QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN VÀ CHẤT THẢI NGUY HẠI - Pdf 33


VIỆN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ QUẢN LÝ MÔI
TRƯỜNG
TIỂU LUẬN
QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN VÀ CHẤT THẢI NGUY HẠI
CƠ SỞ HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN
TP HCM tháng 05 năm 2011
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN
…………………………………………………………………………………………
…....
…………………………………………………………………………………………
…....
…………………………………………………………………………………………
…....
…………………………………………………………………………………………
…....
…………………………………………………………………………………………
…....
…………………………………………………………………………………………
…....
…………………………………………………………………………………………
…....
…………………………………………………………………………………………
…....
…………………………………………………………………………………………
…....
…………………………………………………………………………………………
…....
…………………………………………………………………………………………
…....
…………………………………………………………………………………………

1.2. Khó khăn về nguồn nhân lực...........................................................12
1.4. Tỉ lệ thu gom chất thải rắn chưa được triệt để.................................15
1.5. Khó khăn trong phân loại rác tại nguồn...........................................18
1.6. Các thách thức khác.........................................................................19
2 . Thực trạng quản lý chất thải rắn ở việt nam.......................................................21
3. Tiếp cận quản lý tổng hợp chất thải rắn.............................................................22
3.1 Quản lý tổng hợp chất thải rắn theo hướng bền vững ......................22
3.2 Những vấn đề đặt ra trong áp dụng quản lý tổng hợp chất thải rắn
và các giải pháp chính sách thực hiện trong điều kiện của Việt Nam ..................27
3.3 Các giải pháp về chính sách trong quản lý chất thải rắn ở Việt Nam
..................................................................................................................................28
4. Hệ thống kỹ thuật quản lý chất thải rắn............................................................32
4.1 Cơ cấu và sơ đồ tổ chức quản lý chất thải rắn đô thị.........................32
4.1.1. Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn ở đô thị.............................33
4.1.2. Hệ thống thu gom chất thải rắn ở đô thị.................................34
4.1.3 Lưu trữ chất thải rắn tại
nguồn
38
4.1.4.Hiện trạng xử lý chất thải rắn đô thị tại thành phố
Hồ Chí Minh....................................................................................41
4.2. Quản lý, phân loại, lưu trữ và xử lý chất thải rắn tại nguồn...............41
4.2.1 Quản lý, phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại các hộ
Gia
Đình..........................................................................................42
4.2.2 Quản lý, phân loại chất thải rắn tại các khu thương mại và các

sở
sản xuất công
nghiệp
khu thương

rác thải..........................................................................................................69
5. 3. Về các chính sách hỗ trợ cho các tổ chức thu gom rác hoạt động.......70
6. Hệ thống quản lý chất thải rắn của Singapore......................................................71
Tài liệu tham khảo....................................................................................................72
Mở đầu
Nền kinh tế đất nước ngày một phát triển không ngừng. Cùng với đó là sự tăng thêm
các cơ sở sản xuất, các khu tập trung dân cư ngày càng nhiều, nhu cầu tiêu dùng các sản
phẩm vật chất cũng ngày càng lớn, những điều đó tạo điều kiện kích thích các ngành
sản xuất, kinh doanh và dịch vụ mở rộng và phát triển nhanh chóng, nâng cao mức sống
chung của xã hội; mặt khác cũng tạo ra một số lượng lớn chất thải bao gồm: Chất thải
sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải y tế, chất thải nông nghiệp, chất thải xây
dựng... Chính vì vậy mà yêu cầu đối với hệ thống quản lý của Nhà nước đối với chất
thải nói chung và chất thải rắn nói riêng là phải làm sao đáp ứng được với xu thế đó.
Nhằm mục đích tìm hiểu kỹ hơn về hệ thống này để có cái nhìn tổng quát hơn về cách
thức quản lý đối với chất thải hiện nay. Đó là lý do nhóm chúng tôi tiến hành thực hiện
đề tài này.
1. THÁCH THỨC TRONG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Ở VIỆT NAM
Bảo vệ môi trường ngày nay đã trở thành một vẫn đề vô cùng bức bách và
trọng yếu của mọi quốc gia, vì nó liên quan đến vấn đề sống còn của nhân loại.
Cùng với sự phát triển khoa học và công nghệ, cùng với phát kiến về thế giới
xung quanh và động cơ làm giàu một cách vị kỷ, nhiều quốc gia, nhiều công ty,
tập đoàn xuyên quốc gia đã tàn phá môi trường - cái nôi nuôi dưỡng chính họ,
và con người đã bước đầu nhận thức ra được nguy cơ này. Tổ chức môi trường
của Liên Hợp Quốc và của nhiều quốc gia đã thường xuyên ban hành các quy
ước quốc tế về môi trường , các quyết định nghiêm cấm tức thời và lâu dài
v.v… Nhân loại đã thấy rằng, vấn đề môi trường là vấn đề của toàn cầu. Ý thức
được tầm quan trọng của vấn đề này, nước ta đã chính thức tham gia các công
ước quốc tế về môi trường.
Nhu cầu về quản lí chất thải rắn ở Việt Nam là rất lớn nếu xét tương quan với
năng lực hiện có và tốc độ tăng trưởng các đô thị và phát triển công nghiệp.

