Khai thác và sử dụng tư liệu dân gian trong dạy học bài “cuộc khởi nghĩa lam sơn trên đất thanh hoá 1418 – 1423” - Pdf 44

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chon đề tài.
Khoa học lịch sử khác các ngành khoa học khác ở chỗ nền tảng các sự
kiện khoa học của nó được xây dựng, kiến lập qua các tư liệu lịch sử. Vì vậy, tư
liệu lịch sử có tầm quan trọng đặc biệt đối với khoa học lịch sử nói chung và đối
với các công trình nghiên cứu lịch sử nói riêng. Nếu ví các công trình nghiên
cứu lịch sử như một “cơ thể sống” thì sự kiện lịch sử là các “tế bào” tạo nên nó,
mà những tế bào đó là tư liệu lịch sử. Trong khi đó, tư liệu lịch sử rất phong phú
đa dạng, bên cạnh nguồn tư liệu thành văn, hiện vật, ngôn ngữ…thì tư liệu
truyện miệng dân gian cũng là một yếu tố quan trọng góp phần khôi phục hiện
thực lịch sử.
Con người chúng ta khi mới xuất hiện đã có ý thức về nguồn gốc, tổ tiên
của mình. Đúng như F.Angghen đã viết: “Lịch sử bắt đầu từ đâu thì quá trình
tư duy bắt đầu từ đó”[3:304]. Ngay từ thuở bé thơ thông qua những câu hát ru,
những câu chuyện cổ tích của bà, của mẹ đã hình thành nên những tri thức ban
đầu về quê hương.
Văn học dân gian là một nguồn tư liệu lịch sử quý báu, là sản phẩm của tư
duy, phản ánh những quan điểm của một tập đoàn người về bản thân mình, về
những sự kiện lịch sử, về mối quan hệ con người với thiên nhiên, xã hội đã mô
tả lịch sử xã hội qua các thời đại và trong những câu chuyện truyền thuyết, cổ
tích bao giờ cũng chứa đựng những hạt nhân hợp lí. Vì vậy, nếu ta biết khai thác
“gạn đục, khơi trong” thì có thể tìm thấy trong đó nhiều sự kiện lịch sử có giá
trị.
Lịch sử Thanh Hóa thế kỉ XV có vị trí quan trọng trong tiến trình lịch sử
dân tộc, phản ánh về một thời kì hào hùng của cuộc kháng chiến chống quân
Minh giành thắng lợi vẻ vang. Quá trình vận động ấy gắn liền với nhiều nhân
vật tiêu biểu trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn như: Lê Lợi, Lê Lai, Nguyễn
Trãi…và nhiều câu chuyện huyền thoại gắn liền với cuộc đời của họ.
Với những lí do trên, tôi thấy cần thiết phải chọn đề tài: Khai thác và sử
dụng tư liệu dân gian trong dạy học bài “Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn trên đất
Thanh Hóa (1418-1423)” làm đề tài nghiên cứu của mình với mong muốn góp

