Lời cảm ơn
Đề tài này được hoàn thành ngoài sự cố gắng của bản thân còn có sự
hướng dẫn tận tình của các thầy, cô giáo trong khoa cùng sự giúp đỡ của các
bạn sinh viên của lớp sư phạm kỹ thuật công nghiệp khóa 2009-2013.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Sư phạm Kỹ
thuật trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ
em trong suốt thời gian bốn năm học qua.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn đến PGS.TS Lê Văn Giáo, người đã
trực tiếp hướng dẫn, động viên và nhiệt tình giúp đỡ cho em hoàn thành đề tài.
Tuy nhiên, do kiến thức bản thân và thời gian thực hiện hạn chế nên
nội dung đề tài không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được
sự chỉ bảo, góp ý thêm của các thầy, cô giáo và các bạn để đề tài được
hoàn thiện hơn.
Một lần nữa em xin kính chúc các thầy, cô giáo lời chúc tốt đẹp và lời
cảm ơn chân thành nhất!
Huế, tháng 5 năm 2013
Sinh viên
Hoàng Thị Quỳnh
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển ngày nay, tri thức đóng vai trò
đặc biệt quan trọng. Và dạy học chính là cách hữu hiệu nhất giúp thế hệ trẻ lĩnh
hội tri thức, hình thành kỹ năng đáp ứng yêu cầu của xã hội. Để dạy học có thể
phát huy vai trò của mình, cần quan tâm đồng bộ đến các thành tố của nó, từ mục
tiêu dạy học, nội dung dạy học đến phương pháp, phương tiện dạy học. Sự quan
tâm này cần hướng đến người học như là trung tâm của hoạt động dạy học.
quốc lần thứ X đã xác định việc đầu tư cho giáo dục cũng có nghĩa là đầu tư
cho sự phát triển bền vững, là đầu tư cho nguồn nhân lực có chất lượng cao
nhằm đưa nước ta thành một nước công nghiệp vào năm 2020.
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của đất nước, nền giáo dục
Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể. Tuy nhiên, để đáp ứng nhu
cầu ngày càng cao của thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đòi hỏi
giáo dục đại học cần có sự đổi mới toàn diện và sâu sắc. Một trong những giải
pháp quan trọng là nhanh chóng đổi mới phương pháp dạy học đại học. Điều
40 của Luật giáo dục 2005 nêu rõ:
“Phương pháp đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học phải coi trọng
việc bồi dưỡng ý thức tự giác trong học tập, năng lực tự học, tự nghiên cứu,
phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kĩ năng thực hành, tạo điều kiện cho
người học tham gia nghiên cứu, thực hành, ứng dụng”.
Để đào tạo ra lớp người đáp ứng được yêu cầu đó, đổi mới phương
pháp dạy học (PPDH) theo hướng phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo
của học sinh, sinh viên (phương pháp dạy học tích cực) là cấp thiết hiện
nay. Một công cụ hỗ trợ đắc lực cho phương pháp dạy học tích cực là công
nghệ thông tin (CNTT) - một phương tiện dạy học hiện đại, hữu ích và hiệu
quả trong dạy học.
Đồng thời trong xã hội hiện nay, với sự phát triển nhanh chống và vượt
bậc của khoa học - công nghệ, kéo theo vốn tri thức của nhân loại cũng tăng
lên đáng kể. Để bắt kịp được với thời đại, người giáo viên phải cung cấp cho
học sinh một vốn kiến thức cần thiết và phù hợp. Nhưng vấn đề đặt ra là
trong khi lượng kiến thức đã tăng lên nhưng quỹ thời gian dạy học không
thay đổi. Vì vậy, đòi hỏi người giáo viên phải có phương pháp giảng dạy có
hiệu quả để khắc phục được vấn đề đó.
Cũng như tất cả các môn học khác ở nhà trường THPT, môn Công nghệ
cũng là một môn học mang tính chất trừu tượng. Muốn cho học sinh nắm bắt
được nội dung bài học thì trong quá trình truyền đạt kiến thức, người giáo
Thiết kế tiến trình dạy học một số bài cụ thể với các vật thể đã được vẽ.
5. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động dạy và học Công nghệ 11 ở trường phổ thông, trong đó đi sâu
khai thác và sử dụng phần mềm trong dạy học Công nghệ.
6. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung vào phần “Vẽ kỹ thuật” Công nghệ 11.