IV là các trung tâm văn hóa, xã hội, kinh tế của các tỉnh thành trên cả nước lên
đến 6,5 triệu tấn/năm, trong đó CTRSH phát sinh từ các hộ gia đình, nhà hàng,
các chợ và kinh doanh là chủ yếu. Lượng còn lại từ các công sở, đường phố, các
cơ sở y tế. Chất thải nguy hại công nghiệp và các nguồn chất thải y tế nguy hại ở
các đô thị tuy chiếm tỷ lệ ít nhưng chưa được xử lý triệt để vẫn còn tình trạng
chôn lấp lẫn với CTRSH đô thị.
 Kết quả điều tra tổng thể năm 2006 - 2007 cho thấy, lượng CTRSH đô thị phát
sinh chủ yếu tập trung ở 2 đô thị đặc biệt là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Tuy
chỉ có 2 đô thị nhưng tổng lượng CTRSH phát sinh tới 8.000 tấn/ngày
(2.920.000 tấn/năm) chiếm 45,24% tổng lượng CTRSH phát sinh từ tất cả các đô
thị (hình 1 và bảng 1).
 Tính theo vùng địa lý (hay vùng phát triển kinh tế - xã hội) thì các đô thị vùng
Đông Nam bộ có lượng CTRSH phát sinh lớn nhất tới 2.450.245 tấn/năm (chiếm
37,94% tổng lượng phát sinh CTRSH các đô thị loại III trở lên của cả nước), tiếp
đến là các đô thị vùng Đồng bằng sông Hồng có lượng phát sinh CTRSH đô thị
là 1.622.060 tấn/năm (chiếm 25,12%). Các đô thị khu vực miền núi Tây Bắc bộ
có lượng phát sinh CTRSH đô thị thấp nhất chỉ có 69.350 tấn/năm (chiếm 1,07%
), tiếp đến là các đô thị thuộc các tỉnh vùng Tây Nguyên, tổng lượng phát sinh
CTRSH đô thị là 237.350 tấn/năm (chiếm 3,68%) (Hình 2.2). Đô thị có lượng
CTRSH phát sinh lớn nhất là TP. Hồ Chí Minh (5.500 tấn/ngày), Hà Nội (2.500
tấn/ngày); đô thị có lượng CTRSH phát sinh ít nhất là Bắc Kạn - 12,3 tấn/ngày;
Thị xã Gia Nghĩa 12,6 tấn/ngày, Cao Bằng 20 tấn/ngày; TP. Đồng Hới 32,0
tấn/ngày; TP Yên Bái 33,4 tấn/ngày và thị xã Hà Giang 37,1 tấn/ngày.
 Tỷ lệ phát sinh CTRSH đôthị bình quân trên đầu người tại các đô thị đặc biệt và
đô thị loại I tương đối cao (0,84 – 0,96kg/người/ngày); đô thị loại II và loại III
có tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người là tương đương nhau
(0,72 - 0,73 kg/người/ngày); đô thị loại IV có tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình
quân trên một đầu người đạt khoảng 0,65 kg/người/ngày.
 Tỷ lệ phát sinh CTRSH tính bình quân lớn nhất tập trung ở các đô thị phát triển
du lịch như TP. Hạ Long 1,38kg/người/ngày; TP. Hội An 1,08kg/người/ngày;