2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Lịch sử là những gì xảy ra trong quá khứ của xã hội loài người, vốn là
một hiện thực khách quan, tồn tại độc lập với ý thức chủ quan của người nhận
thức nó.
Lịch sử địa phương là một bộ phận của lịch sử dân tộc, có mối quan hệ
biện chứng không thể tách rời, nằm trong cặp phạm trù “Cái chung và cái
riêng”. Tri thức lịch sử địa phương là những biểu hiện cụ thể, sinh động, đa
dạng của tri thức lịch sử dân tộc, lịch sử địa phương là một bộ phận cấu thành
của lịch sử dân tộc. Trong khi đó, lịch sử luôn ở trạng thái vận động, trong cùng
một sự kiện có vô vàn cách đánh giá khác nhau. Vì vậy, tác giả đề tài thiết nghĩ,
việc bổ sung nguồn tư liệu dân gian để góp phần tìm hiểu thêm về một sự kiện
lịch sử là điều hết sức cần thiết. Khai thác nguồn tư liệu dân gian nhằm làm
sáng tỏ hơn các sự kiện, nhân vật lịch sử có liên quan, bởi sự hoạt động của các
nhân vật lịch sử bao giờ cũng gắn liền với một thời đại nhất định. Như Lê Lợi
luôn gắn liền với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống quân Minh thế kỉ XV.
Chính nhờ có nguồn tư liệu dân gian phong phú, giàu hình ảnh sẽ
giúp cho học sinh có cái nhìn gần gũi hơn, sinh động hơn về những người con
xứ Thanh anh dũng trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.
Khai thác và sử dụng nguồn tư liệu dân gian trong dạy học bài: “Cuộc
khởi nghĩa Lam Sơn trên đất Thanh Hóa (1418-1423)”, giúp các em hình thành
biểu tượng về người anh hùng dân tộc đã có công đánh đuổi quân Minh giành
lại độc lập cho đất nước mà tên tuổi và sự nghiệp cứu nước của ông sẽ sống mãi
trong lịch sử và trong lòng nhân dân.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
2.2.1.Tình hình chung.
Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu về địa phương cũng rất được
chú trọng. Liên Bang Nga là một trong những nước tiến hành nghiên cứu về lịch
sử địa phương từ rất sớm. Ở nước ta từ trước cách mạng tháng Tám đã có những
tài liệu nghiên cứu về lịch sử địa phương như các gia phả, thần phả, đinh bạ, địa
bạ…

các thế hệ học sinh bằng chính những giáo viên lịch sử đang sống và công tác
trên miền quê, xứ sở thân yêu của mình.
2.2.3.Thực trạng khai thác và sử dụng tư liệu dân gian trong dạy học lịch
sử địa phương ở trường THCS.
* Sơ lược về đặc điểm lĩnh vực nghiên cứu.
Trong những năm gần đây, nhiều địa phương trong cả nước đã chú trọng tới
việc biên soạn và giảng dạy lịch sử địa phương, tìm tòi và bổ sung để làm cho
nguồn tư liệu thêm phong phú.
Ở Thanh Hóa có một số công trình nghiên cứu về lịch sử Thanh Hóa (dùng
cho các trường THPH, CĐSP, THSP) của Hoàng Thanh Hải và Vũ Quý Thu
biên soạn và xuất bản năm 1996. Mới đây nhất là cuốn tài liệu Bồi dưỡng
thường xuyên cho giáo viên THCS (Lịch sử địa phương Thanh Hóa) của
Nguyễn Văn Hồ. Các tác giả đã khái quát tiến trình của lịch sử địa phương tỉnh
nhà qua từng thời kì lịch sử.
Ngoài ra, việc sử dụng tài liệu tham khảo còn được nói tới trong tuyển tập
“Sáng tác dân gian về Lê Lợi và Khởi nghĩa Lam Sơn” của Sở văn hóa thông tin
Thanh Hóa năm 1985.
Tuy nhiên, cho tới nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu hay một
sáng kiến kinh nghiệm nào đi sâu vào việc khai thác tư liệu dân gian nhằm cụ
thể hóa một số sự kiện, nhân vật của lịch sử địa phương Thanh Hóa trong giai
đoạn đầu của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1423). Đây cũng chính là nội
dung sáng kiến kinh nghiệm của tôi thực hiện nhằm kế thừa và góp phần phát
triển công tác giảng dạy lịch sử địa phương của tỉnh nhà.