7. Phương pháp nghiên cứu
4
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Phương pháp thực tiễn
8. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, nghành công nghệ
thông tin cũng đang phát triển một cách rầm rộ, kéo theo sự ra đời của nhiều
phần mềm. Trong đó các phần mềm giáo dục cũng đạt được những thành tựu
đáng kể như: bộ Office, Cabri, Crocodile, SketchPad/Geomaster SketchPad,
Maple/Mathenatica, ChemWin, LessonEditor/VioLet...
Trong thời gian gần đây có nhiều đề tài nghiên cứu đưa công nghệ thông
tin vào dạy học nhằm nâng cao hiệu quả quá trình dạy học ở trường phổ thông
hiện nay. Chẳng hạn tác giả Phan Anh Gia Vũ với đề tài: “Nghiên cứu xây
dựng và sử dụng phần mềm dạy học cho chương trình động học và động
lực học lớp 10 phổ thông trung học”; Ngô Thị Phương Chi đã nghiên cứu đề
tài : “Khai thác và sử dụng phần mềm Electronic Workbench vào mô
phỏng các mạch khuếch đại công suất và ứng dụng vào dạy học môn công
nghệ 12”. Tác giả Nguyễn Thùy Dung đã khai thác và sử dụng phần mềm
Violet vào hỗ trợ dạy học chương động cơ đốt trong, thể hiện trong đề tài :
“Khai thác và sử dụng phần mềm Violet vào dạy học chương động cơ đốt
trong Công nghệ 11 THPT ”. Các tác giả đã sử dụng các phần mềm nhằm
phần vẽ kỹ thuật công nghệ 11
Chương III : Thiết kế tiến trình dạy học một số kiến thức trong phần
“vẽ kỹ thuật” Công nghệ 11
• Phần kết luận và đề nghị
6
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC CÔNG NGHỆ
Từ năm học 2008 – 2009 được chọn là “Năm học đẩy mạnh ứng dụng công
nghệ thông tin trong giáo dục”. Sau hai năm thực hiện, đến năm học 2010 – 2011
nghành giáo dục vẫn định hướng: tiếp tục chú trọng ứng dụng CNTT để đổi mới
phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá và ứng dụng trong công tác
quản lý chuyên môn. Đội ngủ giáo viên trong các nhà trường đã nhận thức được
rằng: ứng dụng CNTT để đổi mới phương dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá và
ứng dụng trong công tác quản lý chuyên môn là một trong những hướng tích cực
nhất, hiệu quả nhất. Song để ứng dụng CNTT hiệu quả trong giảng dạy thì công
việc đầu tiên và quan trọng đối với người giáo viên là phải biết thiết kế một bài
giảng điện tử (bài giảng có ứng dụng các hiệu ứng âm thanh, hình ảnh và các
siêu liên kết... trong giờ dạy).
Việc sử dụng các bài giảng có ứng dụng CNTT không những thực hiện chủ
đề của năm học do Nghành Giáo dục đưa ra mà còn góp phần nâng cao chất
lượng và hiệu quả giảng dạy, góp phần rút ngắn quãng đường tiếp cận nội dung
bài giảng một cách ngắn gọn và dễ hiểu nhất.
Việc sử dụng đúng cách các tiết dạy có ứng dụng CNTT có những ưu
điểm sau:
Đối với giáo viên:
động trí tuệ cũng như hành động vật chất; có ý trí khắc phục khó khăn để hoàn
thành nhiệm vụ; khả năng linh hoạt trong giải quyết các vấn đề nảy sinh trong
học tập…
Tích cực nhận thức trong học tập liên quan trước hết với động cơ học tập.
Động cơ học tập là cái mà vì nó khiến người ta học tập (trí tò mò, ham hiểu biết,
muốn làm vừa lòng người thân, muốn được tôn trọng, muốn được khẳng định
mình…).
Tính tích cực học tập về thực chất là TTC nhận thức, đặc trưng ở khát vọng
hiểu biết, cố gắng trí lực và có nghị lực cao trong qúa trình chiếm lĩnh tri thức.
TTC nhận thức trong hoạt động học tập liên quan trước hết với động cơ học tập.