Tại Tại Tại TP Tại Tại TP
1 Chất hữu cơ 51,10 50,58 40,1 - 44,7 31,50 41,25
2 Cao su, nhựa 5,50 4,52 2,7 - 4,5 22,50 8,78
3 Giấy, catton, giẻ vụn 4,20 7,52 5,5 - 5,7 6,81 24,83
4 Kim loại 2,50 0,22 0,3 - 0,5 1,40 1,55
5 Thủy tinh, sứ, gốm 1,80 0,63 3,9 - 8,5 1,80 5,59
6 Đất, đá,cát, gạch vụn 35,90 36,53 47,5 - 36,1 36,00 18,00
Độ ẩm
Độ tro
Tỷ trọng - tấn/m
3
47,7
15,9
0,42
45 - 48
16,62
0,45
40 - 46
11,0
0,57 - 0,65
39,05
40,25
0,38
27,18
58,75
0,412
Nguồn: số liệu quan trắc - CEETIA
Diễn biến về thành phần rác thải sinh hoạt tại Hà Nội từ năm 1995 đến 1998 được
thể hiện ở bảng 2.8
Bảng 2.8. Diễn biến về thành phần rác thải sinh hoạt tại Hà Nội từ năm 1995

2,20
45,90
1,70
1,20
1,40
2,90
50,40
3,20
1,80
2,60
2,30
53,00
4,10
5,50
3,80
4,20
50,10
5,50
2,50
1,80
 Số lượng lao động thu gom công lập và dân lập tại các quận/huyện được thống
kê tại bảng sau.
Bảng: Số lượng lao động thu gom chất thải rắn đô thị tại các quận/huyện của thành
phố Hồ Chí Minh (năm 2006)
STT Quận/Huyện
Lao động thu công
(người)
Công lập Dân lập
1 Quận 1 270 73
2 Quận 2 30 50

công tác thu gom nhưng không thể phủ nhận vai trò quan trọng của lực lượng rác
dân lập trong công tác bảo vệ môi trường cho Thành phố.
 Đối với hệ thống thu gom rác công lập thì vấn đề tổ chức thu gom đã đi vào nề
nếp, từng bước ổn định. Đây là lực lượng nòng cốt có trách nhiệm duy trì các hoạt
động thu gom rác khu vực công cộng, quét dọn đường phố. Còn với lực
lượng thu gom rác dân lập do được hình thành một cách tự phát từ rất lâu nên lực
lượng này thường làm việc một cách độc lập và thường không ký hợp đồng thu
gom bằng văn bản với các hộ dân. Chính quyền địa phương hầu như không thể
quản lý được lực lượng này, vì thế đã gây nhiều khó khăn trong công tác quản
lý chung của Thành phố.
1.4. Tỉ lệ thu gom chất thải rắn chưa được triệt để
Theo thống kê của Bộ Xây dựng, tỉ lệ thu hồi các chất thải rắn tính chung toàn quốc
mới đạt khoảng 70%. Riêng ở Hà Nội chỉ đạt 92%, trung bình ở các đô thị loại III
72.8%, loại IV – 66,5%. Tỷ lệ thu hồi các chất có khả năng tái chế và tái sử dụng chỉ
khoảng 25%, chủ yếu là tự phát, manh mún, không được quản lý; việc xử lý chất thải
rắn ở các đô thị cho đến nay vẫn chủ yếu vẫn thải và đổ vào các bãi rác lộ thiên, không
có sự kiểm soát kỹ thuật, mùi hôi và nước rác là nguồn gây ô nhiễm môi trường nghiêm
trọng.
Theo số liệu thống kê của Sở Tài nguyên & Môi trường TPHCM, khối lượng chất thải
rắn sinh hoạt thu gom được trên địa bàn nhìn chung có sự gia tăng nhanh chóng trong
khoảng thời gian 1992 – 2007, mặc dù trong một số thời điểm nhất định (các năm 1997,
1998, 2005), lượng chất thải rắn sinh hoạt có xu hướng giảm đi, nhưng sau đó lại tiếp
tục gia tăng trở lại. Trong khoảng thời gian 1992 – 2007, khối lượng chất thải rắn sinh
hoạt thu gom được đã tăng gấp 4,6 lần, từ 424.807 tấn/năm (năm 1992) lên đến
1.954.236 tấn/năm (năm 2007), tương ứng với khối lượng chất thải rắn sinh hoạt bình
quân mỗi ngày tăng từ 1.164 tấn/ngày (1992) lên đến 5.354 tấn/ngày (năm 2007).
Bảng 1: Tỷ lệ gia tăng chất thải rắn sinh hoạt từ năm 1992 - 2007
Năm Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh Tỷ lệ gia tăng chất
thải hàng năm (%)
(tấn/năm) (tấn/ngày)