4


Trong quá trình thực hiện đề tài này, tác giả nhận thấy có một số thuận
lợi và khó khăn như sau:
- Thuận lợi:

thế, việc tiếp cận với nguồn tư liệu dân gian của giáo viên và học sinh đều khó.
2.2.4. Một số vấn đề đặt ra trong khai thác và sử dụng tư liệu dân gian
trong dạy học bài “Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn trên đất Thanh Hóa (14181423)”.
a. Xác định được ý nghĩa của việc khai thác tư liệu dân gian trong dạy học
lịch sử địa phương Thanh Hóa.
Lịch sử địa phương ở trường phổ thông là một trong những nội dung quan
trọng làm phong phú trí thức của học sinh về quê hương mình, giáo dục cho các
5


em lòng yêu quê hương, hình thành những nghĩa vụ đối với quê hương, đồng
thời góp phần không nhỏ vào việc giáo dục tư tưởng chính trị, lao động, đạo đức
thẩm mĩ cho học sinh. Nó có vị trí quan trọng trong việc hình thành cho thế hệ
trẻ lòng yêu nước. Học sinh tự hào về đất nước, quê hương, dân tộc Việt Nam
bắt đầu từ lòng tự hào về những chiến công của cha anh mình đã làm nên ở
ngay trong làng xóm thân yêu khi đấu tranh chống kẻ thù xâm lược.
Một trong những nguyên tắc cơ bản của việc khai thác và sử dụng tư liệu
dân gian trong dạy học bài “Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn trên đất Thanh Hóa
1418-1423)”là phải xác định được những tư liệu đó có liên hệ với nhân vật lịch
sử và sự kiện lịch sử của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Những tài liệu này sẽ giúp
cho học sinh hiểu và giải thích được những nét riêng biệt, đặc thù của cuộc khởi
nghĩa trong giai đoạn đầu ở miền Tây Thanh Hóa.
Những tư liệu dân gian được sử dụng phải có tác dụng giáo dục lòng tự
hào về quê hương trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn với sự hi sinh anh dũng của
những người con xứ Thanh trong sự nghiệp giữ nước. Góp phần giáo dục truyền
thống tốt đẹp cho thế hệ trẻ mai sau.
b. Xác định vị trí, mục tiêu, lựa chọn nội dung cơ bản của phần kiến thức
cần giảng dạy.
- Về vị trí, mục tiêu:
Giai đoạn lịch sử Thanh Hóa trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1423)

Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn.
Thứ 3: Những câu chuyện kể về sự đóng góp của đồng bào Thanh Hóa
trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (cung cấp lương thực, vũ khí, sức người…)
2.3. Những nội dung của tư liệu dân gian cần khai thác để dạy học bài:
“Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn trên đất Thanh Hóa 1418-1423” Lịch sử địa
phương lớp 7-THCS.
2.3.1. Truyện Gươm thần Lê Lợi.
Sử dụng để cụ thể hóa những ngày đầu Lê Lợi tụ nghĩa trên đất Lam Sơn
(phần 1. Lê Lợi và hoạt động của nghĩa quân trên đất Thanh Hóa)
Hồi ấy, giặc Minh sang xâm chiếm và đặt ách đô hộ ở nước ta, nhân dân
khắp nơi ai cũng căm giận chúng. Lúc này ở làng Như Áng, xứ Du Sơn, huyện
Lương Giang, phủ Thanh Hóa có ông Lê Lợi là một hào trưởng được nhân dân
mến phục. Lê Lợi có sức khỏe, cơ mưu và giàu lòng từ thiện. Dân làng trong
vùng nghiệm thấy ở Du Sơn, sau rừng cây quế có một con hổ đen rất quen với
người. Đến khi Lê Lợi sinh ra, ngày mùng 6 tháng 8 năm Ất sửu thì không thấy
con hổ ấy nữa.Ai cũng cho là hổ đã thác sinh thành Lê Lợi, vì ông càng lớn,
càng khỏe, đi như rồng, bước như hổ, ăn uống gấp ba người thường. Tuy ở chốn
thôn quê hẻo lánh mà ông vẫn đọc sách, luyện võ rất đều. Lê Lợi căm gét quân
Minh nhưng ông còn đợi thời, thường trò chuyện với một số người tâm huyết
trong làng bày mưu, tính kế, cho cuộc khởi nghĩa ra quân.
Một hôm, người em họ của ông là Lê Thận đánh cá trên sông, gần bến đò
Mục Sơn; Thận thả lưới thấy nằng nặng, chàng khấp khởi mừng thầm chắc là
được cá to. Nhưng khi kéo lên lại là một thanh sắt. Chàng vứt luôn xuống nước
và đi thả lưới chỗ khác. Lạ thay, khi kéo lên lần thứ hai, vẫn thanh sắt ấy trong
lưới của chàng. Và rồi lần thứ ba cũng vậy. Lê Thận đem thanh sắt ấy về đánh
sạch mới biết đó là một thanh sắt quý. Trên thanh sắt có khắc 4 chữ Hán nhưng
mới rõ được 2 chữ đầu là :Thuận thiên (tức thuận lòng trời). Ít lâu sau, Lê Lợi
sang chơi, Lê Thận đưa thanh gươm cho xem, thì lạ quá, ánh hào quang rực lên,
và hai chữ Lê Lợi hiện sáng ngời sau chữ Thuận thiên; thuận thiên Lê Lợi.
Lê Thận cùng với mấy người có mặt hôm đó quỳ xuống nói với Lê Lợi:

hồ Tả Vọng được gọi tên là hồ Hoàn Kiếm. (Trọng Miễn biên soạn)
2.3.2. Sự tích câu “Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi”
Dùng để cụ thể hóa sự kiện Lê Lai liều mình cứu chúa năm 1418
Một lần Lê Lợi đánh nhau với giặc Minh trên núi Chí Linh, vì quân ít, giặc
lại quá đông nên nghĩa quân bị chúng bao vây rất riết. Bọn tướng giặc bắt bằng
được Lê Lợi thì mới tiêu diệt được cuộc khởi nghĩa. Quân Minh đông như kiến
cỏ, vây kín trong ngoài, một con chim nhỏ bay qua cũng không lọt được. Lúc
này lương thực thiếu thốn, thế trận cũng khó lòng cứu vãn. Tình thế thật nguy
ngập. Lê Lợi liền họp các tướng thân cận lại bàn cách đối phó và nói rằng: “Bây
giờ ai có thể làm được như Kỷ Tín ngày trước, thay ta chịu cho giặc bắt thì mới
giải được nguy này. Công đức ấy sau sẽ có sử xanh ghi chép”
Lê Lợi nói dứt lời thì một tướng đã đứng ra khảng khái nhận làm việc đó. Ấy
là Lê Lai. Lê Lai vốn người thôn Dựng Tú sách Đức Giang huyện Lương Giang.
Cả nhà ông đều tham gia nghĩa quân Lam Sơn ngay từ lúc đầu. Lê Lai xin làm
cái việc như Kỷ Tín ngày xưa. Lê Lợi còn dùng dằng chưa nở thì ông đã quỳ
xuống xin nhận lấy áo mũ của chủ tướng. Ông mang 500 quân và hai thớt voi
xông ra trận, tự xưng là chúa Lam Sơn thì giặc Minh tin ngay, kéo vây, bắt sống

8


đem về trại. Chúng dùng những hình phạt cực kỳ tàn ác hành hạ ông cho đến
khi chết.
Hôm Lê Lai chết vì nước, trời sầu đất thảm, mưa gió không thôi. Bọn giặc
Minh mừng vì đã bắt được bọ thủ lĩnh nghĩa quân nên không chú ý bổ vây như
trước, nhờ thế Lê Lợi và nghĩa quân đã rút xuống núi an toàn. Lê Lợi vạch
gươm lên núi thề sẽ báo thù cho Lê Lai và nhớ ơn ông mãi mãi.
Sau khi dựng nước, Lê Lợi nhớ công lao của Lê Lai, cho lập đền thờ, phong
chức tước cho Lê Lai và con cái ông. Đền thờ Lê Lai nằm trên một bãi đất cao
rộng, phía trước có hồ nhỏ, phía sau có lùm cây cổ thụ. Người ta truyền rằng.