Động cơ đúng tạo ra hứng thú. Hứng thú là tiền đề của tự giác. Hứng thú và
tự giác là hai yếu tố tâm lý tạo nên tính tích cực. Tính tích cực sản sinh nếp tư
duy độc lập. Suy nghĩ độc lập là mầm mống của sáng tạo. Ngược lại, phong cách
học tập tích cực, độc lập sáng tạo sẽ phát triển tự giác, hứng thú, bồi dưỡng động
cơ học tập.
8
Như vậy, tính tích cực trong học tập của HS là một trạng thái hoạt động của
HS được xuất hiện khi HS có động cơ, mục đích học tập đúng đắn, rõ ràng; có
nhu cầu học và cảm thấy hứng thú thú trong học tập.
Tính tích cực nhận thức trong học tập có các cấp độ từ thấp đến cao:
+ Bắt chước, cố gắng làm theo các mẫu hành động đã được quan sát.
+ Tìm tòi, độc lập giải quyết vấn đề, tìm kiếm những cách giải quyết khác nhau.
+ Sáng tạo, tìm ra giải pháp mới, độc đáo, hiệu quả.
1.1.2. Các dấu hiệu của tính tích cực nhận thức của HS
- Sự tập trung chú ý vào nhiệm vụ học tập.
- Khả năng định hướng nhanh vào mục tiêu học tập.
- Có các biểu hiện của sự hứng thú học tập.
vận động và phát triển.
1.1.4. Những dấu hiệu đặc trưng của các dạy học tích cực
- Dạy học thông qua việc tổ chức các hoạt động của HS.
Nghĩa là HS được và phải tham gia vào quá trình “làm ra” và “khám
phá lại” những tri thức cần học một cách tự giác, tự lực dưới sự hướng dẫn
của GV.
- Dạy và học chú trọng đến việc rèn luyện phương pháp tự học
Rèn luyện phương pháp tự học hơn là truyền thụ, tiếp thu tri thức; nghĩa
là coi tri thức là điều kiện là phương tiện cho việc rèn luyện phương pháp tự
học (mục tiêu cuối cùng của dạy học).
- Tăng cường tính tự lực của cá nhân
HS đồng thời chú trọng sự hợp tác, tương tác giữa các cá nhân trong nhóm,
lớp; nghĩa là quan tâm đến mục tiêu hợp tác, chung sống với cộng đồng.
- Kết hợp đánh giá của GV với tự đánh giá của HS:
Nghĩa là làm cho HS luôn tự ý thức được, khẳng định được kết quả, mục
tiêu hành động của mình.
1.1.5. Các biện pháp tích cực hoá HS trong dạy học ở trường THPT
Để tích cực hoá HS cần có những điều kiện nhất định (mục tiêu, chương
trình, cơ sở vật chất, phương thức kiểm tra - đánh giá….). Ở đây chỉ bàn đến một
yếu tố và ở mức độ cơ bản; đó là người dạy có thể và cần phải làm gì và làm như
thế nào để tích cực hoá HS trong dạy học.
Một trong những cơ sở của tích cực hoá HS là lý thuyết hoạt động trong
tâm lý dạy học – cho rằng con người phát triển trong hoạt động và thông qua
10
hoạt động. Do đó HS phải học trong hoạt động và bằng hoạt động. Luận điểm
khoa học là:
Mỗi một nội dung dạy học đều liên hệ mật thiết với những hoạt động nhất
đề, mối liên hệ mới cần phát hiện "tạo cho HS sự thành công" hiện nay GV
không chỉ dạy kiến thức mà còn phải dạy cho HS cách học. Thông qua đó các
11
em không chỉ biết tái hiện mà còn biết sáng tạo theo suy nghĩ của mình thông
qua kiến thức được tiếp nhận.
1.2.1.1. Về mặt lý luận
- Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học, rèn luyện tính tích cực, tư duy sáng
tạo của người học đã trở thành chủ trương của Đảng và nhà nước. Đổi mới
phương pháp dạy học là vấn đề được quan tâm hàng đầu và cũng là một vấn đề
bức xúc đối với tất cả các cấp học, bậc học ở nước ta hiện nay.
Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 khẳng định quan điểm định hướng cho
việc phát triển giáo dục và yêu cầu: “Phát huy tính độc lập suy nghĩ và sáng tạo
của HS, sinh viên, để nâng cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay
nghề” [3].