Sự tụt giảm khối lượng tuyệt đối của chất thải rắn sinh hoạt trên Thành phố một số năm
(1997, 1998, 2005) có thể là do:
- Tình trạng khủng hoảng kinh tế chung ở khu vực Đông Nam Á trong khoảng thời
gian 1997 – 1998 làm ảnh hưởng đến mức tiêu dùng của người dân Thành phố.
- Hệ thống thu gom chất thải rắn sinh hoạt của Thành phố không đáp ứng đủ nhu
cầu thu gom toàn bộ lượng chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn;
- Một nguyên nhân nữa cũng ảnh hưởng tới sự sụt giảm tỉ lệ thu gom và khối
lượng chất thải rắn là trong năm 2005 là giai đoạn thành phố cơ cấu lại tổ chức của bộ
máy thu gom (quản lý lại lượng lượng thu gom rác dân lập và thực hiện khoán thu gom,
vận chuyển chất thải rắn đô thị năm 2005). Tỉ lệ chất thải rắn không thu gom được ước
tính chiếm khoảng 10% khối lượng chất thải rắn của năm đó.
Cần lưu ý rằng, các số liệu về chất thải rắn sinh hoạt được trích dẫn sử dụng ở trên là
tính trên lượng chất thải rắn thu gom được (khoảng 90%). Ngoài lượng chất thải rắn
sinh hoạt thu gom được, còn có một lượng đáng kể chất thải rắn được đổ xuống kênh,
mương (vùng ven), thậm chí đổ rác cả vào trong các hố ga thoát nước dọc các đường
phố, đổ rác nhờ nhà hàng xóm, đổ vào thùng rác công cộng (một số hộ dân ở Quận 4)…
Phân tích mối quan hệ giữa khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh với dân số trên
địa bàn cho thấy rằng tốc độ phát sinh chất thải rắn sinh hoạt bình quân đầu người cũng
biến động một cách tương tự như sự biến động khối lượng của CTRSH thu gom được.
Bảng 2: Tốc độ phát sinh CTRSH bình quân đầu người ở TP.HCM từ 1995 - 2007
Năm
Khối lượng chất thải rắn
sinh hoạt phát sinh
Dân số
Tốc độ phát sinh
chất thải rắn bình
quân đầu người
(kg/người/ ngày)
Tốc độ gia tăng
lượng CTR bình

