là rối loạn CNTTTTr ở BN ĐTĐ chỉ xảy ra
khi số lượng tế bào cơ tim bị mất chức năng đáng kể đặc biệt thường khởi phát
sau NMCT cấp ở BN ĐTĐ. Vì thế thời gian sống còn của BN ĐTĐ sau NMCT
tùy thuộc vào số lượng cơ tim bị hủy hoại và nhất là chức năng của phần cơ
thất trái còn lại sau nhồi máu. So với người không bị ĐTĐ, BN ĐTĐ thường có
nguy cơ cao về tỉ lệ mắc bệnh và tử vong do suy tim tại bệnh viện [21].
1.5. CÁC PHƯƠNG TIỆN CẬN LÂM SÀNG ĐÁNH GIÁ BỆNH TIM

được những vùng cơ tim bị giảm vận động thì có thể gián tiếp suy ra nhánh
động mạch vành nuôi dỡng nó bị tổn thương. Tuy nhiên để đánh giá mức độ
giảm vận động của từng vùng cơ tim không phải dễ dàng vì phụ thuộc khá
nhiều vào kinh nghiệm của người làm siêu âm, tuy ngày nay đã có thêm nhiều
kỹ thuật mới trong siêu âm như Harmonic thế hệ thứ 2, phương pháp định lượng âm (Acoustic Quantification- AQ), đặc biệt phương pháp siêu âm cản
âm cơ tim (Myocardial Contrast Echocardigraphy- MCE) và Doppler tổ chức
(Doppler Tissue Imaging- DTI) nên việc đánh giá thuận lợi hơn, Nhưng vẫn
chưa hoàn toàn chính xác. Mặt khác những vận động không bình thường của
các vùng cơ tim cần được phân tích cẩn thận. Người ta đánh giá vận động của
các vùng cơ tim theo các mức độ: bình thường, giảm vận động, không vận
động, vận động đảo Ngược và phình thành và cho điểm từ 1 (bình thường)


14

đến 5 (phình thành) theo tiêu chuẩn của hiệp hội siêu âm Mỹ (xem thêm trong
phần đánh giá chức năng thất trái). Riêng vận động đảo Ngược cần lưu ý vì có
một số bệnh lý tim mạch cơ tim bị vận động đảo ngược, nhưng không phải do
nguồn gốc từ động mạch vành như block nhánh trái, tăng áp động mạch
phổi... Cũng theo hội siêu âm Hoa Kỳ thất trái được chia thành 16 vùng. Căn
cứ trên các mặt cắt trục dài, trục ngắn cạnh ức trái, mặt cắt 4 buồng và 2
buồng tim để phân chia. Số thứ tự, tên của từng vùng và nhánh động mạch
vành nuôi dỡng theo bảng sau [29]:
Bảng 1.1: Phân vùng thất trái theo hội siêu âm Mỹ
Vị trí
Vùng nền tim

Vùng giữa tim

Vùng mỏn tim

Dới vách

Vành phải

6
7

Trước vách
Trước

Vành phải
Liên thất trước

8

Trước bên

Liên thất trước

9

Dới bên



10

Dới

Vành phải


Liên thất trước


15

Tuy nhiên trong các thể lâm sàng của bệnh tim thiếu máu cục bộ không
phải lúc nào trên siêu âm cũng thấy rối loạn vận động thành thất khi bệnh
nhân đang ở trong trạng thái nghỉ. Điều này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố,