Bài Xường – Đón đường mà theo
Thương thiết thương nồng
Sấm đông đùng đùng phía đồi bãi
Hay loài ong khóa bay vào thung
Mà đất Mường ta kìn kìn, lũ lũ
...............................................
Người kéo về dằng dặc
Người dước nhau đến ùn ùn
Từ đất đô Kỳ, đô Lam kéo đến
Rồi người kéo ra như ong như kiến
Người Mường cùng vác dao vác kiếm
Đi chật suối chất rừng
Để hòng giết giặc đang đến Mường xa cướp phá
(Theo sáng tác dân gian về Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn)
2.3.4. Phương pháp sử dụng tư liệu dân gian trong dạy học bài : “Cuộc
khởi nghĩa Lam Sơn trên đất Thanh Hóa (1418-1423)”. Lớp 7 THCS.
Sử dụng tư liệu dân gian để cụ thể hóa thêm một số sự kiện trong bài
“Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn trên đất Thanh Hóa (1418-1423)” cần phải tuân thủ
các nguyên tắc cơ bản của việc sử dụng tài liệu tham khảo để minh họa cho bài
học. Các tài liệu lựa chọn phải có ý nghĩa nhận thức, giúp cho học sinh hiểu
đúng, sâu sắc sự kiện lịch sử dân tộc xảy ra ở địa phương.Trên cơ sở đó, tôi xin
đề xuất một số biện pháp sử dụng tư liệu dân gian cho bài nội khóa và ngoại
khóa như sau:
2.3.4.1. Trong giờ nội khóa .
Để tiến hành tốt bài học trong giờ nội khóa, giáo viên phải xác định đúng
trọng tâm của bài học, sau đó hướng dẫn học sinh khai thác những tư liệu dân
gian có liên quan để làm nổi bật những mục tiêu của bài học. Đối với bài:
“Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đất Thanh Hóa 1418-1423”, giáo viên định hướng
để học sinh tìm hiểu về các câu truyện: tiểu sử Lê Lợi, Lê Lai và các tướng lĩnh
trong Bộ chỉ huy nghĩa quân, sự tích các địa danh (làng bản) liên quan đến cuộc

Chúng ta có thể chọn địa điểm tại khu di tích lịch sử Lam Kinh ở Thọ XuânThanh Hóa.
Trước tiên, giáo viên phải chuẩn bị bài soạn nội khóa tại thực địa tiếp đó cho
học sinh đi tham quan khu di tích, phòng bảo tàng của khu di tích trên cơ sở đó
đưa ra những câu chuyện minh họa thiết thực nhằm giúp các em hiểu sâu sắc
hơn về lịch sử địa phương cũng như lịch sử dân tộc. Ví dụ câu chuyện về Lê Lai
liều mình cứu chúa (giới thiệu thêm về đền Lê Lai ở Kiên Thọ -Ngọc Lặc), hay
lưỡi gươm của Lê Lợi được kéo lên ở dòng sông Chu…Giáo viên có thể kể tóm
tắt một vài câu chuyện dân gian để kích thích học sinh tìm hiểu.
b. Đọc sách lịch sử.
Giáo viên tổ chức cho học sinh đọc sách lịch sử, sưu tầm các câu chuyện
dân gian, thơ, ca dao, hò vè…có nội dung liên quan đến lịch sử địa phương
Thanh Hóa. Ví dụ: câu ca dao:
Ai lên Biện Thượng, Lam Sơn
Nhớ vua Thái Tổ cặn đường giặc Minh
Hay
Lạy trời cho cả gió lên
Cho cờ vua Bình Định bay lên kinh thành.
c. Nói chuyện lịch sử tại địa phương.
Nói chuyện lịch sử có thể được tiến hành trong những dịp địa phương có
những ngày lễ kỉ niệm, ngày truyền thống…Với những buổi học như vậy, giáo
viên sẽ hướng dẫn học sinh sưu tập tài liệu ( ví dụ giáo viên có thể chia thành
11


các nhóm lớp, nhóm sưu tầm những mẫu chuyện dân gian về Lê Lợi, nhóm
khác sưu tầm những mẫu chuyện về các tướng lính khác trong khởi nghĩa Lam
Sơn…) hướng dẫn các em lựa chọn tài liệu theo chủ đề, sau đó hướng dẫn cách
nhận xét, so sánh, đánh giá những vấn đề lịch sử. Trên cơ sở đó chúng ta có thể
rèn luyện được cách trình bày của học sinh.
d. Dạ hội lịch sử tại địa phương.