Để thực hiện việc phân loại chất thải rắn tại nguồn đạt kết quả cao, rất cần sự phối hợp
từ người dân đến lực lượng thu gom rác. Tại quận 6, các hộ gia đình sẽ được hỗ trợ
dụng cụ phân loại rác trong thời gian 6 tháng gồm: 2 túi ni lông/ngày và 2 thùng rác với
2 màu xám và xanh, trong đó thùng màu xám sẽ đựng các loại rác có thể tái chế lại
được như chai lọ nhựa, thuỷ tinh, nhôm... Thùng màu xanh đựng các loại rác hữu cơ
như thức ăn thừa, thực phẩm sống, xác côn trùng...
Đối với hệ thống thu gom rác, UBND quận 6 đã hợp đồng với các nghiệp đoàn thu gom
rác dân lập trên địa bàn cải tiến lại toàn bộ hệ thống xe vận chuyển rác. Mỗi xe ngăn
thành 2 hộc riêng biệt. Sau khi thu gom rác từ nhà dân, rác được tập trung về các trạm
rác. Tại đây rác được tiếp tục phân loại, phần chất thải rắn có thế tái chế được sẽ bán
cho các cơ sở tái chế; những loại rác khác được chuyển về bãi chôn lấp và bán cho các
nhà máy sản xuất phân bón hữu cơ. Phía quận 6 cũng đã thực hiện các buổi tập huấn
cho các lực lượng chủ lực của phường như tổ trưởng tổ dân phố, và người dân ở từng
khu phố. Tuy nhiên, qua một thời gian triển khai, theo đánh giá của UBND quận 6 thì ý
thức tự giác của người dân chưa cao. Chương trình đã được triển khai ở 7 phường gồm:
1, 2, 3, 4, 5, 7 và phường 8, song chỉ có phường 8 là có tỉ lệ tuân thủ theo quy trình
phân loại rác đạt cao nhất. Do đó, công tác nâng cao ý thức của người dân trong việc
phân loại rác là rất quan trọng. Theo nhận xét của Sở Tài nguyên và Môi trường Tp.
HCM, nếu chương trình phân loại chất thải rắn tại nguồn được thực hiện được tốt thì
thời gian tới lượng rác của TP. HCM cần chôn lấp sẽ giảm đi rất nhiều. Điều đó không
chỉ góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường nói chung mà còn mang lại lợi ích thiết
thực cho chính cuộc sống của người dân thành phố.
1.6. Các thách thức khác
- Sự hạn chế về văn hoá và nhận thức xã hội, khi người dân thiếu ý thức bảo vệ môi
trường sống sẽ làm gia tăng chất thải và chi phí của xã hội cho việc thu gom rác thải.
Mặc dù vấn đề quản lý chất thải đã được xã hội quan tâm, nhưng việc đưa ra các quyết
định hợp lý, nghĩa là việc tìm ra các phương pháp rẻ nhất để quản lý chất thải trong
cộng đồng, cũng như đưa ra các quyết định có tính công bằng vẫn là một thách thức đối
với các quốc gia.
- Mức thu nhập tăng sẽ tác động tới hai khía cạnh: 1) Nhu cầu cao hơn đòi hỏi tiêu