Từ những trích dẫn trên có thể khẳng định rằng quan điểm phát huy tính
tích cực, độc lập và sáng tạo là một nội dung trọng tâm của chính sách giáo dục
và quan điểm chỉ đạo giáo dục Việt Nam. Những quan điểm chỉ đạo này được
đặt ra cho toàn bộ hệ thống giáo dục phổ thông cũng như đào tạo đại học, xuất
phát từ những yêu cầu của xã hội, nhằm làm cho giáo dục đáp ứng được yêu cầu
ngày càng cao của xã hội trong việc đào tạo con người. Để thực hiện được những
quan điểm chỉ đạo này cần vận dụng những tri thức khoa học giáo dục, trước hết
là những quan điểm và PPGD tích cực.
- Đòi hỏi của xã hội tính quy định của XH đối với GD, biểu hiện cụ thể ở
các quy định trong Luật Giáo Dục, Nghị quyết/ Chỉ thị của Đảng, Quốc hội, Nhà
nước và của Ngành về mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục phổ thông…
- Sự phát triển không ngừng của KH và CN làm cho nội dung môn học
ngày càng gia tăng cả về chiều rộng và chiều sâu, xuất hiện mâu thuẫn với thời
lời câu hỏi hoặc tóm tắt nội dung theo hiểu biết của mình…).
+ Chưa kết hợp được sự đánh giá của GV với tự đánh giá của HS, đánh giá
của GV cũng mới chỉ thể hiện ở cuối bài (trong bước củng cố bài) chưa kết hợp
với đánh giá quá trình.
Nguyên nhân của tình trạng trên có thể có nhiều, trong đó một trong các
nguyên nhân khách quan là chương trình và nội dung bài dạy quá dài, GV sợ
cháy giáo án. Hơn nữa, nội dung này lại được trình bày khá đầy đủ, cặn kẽ và
tường minh trong giáo trình; các câu hỏi/ bài tập cũng chỉ ở mức đòi hỏi HS nhớ
lại nội dung đó là trả lời hoặc giải quyết được. Thành thử HS chưa cần cố gắng
và nghị lực cao trong hoạt động trí tuệ hoặc thể lực. Quá trình đó kéo dài làm
cho HS không có hứng thú học tập. Nghĩa là các em bị lâm vào trạng thái học
tập thụ động, thờ ơ với môn học.
13
1.2.2. Sự cần thiết đổi mới PPDH
Sự cần thiết đổi mới PPDH được tác động bởi những yếu tố sau:
Sự bùng nổ thông tin trên phạm vi toàn cầu, cùng sự phát triển của công
nghệ điện tử bắt đầu từ phương Tây, tạo áp lực thúc đẩy đổi mới phương pháp
dạy học. Theo G. Anderla, dẫn theo Thái Văn Hào [2008: 112], “kể từ thập niên
60 của thế kỷ XX, kiến thức khoa học của nhân loại chỉ cần khoảng thời gian
dưới 7 năm để tăng gấp đôi. Và khoảng thời gian ấy ngày càng được thu ngắn
lại” và “kể từ 1995, trung bình tối thiểu mỗi ngày có ít nhất 4000 tựa sách khoa
học không chỉ được phát hành mà còn được bổ sung vào thư mục ở các thư viện
của các đại học và trung tâm nghiên cứu”. Qua hơn hai thập niên mở cửa hội
nhập, những thành tựu vuợt bậc của công nghệ thông tin và truyền thông phương
Tây đã tạo điều kiện để Việt Nam nhanh chóng thiết lập kết nối với hệ thống
truyền thông quốc tế qua nhiều kênh khác nhau. Theo đó, một lượng tri thức
khổng lồ của nhân loại đã chuyển vào nước ta, tạo áp lực lớn cho ngành giáo dục
tạo ra hệ thống tiêu chí mới trong phương pháp giảng dạy hiện đại. Theo hướng
này, khái niệm dạy và học cũng được nhận thức lại.
Những thành tựu của công nghệ mới tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực
hiện đổi mới phương pháp dạy học.
Những phương thức dạy học có sự hỗ trợ của kỹ thuật điện toán trong giảng
dạy đã đạt hiệu quả hơn so với những phương thức đã có từ trước. Một số
phương pháp dạy học có sự trợ giúp của công nghệ mới như:
- Dạy với sự trợ giúp của máy tính (CBT: computer-based training hay
CBI: computer-based instruction);
- Dạy học dựa trên công nghệ web (WBT: web-based training). Phương
pháp này sử dụng gắn với phương pháp đào tạo trực tuyến (on-line learning).