16

trong đó quan trọng nhất là mức độ hẹp động mạch vành. Trong một số trường hợp có thể thấy giảm vận động, vị trí vùng giảm vận động này khá phù
hợp với điện tâm đồ và kết quả chụp động mạch vành. Những trường hợp
khác cơ tim có thể vẫn vận động bình thường, như vậy có thể nói nếu chỉ làm
siêu âm trong trạng thái bệnh nhân nghỉ ngơi giá trị chẩn đoán của siêu âm
không nhiều và càng không thể căn cứ vào kết quả siêu âm để kết luận bệnh
nhân có thiếu máu cơ tim hay không, ở đây giá trị chẩn đoán của siêu âm ít
hơn các phương pháp thăm dò khác như điện tim, phóng xạ và chụp động
mạch vành. Thông thường những biểu hiện rối loạn vận động chỉ thể hiện rõ
khi mức độ hẹp động mạch vành tương đối nặng. Ngược lại siêu âm sắng sức
có giá trị cao trong chẩn đoán các thể lâm sàng của bệnh cơ tim thiếu máu
cục bộ
+Đánh giá hình thái thất trái:
- Đánh giá chức năng tâm thu thất trái: Phân suất tống máu là thông số
thông dụng nhất và đáng tin cậy để đánh giá chức năng tâm thu của thất khi
nghỉ. Chỉ số co bóp không hoàn hảo do lệ thuộc gánh (tiền gánh, hậu gánh) và
tần số tim. Tuy nhiên nếu EF < 40 % thì không còn lệ thuộc nữa và có giá trị
nói lên giảm co bóp thất. Có thể đo EF dựa vào khác biệt thể tích, diện tích,

- Sự thanh thải NT- proBNP huyết tương: Sau khi phóng thích ra NTproBNP hình như mất đi cơ chế thanh thải chủ động và thải trừ qua các cơ
quan với lưu lượng máu nhiều (cơ, gan, thận). Tỉ lệ bài tiết thận của BNP và
NT - Pro BNP là như nhau và chỉ khoảng 15 - 20 %,[66].
- Cơ chế tiết và tác dụng của NT - proBNP: Tế bào cơ trong cả 4 buồng
tim thường bị tác động bởi các quá trình mà có thể gây tiết NT-proBNP như
căng, dãn, thiếu oxy. Các Peptid lợi niệu được phóng thích từ tâm thất khi áp
lực thất và thể tích máu tĩnh mạch trở về tăng lên[42]. Các Peptid lợi niệu làm
giảm thể tích máu qua tác động hiệp đồng ở não, thượng thận, thận và mạch
máu. Tại hệ thần kinh trung ương, nó ức chế sự thèm muối và cảm giác khát,


18

ức chế sự tiết vasopressin và corticotropin và giảm lưu lượng máu ở não. Tại
thận có sự tăng độ lọc cầu thận thông qua sự giãn tiểu động mạch đến và co
tiểu động mạch đi. Tại các ống góp vùng tủy thận, gia tăng các GMP vòng nội
bào làm ức chế kênh Natri và dẫn đến bài xuất Natri trong nước tiểu. Tác
dụng lợi tiểu này được tăng cường thông qua sự ức chế Renin, cũng như ức
chế tác dụng của Vasopressin trên ống góp. Trong hệ tuần hòan, NT -proBNP
có nồng độ thấp gây giảm sức cản ngoại biên và giảm huyết áp, khi nồng độ
cao sẽ gây tăng sức cản ngoại biên và tăng huyết áp.
pre - pro BNP 1-134
26 amino acide
pro BNP 1-108