khối lượng chất thải rắn tích luỹ quá lớn, trong khi lại sử dụng quá ít các biện pháp tái
chế hoặc giảm thải tại nguồn. Thành phố Hồ Chí Minh hiện thải ra hơn 7.000 tấn rác
mỗi ngày. Chỉ 77% trong số đó được thu gom, cũn lại đổ xuống cống thoát nước và
kênh rạch. Hệ thống thu gom và công nghệ xử lý cũn thủ cụng, cỏc bói rỏc đều quá tải.
Dự báo, chất thải rắn sẽ tăng đến 13.000 tấn/ngày vào năm 2010.
Xã hội tiêu thụ - vứt bỏ xuất phát từ những kích thích lệch lạc của thị trường làm ảnh
hưởng đến hành vi của cả người tiêu dùng lẫn người sản xuất. Một số nhà phân tích cho
rằng các quyết định về việc thiết kế sản phẩm và loại bỏ chất thải dựa quá nhiều vào
việc tăng cường sử dụng tài nguyên. Chất thải được tạo ra quá nhiều, và hơn nữa vẫn
chưa tìm thấy được tổ hợp tối ưu các sản phẩm có chi phí tác động thuần vào môi
trường thấp nhất. Điều này làm phức tạp thêm các vấn đề giảm thải tại nguồn, tái chế,
xử lý, chôn lấp...
2 . Thực trạng quản lý chất thải rắn ở việt nam
Quản lý chất thải rắn bao gồm các hoạt động: phòng ngừa và giảm thiểu phát sinh
CTR; phân loại tại nguồn; thu gom, vận chuyển; tăng cường tái sử dụng, tái chế; xử lý
và tiêu huỷ. Công tác quản lý chất thải rắn ở Việt Nam hiện nay còn chưa tiếp cận được
với phương thức quản lý tổng hợp trên quy mô lớn, chưa áp dụng đồng bộ các giải pháp
giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế (3R) để giảm tỷ lệ chất thải phải chôn lấp. Hoạt động
giảm thiểu phát sinh CTR, một trong những giải pháp quan trọng và hiệu quả nhất trong
quản lý chất thải, còn chưa được chú trọng. Chưa có các hoạt động giảm thiểu CTR sinh
hoạt. Ở quy mô công nghiệp, số cơ sở áp dụng sản xuất còn rất ít, khoảng 300/400.000
doanh nghiệp. Hoạt động phân loại tại nguồn chưa được áp dụng rộng rãi, chỉ mới được
thí điểm trên qui mô nhỏ ở một số thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh. Tỷ lệ
thu gom chất thải ở các vùng đô thị trung bình đạt khoảng 80-82%, thấp nhất là đô thị
loại IV (65%), ở Hà Nội cao hơn (90%); ở các điểm dân cư nông thôn ~ 40-55%.
Khoảng 60% khu vực ở nông thôn chưa có dịch vụ thu gom chất thải, chủ yêu dựa vào
tư nhân hoặc cộng đồng địa phương. Tỷ lệ thu gom, vận chuyển CTR tuy đã tăng dần
song vẫn còn ở mức thấp, chủ yếu phục vụ cho các khu vực đô thị, chưa vươn tới các
khu vực nông thôn. Xã hội hóa công tác thu gom, vận chuyển CTR tuy đã được phát
triển nhưng chưa rộng và chưa sâu, chủ yếu được hình thành ở các đô thị lớn. Năng lực

- Quản lý chất thải trong suốt quá trình sản xuất mà trong quản lý môi trường được gọi
là cách tiếp cận “theo đường ống”. Cách tiếp cận này đòi hỏi quản lý chất thải trong
suốt quá trình sản xuất, bao gồm giảm thiểu cũng như tái sử dụng, tái chế và thu hồi
chất thải ở mọi khâu, mọi công đoạn của quá trình sản xuất.
- Quản lý chất thải nhấn mạnh vào khâu tiêu dùng. Triết lý của cách tiếp cận này là tập
trung vào nâng cao nhận thức của người tiêu dùng để họ lựa chọn và đòi hỏi, tạo sức ép
đối với các sản phẩm được sản xuất ra phải đạt tiêu chuẩn môi trường, phải thân thiện
với môi trường (như đạt tiêu chuẩn ISO 14000...) và bản thân người tiêu dùng cũng
hành động thân thiện với môi trường trong tiêu dùng sản phẩm. Người tiêu dùng ở đây
được hiểu theo nghĩa rộng của lý thuyết kinh tế, bao gồm người tiêu dùng sản xuất (các
nhà sản xuất) và người tiêu dùng cuối cùng.
- Quản lý tổng hợp chất thải: Trong các tài liệu về quản lý chất thải thì quản lý tổng hợp
chất thải được giới thiệu như là một phương thức quản lý thích hợp nhất đối với các
nước có thu nhập trung bình và các nước có nền kinh tế chuyển đổi1. Quản lý tổng hợp
chất thải cung cấp một cách nghĩ và cách xem xét phi truyền thống về quản lý chất thải,
từ bỏ cách tiếp cận tập trung vào công nghệ xử lý (chôn lấp, tái chế, tái sử dụng...) một
cách riêng rẽ, đơn lẻ. Quản lý tổng hợp chất thải xem xét một cách tổng thể các khía
cạnh cần thiết nhất liên quan tới quản lý chất thải là môi trường tự nhiên, xã hội, kinh tế,
thể chế với sự tham gia của các bên liên quan vào các thành phần của hệ thống quản lý
chất thải (phòng ngừa, thu gom, tái sử dụng, tái chế, chôn lấp). Theo tài liệu hướng dẫn
về quản lý tổng hợp chất thải thì thuật ngữ “tổng hợp” có nghĩa là nối kết hay phối hợp
với nhau. Quản lý tổng hợp chất thải bao gồm ít nhất ba loại phối kết hợp sau:
- Phối kết hợp các chiến lược quản lý chất thải.
- Phối kết hợp các khía cạnh xã hội, kinh tế, luật pháp, thể chế, môi trường và công nghệ
trong quản lý chất thải.
- Phối kết hợp ý kiến ưu tiên và năng lực cung cấp dịch vụ của các bên liên quan.
Sơ đồ quản lý tổng hợp chất thải
GIẢI PHÁP CHIẾN LƯỢC
Giảm nguồn thải
Tái sử dụng