2.4.2. Phương pháp tiến hành thực nghiệm.
Chúng tôi chọn lớp 7A có 34 học sinh là lớp thực nghiệm và lớp 7B có 30
học sinh là lớp đối chứng.
Giáo án thực nghiệm

12


Tiết 55: CUỘC KHỞI NGHĨA LAM SƠN TRÊN ĐẤT THANH HÓA
(1418-1423)
I. Mục tiêu bài học
1. Kiến thức
- Học sinh nắm được những nét chính về Lê Lợi và hoạt động của nghĩa quân
trên đất Thanh Hóa.
-Những đóng góp của nhân dân Thanh Hóa trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.
2. Tư tưởng
-Thấy được tinh thần hi sinh, anh dũng, vượt qua gian khổ của nghĩa quân .
-Khắc sâu lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc. Biết ơn những người anh hùng,
những tấm gương dũng cảm chiến đấu giành độc lập cho quê hương.
- Bồi dưỡng cho học sinh tinh thần quyết tâm vượt khó để học tập, vươn lên.
3. Kỹ năng
-Trả lời câu hỏi, tham khảo các tài liệu để bổ sung bài học.
- Rèn thêm kĩ năng phân tích, so sánh, liên hệ thực tế…
II. Đồ dùng dạy học
- Lược đồ khởi nghĩa Lam Sơn
- Tranh ảnh, tư liệu về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
III. Dạy và học bài mới
1. Ổn định lớp
2. Kiểm tra bài cũ
? Trình bày những hiểu biết của em về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn mà em đã

? Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa trong
hoàn cảnh nào?
- Hs liên hệ phần bài 19-SGK
để trả lời
- GV KL, bổ sung
? Theo em, Hội thề Lũng Nhai có ý
nghĩa gì?
Gv nhấn mạnh về Hội thề Lũng Nhai
và những người con Thanh Hóa tham
gia Hội thề này.
K-G? Tại sao hào kiệt khắp nơi kéo về
tụ nghĩa?
(Sử dụng mục 2.3.3 của đề tài để minh
họa )
- Lê Lợi và nghĩa quân xây dựng căn
cứ địa vững chắc trong lòng dân…
GV treo lược đồ căn cứ Lam Sơn
(phần phụ lục) yêu cầu Hs lên mô tả
lại căn cứ trên lược đồ.
HS mô tả-> Gv chuẩn kiến thức
Gv treo lược đồ Cuộc khởi nghĩa Lam
Sơn, giới thiệu, yêu cầu HS quan sát.
Gv chia nhóm
GV hướng dẫn HS tìm hiểu về diễn
biến các trận đánh từ năm 1418-1424)
Gv kể về tấm gương hi sinh cứu chúa
của Lê Lai (sử dụng mục 2.3.2 của đề
tài)
HS theo dõi diễn biến tóm tắt do Gv
trình bày, sau đó dựa vào kiến thức đã


Lê Lợi cùng Bộ chỉ
huy nghĩa quân tổ chức
hội thề Lũng Nhai

7-2-1418

Lê Lợi xưng là Bình
Định Vương

1418

Nghĩa quân rút lên núi
Chí Linh (Lê Lai cứu
chúa)

……

…….