Cũng từ nguyên do này mà cụm từ “on-line” được dùng với nghĩa tương đương
với internet.
- Dạy học dựa trên công nghệ internet (IBT: internet-based training).
Truyền thống
Chủ thể
trung tâm
Người thầy
Vai trò
người học
Thụ động
Thông tin
Người học
Chủ động
Hiện nay, các trường THPT đang thực hiện chương trình & sách giáo khoa
đổi mới. Đổi mới phương pháp dạy học có nhiều vấn đề đặt ra, trong đó dạy học
theo hướng tích cực và tương tác là một định hướng trọng tâm, là vấn đề cốt lõi
của đổi mới dạy học hiện nay.
Xét về mặt hình thức, phương pháp dạy học là cách thức, con đường, hệ
thống và trình tự các hoạt động mà GV sử dụng để tổ chức, chỉ đạo và hướng
dẫn HS nhằm đạt được mục tiêu dạy học đã định.
Từ những đổi mới về mục tiêu chương trình, kế hoạch dạy học đã nêu trên,
PPGD cần được đổi mới theo hướng sau:
+ Tăng cường trực quan, thực hành trong mỗi giờ học. Đối với các bài học
lý thuyết, GV hướng dẫn cho HS quan sát, phân tích những hình minh hoạ,
những số liệu dẫn chứng được trình bày trong SGK và các bảng biểu, hạn chế
kiểu dạy chay. Khi tổ chức cho HS thực hành, GV cần liên hệ các kiến thức với
thực hành hướng dẫn các thao tác chuẩn xác theo đúng qui trình, thực hiện đầy
đủ các bước trong qui trình hướng dẫn, tổ chức giờ thực hành theo hướng tạo
điều kiện cho HS hoạt động thực hành một cách tự giác, tích cực, sáng tạo.
+ Trong các giờ học, GV giữ vai trò là người hướng dẫn, tổ chức cho HS
thu nhận kiến thức, hình thành kỹ năng thông qua việc tổ chức giờ học dưới
nhiều hình thức tích cực như thảo luận theo nhóm, tổ; học trên lớp; học ngoài
thực tế, kết hợp học kiến thức với rèn kỹ năng, lý thuyết với thực hành thí
nghiệm, làm việc với sách giáo khoa… chú trọng hướng dẫn những vấn đề có
tính hành dụng cao để HS có thể vận dụng những kiến thức, kỹ năng đã học giải
quyết các vấn đề trong sản xuất hoặc trong cuộc sống hàng ngày.
Cốt lõi của việc đổi mới phương pháp hiện nay là làm thế nào để phát huy
được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS trong học tập, chống lại thói quen
16
học tập thụ động đang tồn tại phổ biến hiện nay. Nói cách khác là phải tích cực
gay gắt thì phát hiện sớm và giải quyết hợp lý những vấn đề nảy sinh trong thực
17
tiễn là một năng lực đảm bảo sự thành công trong cuộc sống, đặc biệt trong kinh
doanh. Vì vậy, tập dượt cho học sinh biết phát hiện, đặt ra và giải quyết những
vấn đề gặp phải trong học tập, trong cuộc sống của cá nhân, gia đình và cộng
đồng không chỉ có ý nghĩa ở tầm phương pháp dạy học mà phải được đặt như
một mục tiêu giáo dục và đào tạo.
Cấu trúc một bài học (hoặc một phần bài học) theo phương pháp đặt và giải
quyết vấn đề thường như sau:
- Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức
+ Tạo tình huống có vấn đề
+ Phát hiện, nhận dạng vấn đề nảy sinh
+ Phát hiện vấn đề cần giải quyết
- Giải quyết vấn đề đặt ra
+ Đề xuất cách giải quyết
+ Lập kế hoạch giải quyết
+ Thực hiện kế hoạch giải quyết
- Kết luận:
+ Thảo luận kết quả và đánh giá
+ Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết nêu ra
+ Phát biểu kết luận
+ Đề xuất vấn đề mới
Có thể phân biệt bốn mức trình độ đặt và giải quyết vấn đề:
Mức 1: Giáo viên đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề. Học sinh thực
hiện cách giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của giáo viên. Giáo viên đánh giá kết
quả làm việc của học sinh.