môi trường.
Trong tiếp cận quản lý tổng hợp chất thải thì phòng ngừa là nguyên tắc hàng đầu. Phòng
ngừa là ngăn chặn sự phát thải hoặc tránh tạo ra chất thải. Giảm thiểu là việc làm để sao
cho sự phát thải là ít nhất. Khi sự phát thải được giảm tới mức bằng 0 thì đó là sự phòng
ngừa tuyệt đối. Phòng ngừa được coi là phương thức tốt nhất để giảm thiểu chất thải
ngay từ nguồn phát sinh.
Phòng ngừa và giảm thiểu là hai nấc thang đầu tiên trong thang bậc quản lý chất
thải.Trong kinh tế chất thải bản chất của phòng ngừa là ngăn chặn, tối đa sự phát sinh
chất thải trong mọi hành động kinh tế (sản xuất, lưu thông, phân phối, tiêu dùng). Tái sử
dụng và tái chế là hai nấc thang tiếp theo
Như vậy, quản lý tổng hợp chất thải xét theo cách tiếp cận phối kết hợp các chiến lược
quản lý chất thải bao gồm các giải pháp mang tính chiến lược giảm nguồn thải, tái sử
dụng, tái chế, làm phân hữu cơ, thu gom, thu hồi năng lượng và chôn lấp. Mối quan hệ,
liên kết giữa các giải pháp này đặt trong tổng thể quản lý quá trình sản xuất và tiêu dùng
có thể khái quát hóa dưới dạng sơ đồ (Sơ đồ 3).
Sơ đồ trên cho thấy rằng một chiến lược quản lý tổng hợp chất thải cần được chú ý
trước tiên vào các biện pháp giảm thiểu, nghĩa là theo nguyên tắc phòng ngừa. Trong
quá trình sản xuất và tiêu dùng càng giảm thiểu được phát thải thì càng giảm được các
chi phí cho các khâu tiếp theo để xử lý chất thải (tái sử dụng, tái chế, thu hồi, chôn
lấp...). Còn một khi phát sinh chất thải trong sản xuất và tiêu dùng thì cần cố gắng tái sử
dụng và tái chế tối đa trước khi đem chôn lấp, trả chúng về môi trường.
Cách tiếp cận tổng hợp như vậy cũng đã được xác định và khẳng định trong quản lý
chất thải thời gian tới ở nước ta. Chiến lược quốc gia về chất thải rắn cũng xác định
quản lý tổng hợp chất thải rắn là một ưu tiên trong công tác bảo vệ môi trường. Đây là
điểm khác biệt quan trọng so với Chiến lược quản lý chất thải rắn tại các đô thị và khu
công nghiệp Việt Nam đến năm 2020 được ban hành 10 năm trước đây (tại Quyết định
của Thủ tướng Chính phủ số 152/1999/QĐ-TTg ngày 10/7/1999) với nội dung chưa
phải là dựa trên cách tiếp cận tổng hợp.
3.2 Những vấn đề đặt ra trong áp dụng quản lý tổng hợp chất thải rắn và các giải
pháp chính sách thực hiện trong điều kiện của Việt Nam


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status