NT - pro BNP 1-76

DPP -IV

BNP 1-32

peptide bài natri giúp chẩn đoán 4 giai đọan A, B, C, D của suy tim, đồng
thời giúp lượng định tiên lượng và theo dõi điều trị, có ích lợi để phát hiện rối
loạn chức năng thất trái [76], cũng như có giá trị tiên đoán âm tính để loại bỏ
nhanh các biến cố tim mạch ở BN ĐTĐ. Nó còn khả năng dự báo tử vong và
bệnh lý tim mạch mạnh hơn CRP [54]. Mặc dù hiện nay vai trò của NT- pro
BNP để tầm soát bệnh trong dân số BN có vẻ khỏe mạnh có nhiều triển vọng
nhưng vẫn còn mơ hồ, sử dụng NT - pro BNP để tầm soát các BN có nguy cơ
mắc bệnh tim cao (lớn tuổi, ĐTĐ, THA, hay đã biết có bệnh mạch vành sẵn)
có vẻ hợp lý và được khuyến khích. NT - proBNP có giá trị tiên lượng mạnh
ở những BN có nguy cơ như vậy. Gustafsson và cộng sự chứng minh giá trị
125ng /L có độ nhạy rất cao (97%), khả năng bỏ sót chẩn đoán suy tim là rất
thấp. NT-proBNP có độ nhạy cao với giá trị tiên đoán âm tính tuyệt vời để
loại trừ chẩn đoán suy tim một cách hiệu quả và ít tốn kém ở BN ngoại trú có
triệu chứng. NT-proBNP có trị số thấp hơn trên BN suy tim trong cộng đồng
so với BN có khó thở, triệu chứng gợi ý có suy tim cấp [29].
- NT- proBNP và phân độ suy tim chức năng theo NYHA: Mặc dù
việc phân độ suy tim theo NYHA là dựa vào triệu chứng chủ quan của người
bệnh, nhưng cho đến ngày nay nó vẫn là phương tiện chính được đánh giá
tình trạng lâm sàng của BN suy tim. Qua nhiều công trình nghiên cứu nhận


20

thấy NT - proBNP - một phương tiện khách quan có liên quan mật thiết với
phân độ NYHA [68].
- NT- proBNP là xét nghiệm tầm soát rối loạn hình thái & chức năng
thất trái[76]: NT-proBNP tương quan thuận với kích thước, thể tích và khối
cơ thất trái, đồng thời tương quan nghịch với EF và với các giá trị rối loạn
chức năng tâm trương. Cả 2 BNP và NT-proBNP đánh giá RLCNTT thất trái
nặng (EF ≤ 40 %) tốt hơn là RLCNTT vừa phải (EF ≤ 50 %)[65]. Mới đây

trương trên siêu âm tim có nồng độ BNP cao hơn có ý nghĩa so với người có
siêu âm tim bình thường. Giá trị của NT-proBNP tăng ở BN ĐTĐ sẽ gợi ý
rối loạn chức năng thất trái, bệnh động mạch vành và dự báo nguy cơ tử vong.
Trong khi sử dụng NT-proBNP để tầm soát bệnh trong dân số có vẻ khỏe
mạnh còn đang bàn cãi, thì việc sử dụng nó để tầm soát BN có nguy cơ cao
mắc bệnh tim (lớn hơn 60 tuổi, ĐTĐ, THA, bệnh mạch vành đã biết) có rất
nhiều triển vọng [29]. Siêu âm tim đượ sữ dụng như là tiêu chuẩn vàng để
chẩn đoán suy tim, nhưng ở những cơ sở chưa có siêu âm tim NT - ProBNP
được xem như là một công cụ chẩn đoán suy tim [69]
- Định lượng NT - pro BNP huyết tương:
+ Phân tích sinh hoá NT-proBNP được tiến hành bằng xét nghiệm miễn
dịch điện hoá phát quang ECLIA (Electrochemiluminescence immunoassay)
theo nguyên lý xét nghiệm bắt cặp. Dùng 2 kháng thể đa dòng để kết hợp
kháng nguyên tại vị trí đã bộc lộ là 1-21 và 39-50. Một vị trí được đánh dấu
với Biotin và vị trí khác được đánh dấu bằng phức hợp Ruthenium, để gắn với
NT-proBNP hình thành phức bộ kẹp. Sự phát hiện được hỗ trợ bởi chất
Streptavidin được đánh dấu vi mảnh. Phức hợp này sau đó được gắn kết thông
qua phản ứng Biotin-Streptavidin.
Thời kỳ ủ đầu tiên: kháng nguyên có trong mẫu thử (15 μl) kháng thể
đơn dòng đặc hiệu kháng NT proBNP được gắn với biotin, và kháng thể đơn



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status