Mức 2: Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý để học sinh tìm ra cách giải quyết vấn
1
2
3
4
GV
GV
GV + HS
HS
GV
GV
HS
HS
GV
HS
HS
HS
HS
HS
HS
HS
GV
GV + HS
GV + HS
GV + HS
• Tổng kết trước lớp
- Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả
- Thảo luận chung
- Giáo viên tổng kết, đặt vấn đề cho bài tiếp theo, hoặc vấn đề tiếp theo trong bài.
Phương pháp hoạt động nhóm giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các
băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới, bằng
cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của
mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì. Bài học trở thành
quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải là sự tiếp nhận thụ động từ giáo viên.
Thành công của bài học phụ thuộc vào sự nhiệt tình tham gia của mọi thành
viên, vì vậy phương pháp này còn gọi là phương pháp cùng tham gia. Tuy nhiên,
phương pháp này bị hạn chế bởi không gian chật hẹp của lớp học, bởi thời gian
hạn định của tiết học, cho nên giáo viên phải biết tổ chức hợp lý và học sinh đã
khá quen với phương pháp này thì mới có kết quả. Cần nhớ rằng, trong hoạt động
nhóm, tư duy tích cực của học sinh phải được phát huy và ý nghĩa quan trọng của
phương pháp này là rèn luyện năng lực hợp tác giữa các thành viên trong tổ chức
lao động.Cần tránh khuynh hướng hình thưc và đề phòng lạm dụng, cho rằng tổ
chức hoạt động nhóm là dấu hiệu tiêu biểu nhất của đổi mới PPDH và hoạt động
nhóm càng nhiều thì chứng tỏ phương pháp dạy học càng đổi mới.
1.2.4.4. Phương pháp đóng vai
Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành một số cách ứng
xử nào đó trong một tình huống giả định.
Phương pháp đóng vai có những ưu điểm sau:
- Học sinh được rèn luyện thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái
độ trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn.
- Gây hứng thú và chú ý cho học sinh.
- Tạo điều kiện làm nảy sinh óc sáng tạo của học sinh.
- Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của học sinh theo chuẩn mực hành vi
đạo đức và chính trị – xã hội.
- Có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của
- Giáo viên nêu câu hỏi, vấn đề cần được tìm hiểu trước cả lớp hoặc
trước nhóm.
- Khích lệ học sinh phát biểu và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt.
- Liệt kê tất cả các ý kiến phát biểu đưa lên bảng hoặc giấy khổ to, không
loại trừ một ý kiến nào, trừ trường hợp trùng lặp.
- Phân loại ý kiến
- Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng và thảo luận sâu từng ý.
21
Tóm lại:
- Tích cực hoá hoạt động học tập của HS là một định hướng trung tâm, là
vấn đề cốt lõi của đổi mới PPGD hiện nay.
- Đổi mới dạy học theo hướng này đã có những cơ sở lí luận và cơ sở pháp
chế; đã bước đầu được triển khai trong việc xây dựng chương trình, SGK môn
học ở trường phổ thông, tạo tiền đề cho việc thực hiện.
- Đổi mới dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của HS còn
đang gặp một số khó khăn, trở ngại như cách nghĩ, cách làm của chúng ta hiện
nay chưa phù hợp (quan niệm về mục tiêu, nhiệm vụ dạy học: dạy kiến thức là
chính hay dạy cách học là chính? Nếu coi trọng đồng thời cả hai thì giải quyết
tâm lí ngại cháy giáo án như thế nào? Quan niệm về kỉ luật, trật tự trong lớp học
với việc tổ chức các hoạt động và thảo luận? Cách dạy, cách học phổ biến hiện
nay; cách kiểm tra, đánh giá trong giáo dục; lớp học quá đông, cơ sở vật chất
chưa đáp ứng mục tiêu đề ra...).
Cũng như GV, đối với HS việc chuyển từ thói quen, cách học thụ động
sang cách học chủ động, tích cực, độc lập và sáng tạo phải là một quá trình. Quá
trình đó không dễ thực hiện được ngay nhưng nó phải được định hướng và khởi
đầu từ phía người dạy.