II. Đóng góp của nhân dân Thanh
Hóa trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn

14


hoàn thành nội dung của bảng
Gv chuẩn nội dung vào bảng
? Nhân dân Thanh Hóa có những đóng
góp gì cho cuộc khởi nghĩa Lam Sơn?

loại giỏi(8-10
điểm)

loại khá(6.5
-7.5 điểm)

loại TB(5-6
điểm)

loại
yếu( dưới 5
điểm)

tổng
số

%

tổng
số

%

tổng
số

%

tổng
số


3,3

7

23,3

14

46,7

8

26,7

Qua bảng thống kê kết quả trên cho chúng ta thấy: ở lớp thực nghiệm,
kết quả kiểm tra đạt được cao hơn lớp đối chứng, thể hiện ở điểm khá-giỏi
chiếm tỷ lệ cao, còn lớp đối chứng có kết quả ngược lại, đặc biệt có tới 26,7%
số học sinh đạt điểm dưới trung bình.
Sở dĩ có kết quả trên là do, ở lớp thực nghiệm 7A giáo viên sử dụng tư
liệu dân gian để minh họa và cụ thể hóa các sự kiện, gây hứng thú cho học sinh,
học sinh chăm chú lắng nghe giáo viên giảng bài. Từ đó các em nắm được nội
dung bài học ngay trên lớp học. Còn ở lớp đối chứng, giáo viên dạy theo kiểu
15


truyền thống, không sử dụng tài liệu tham khảo, tư liệu dân gian, các em không
chủ động đưa ra cách giải quyết cho các câu hỏi, hơn nữa giờ dạy chỉ theo kiểu
thông báo nên có phần khô khan khiến các em không có hứng thú học tập. Vì
thế kết quả đạt được không cao.

3.2.1. Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa, PGD Triệu Sơn.
1. Bảo tàng và khu di tích lịch sử là nơi lưu giữ bảo quản và trưng bày những
hiện vật, di tích lịch sử. Đó là những bằng chứng sinh động của quá khứ, nguồn
tài liệu này có sức cuốn hút đối với học sinh. Vì vậy, ở những trường học đóng
trên địa bàn gần khu di tích, bảo tàng có thể tổ chức cho các em đến học ngoại
khóa tại thực địa. Điều này sẽ giúp các em “tái tạo” những hình ảnh của quá
khứ một cách chân thực, đồng thời kích thích được năng lực tư duy độc lập sáng
tạo của học sinh và nên chăng nên có thêm tiết học ở thực địa.
2. Thanh Hóa là mảnh đất địa linh nhân kiệt, là nơi phát tích của nhiều dòng
vua chúa nhất trong cả nước. Vì thế, giáo dục cho các thế hệ tương lai về lịch sử
của tỉnh nhà là điều hết sức cần thiết. Sở giáo dục, phòng giáo dục có thể kết
hợp với nhà trường phát động cuộc thi tìm hiểu về con người, lịch sử xứ Thanh.
3. Cần hỗ trợ cho các trường, đặc biệt là những trường miền núi về cơ sở vật
chất, các phương tiện dạy học hiện đại, tài liệu tham khảo…để các em có thể
trang bị cho mình những kiến thức thiết thực hơn về lịch sử tỉnh nhà.
3.2.2. Đối với trường THCS Thọ Ngọc, tổ chuyên môn.
- Nhà trường và tổ chuyên môn nên có kế hoạch và giúp đỡ giáo viên- học
sinh tổ chức các hoạt động ngoại khóa lịch sử chào mừng các ngày lễ lớn của
17


dân tộc cũng như của địa phương như: thi tìm hiểu về các nhân vật lịch sử, nói
chuyện hoặc kể chuyện lịch về các nhân vật liên quan đến các cuộc khởi nghĩa
Lam Sơn. Nếu có điều kiện nên tổ chức cho học sinh đi tham quan thực tế ở khu
di tích lịch sử Lam Kinh, đền Lê Lai...
- Tăng cường giao lưu chuyên môn giữa các trường, cụm trường để tìm ra
những phương pháp dạy học tốt nhất cho môn học lịch sử.
Người thực hiện

XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

phạm, Hà Nội, 2003.
11.Sở văn hóa thông tin Thanh Hóa- Sáng tác dân gian về Lê Lợi và khởi
nghĩa Lam Sơn, xuất bản 1985.
12.Truyền thuyết và cổ tích Lam Sơn, Ty văn hóa Thanh Hóa,1973.
13.Vũ Ngọc Khánh-Lê Lợi con người và sự nghiệp, Nxb Thanh Hóa,1985.
14. Vũ Ngọc Khánh- Lê Lợi và đất Lam Sơn, Nxb VHTT, Hà Nội, 2003

19


PHỤ LỤC
1. Bảng hệ thống các di tích lịch sử liên quan đến cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
trên đất Thanh Hóa.
Tên di tích

Địa danh hiện nay

Núi Cây Đèn

Yên Lâm-Yên Định

Mường Đèn

Điền Hạ- Bá Thước

Cánh đồng Mẫu Hậu

Xuân Lập- Thọ Xuân

Đền Quốc Mẫu


Làng Bất Căng

Thọ Nguyên-Thọ Xuân

Làng Năng Cát

Lang Chánh

Làng Túng-Dốc Ngán-Núi Chan

Ngọc Khê- Ngọc Lặc

Rừng Ba Bào-trạm Trô-sông Sạo

Lang Chánh

Làng Tâu, làng Tó

Xuân Lam-Thọ Xuân

Làng Bái Thượng,

Thường Xuân

Bến Hồ Lơ

Thạch Định-Thạch Thành

Thác Ma Ngao


20


2.Ca dao, tục ngữ nói về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.
Hăm mốt Lê Lai
Hăm Hai Lê Lợi
Hăm ba giỗ mụ hàng Dầu
Lê Lợi vi quân
Nguyễn Trãi vi thần
Lê Lai vi tướng
Nội Cham, ngoại Chủa
Sông Cầu Chày chó lội đứt đuôi
Cọp làng Tra, ma làng Giặc
Đầu quân thì ở đồi Rinh
Đuôi binh thì ở đồi Gió
Ai lên Biện Thượng Lam Sơn
Nhớ vua Lê Lợi chặn đường quân Minh
Một trăm ngọn núi chầu về
Có hòn núi Mục nó thì chầu xuôi.
Sâu nhất là sông Bạch Đằng
Ba lần giặc đến, ba lần giặc tan
Cao nhất là núi Lam Sơn
Có ông Lê Lợi trong ngàn bước ra.
3.Tục ngữ, ca dao Mường nói về khởi nghĩa Lam Sơn.
Hăm mốt Lê Lai
Hăm hai lê Lưới
Hăm pa clôi bơi clôi choơ
Muốn cho lúa đầy bồ
21

(Lê Thánh Tông)
“Lam Sơn gần gũi tấc gang
Nhớ công đầu tổ cao hoàng dựng xây”
22


(Lê Đức Tông)
“ Lam Sơn cao mãi ngắm trông
Nhớ ơn Thái Tổ chiến công tuyệt vời”
(Lương Vương Thuyên-con trai thứ của Lê Thánh Tông)
“Ngắm kìa ngọn núi Lam Sơn
Thịnh suy, bụng hiểu nguồn cơn cớ gì
Vua về mưa nắng phải thì
Gió lồng, cỏ lướt, dân về theo đông”
(Lương Phùng Thìn- đỗ tiến sĩ năm 1533 đời Mạc)
“..Lê Lợi khởi nghĩa Lam Sơn
Mặc dầu tướng ít, binh đơn không nàn
Mấy phen sông Nhị, núi Lam
Thanh gươm, yên ngựa Bắc – Nam tung hoành
Mười năm kháng chiến hoành hành…
Nước ta thoát khỏi cái vành nguy nan…”
(Bác Hồ- Trích trong Lịch sử nước ta, 1942)

“Từ cổng đền nhìn thấy Lam Sơn
Chí Lê Lợi gặp tâm hồn Nguyễn Trãi
Bia Vĩnh Lăng nét chữ còn sắc mãi
Rừng Lũng Nhai vọng lại lời thề”
(Thơ của các chiến sỹ chống Mỹ khi hành quân qua Lam Sơn đã viết)

23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status