1.2.5. Những đóng góp của phương pháp dạy học vào chất lượng dạy học
Dạy (teaching) theo quan điểm giáo dục hiện đại, không chỉ là việc
truyền thụ kiến thức, cung cấp thông tin đơn thuần mà chính là giúp cho
người học tự mình chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng và bồi dưỡng cảm
xúc. PPDHHĐ vẫn kế thừa lý thuyết dạy học truyền thống ở chỗ phải thực
hiện 4 đòi hỏi cơ bản:
- Có mục tiêu cụ thể được xác định dựa trên nhu cầu của người học;
- Có sự thiết kế chiến lược phù hợp với nhu cầu và thuộc tính của người
học, kể cả phương thức đánh giá về hiệu quả và chất lượng dạy học;
- Có các phương tiện dùng để dạy học, tức cơ sở vật chất và công nghệ
dạy học;
- Có khả năng xác thực, chứng nhận, đánh giá kết quả học của người học.
Kiến thức mà người học thu nhận qua PPDHHĐ được nâng lên về số lượng
và chất lượng. Về số lượng, lượng thông tin giáo viên chuẩn bị cho bài giảng
bằng PPDHHĐ bao giờ cũng đầy đặn và chu đáo hơn. Đây là ưu điểm nổi bật
của PPDHHĐ. Trong thời gian hữu hạn, làm chủ lượng tri thức và cung cấp tri
thức phù hợp với đối tượng là yêu cầu bắt buộc để các tiết giảng có chất lượng.
Xu hướng tăng các môn học do yêu cầu khách quan của thực tiễn xã hội đã dẫn
đến việc tính toán sát sao thời lượng cho từng môn học. Vì vậy, nếu không vận
dụng tốt, chứ đừng nói đến việc không sử dụng, các phương pháp trong
PPDHHĐ thì khó đạt mức đánh giá trên hài lòng của người học.
Về chất lượng, PPDHHĐ giúp người dạy chuyển tải kiến thức đến người
học bằng nhiều kênh, trong đó kênh nghe kết hợp kênh nhìn sẽ giúp người học
được khắc sâu kiến thức và nhớ lâu hơn. PPDHHĐ còn đòi hỏi cả thầy lẫn trò
phải kịp thời tiếp nhận, ứng dụng những thành tựu của thế giới bằng cách sử
dụng các thiết bị hỗ trợ hữu hiệu, đặc biệt là bằng các công nghệ hiện đại như
mạng internet, điện thoại di động vào trong dạy và học. Vì vậy, kiến thức trao
đổi, thu nhận luôn được cập nhật, bảo đảm tính hiện đại trong dạy học đồng thời
học bất cứ khi nào có thể, dạy và học ở bất cứ nơi nào có thể, dạy và học bằng
bất cứ phương tiện nào có thể.
PPDHHĐ nhằm tạo tiền đề để người học tiến tới tự học, tự đào tạo; từng
bước góp phần xây dựng môi trường xã hội học tập trong đó mỗi cá nhân phải tự
học tập suốt đời.
1.3. VAI TRÒ CỦA CNTT TRONG DẠY HỌC TÍCH CỰC
Thế giới hôm nay đang chứng kiến những đổi thay có tính chất khuynh
đảo trong mọi hoạt động phát triển kinh tế - xã hội nhờ những thành tựu của
CNTT. CNTT đã góp phần quan trọng cho việc tạo ra những nhân tố năng động
24
mới, cho quá trình hình thành nền kinh tế tri thức và xã hội thông tin và hiển
nhiên cũng tác động mạnh mẽ trực tiếp đến giáo dục.
- CNTT là một công cụ, phương tiện DH hiện đại hỗ trợ GV tổ chức,
hướng dẫn HS học tập, góp phần tích cực vào đổi mới PP, nâng cao chất lượng
môn học.
- CNTT là nguồn kiến thức đa dạng và cần thiết đối với cả GV và HS
trong quá trình dạy – học.
- Ứng dụng CNTT trong DH là một biện pháp quan trọng giúp HS tìm
hiểu sâu rộng kiến thức.
- Ứng dụng CNTT kết hợp với lời giảng sinh động trong DH góp phần
quan trọng vào giáo dục tư tưởng, tình cảm và thái độ cho HS.
- Ứng dụng CNTT trong DH có ý nghĩa tích cực vào phát triển khả năng
quan sát, trí tưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ. Trên cơ sở đó, giúp các em nhớ
kỹ, hiểu sâu bài học, hình thành mối liên hệ giữa thời gian, không gian, liên hệ
được kiến thức cũ với kiến thức mới, liên hệ được với các hiện tượng thực tế
trong cuộc sống.
CNTT luôn được đề cao trong công cuộc đổi mới giáo dục như là một môn