MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
NỘI DUNG
I. Khái quát nhà nước và pháp luật phong kiến Việt Nam
II. Cơ sở xã hội
1. Cơ cấu giai cấp
2. Cơ cấu đẳng cấp
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang
2
2
2
3
3
4
6
7
LỜI NÓI ĐẦU
1
Trong gần chin thế kỷ (939 – 1858), trải qua nhiều triều đại, nhà nước và
pháp luật ở Đại Việt là nhà nước và pháp luật phong kiến. Vì vậy, để nghiên cứu về
lịch sử nhà nước và pháp luật trong giai đoạn này, cần phải khái lược về cơ sở xã
hội của nhà nước và pháp luật phong kiến. Để làm rõ vấn đề này, nhóm chúng em
đã chọn đề tài “cơ sở xã hội của nhà nước và pháp luật phong kiến Việt Nam”.
phạm lễ nghi là vi phạm pháp luật. Xã hội phong kiến Việt Nam, bât cứ một hành vi
nào vi phạm đạo đức đều có thể bị coi là vi phạm pháp luật, quy phạm đạo đức và
quy phạm pháp luật nhiều khi hòa đồng với nhau.
2
II. Cơ sở xã hội
1. Cơ cấu giai cấp: gồm 2 giai cấp cơ bản là địa chủ và nông dân
* Giai cấp địa chủ:
- Giai cấp địa chủ phong kiến tồn tại hàng nghìn năm trong lịch sử từ địa vị là
giai cấp thống trị
- Tuy chỉ chiếm khoảng 10% số dân trong xã hội nhưng lại là lực lượng chiếm
hữu đại bộ phận ruộng đất trong xã hội.
- Giai cấp địa chủ phong kiến nắm quyền sở hữu phần lớn ruộng đất (gồm cả sở
hữu tư nhân và sở hữu nhà nước) và tiến hành bóc lột địa tô (dưới nhiều hình thức:
tô lao dịch, tô sản phẩm, tô tiền hay những hình thức kết hợp) đối với nông dân
không có hay có ít ruộng đất (dưới những hình thức và mức độ lệ thuộc khác nhau).
- Giai cấp địa chủ được chia thành: Đại địa chủ (có nhiều ruộng đất, câu kết với
thực dân Pháp bóc lột nhân dân ta); Trung địa chủ; Tiểu địa chủ.
* Giai cấp nông dân:
- Bao gồm những tập đoàn người sản xuất nhỏ, người lao động trong lĩnh vực
sản xuất nông nghiệp bao gồm: Trồng trọt , chăn nuôi, lâm nghiệp, ngư nghiệp…
hoặc làm thuê cho địa chủ và cho phú nông trong nông nghiệp dựa trên chế độ
chiếm hữu tư nhân về ruộng đất. Tính chất "tự túc, tự cấp", "tự sản, tự tiêu" và sự
giới hạn phạm vi địa lí trong làng xã, nông trại địa phương hay đặc tính của nông
nghiệp là sản xuất nhỏ.
- Chiếm 90% trong xã hội phong kiến thực dân Việt Nam bao gồm: Phú nông,
trung nông (trung nông là lớp người mình cày ruộng của mình, không bóc lột ai,
cũng không phải làm thuê cho ai. Họ sinh sống khá hơn bần nông. Song gặp mất
mùa thì họ cũng chật vật. Vả lại họ cũng bị bọn địa chủ, bọn cho vay nặng lãi, và
những chính sách đàn áp giai cấp nông dân bằng nhiều hình thức khác nhau mà đặc
biệt về kinh tế (chính sách tô thuế nặng nề và tăng cao).
2. Cơ cấu đẳng cấp
a, Từ thế kỉ X – XV
Trong thời kì này, xã hội được phân chia trên hết là vua có uy quyền tuyệt đối
và tập trung quanh vua là một tầng lớp quý tộc quan liêu tạo lên một hệ thống chính
quyền nhà nước. Ở tầng lớp xa hơn là đông đảo quần chúng bình dân (nông dân, thợ
thủ công và thương nhân) quần tụ chủ yếu trong hệ thống cộng đồng làng xã. Dưới
đáy các bậc thang xã hội là tầng lớp nô tì – những người chịu thân phận thấp hèn
nhất-có số lượng khá đông đảo ở thời Lý-Trần rồi mất hẳn ở thời Lê. Tăng ni Phật
tử và Nho sĩ không phải là những đẳng cấp thuần nhất mà là một tầng lớp dọc, bắc
nối từ khối bình dân tới khối quan liêu. Về xu hướng phát triển, Tăng ni thời LýTrần chiếm số đáng kể, sang thế kỉ XV giảm dần, nhường chỗ cho sự lớn mạnh của
Nho sĩ.
Trong bức tranh toàn cảnh nhiều màu sắc trên vẫn có thể nhận thấy hai mảnh
khối chính: vua quan và bình dân. Vua quan là đẳng cấp bên trên, đẳng cấp cầm
quyền ngày càng xác lập tính giai cấp thống trị của mình trong khi bình dân là đẳng
cấp bên dưới, đẳng cấp bị trị, vừa là thần dân vừa bị bóc lột. Nhà vua đứng ở đỉnh
tối cao, quan liêu là tầng lớp thượng lưu, đông đảo quần chúng bình dân tạo nên
một bề mặt đáy vững chắc.
b, Từ thế kỉ XVI – XIX
`
Cho tới thế kỉ XV cơ cấu đẳng cấp mới thực sự biểu hiện khá phức tạp, làng
Việt cơ bản bị phong kiến hóa và nhìn chung có thể chia toàn bộ khối cư dân làng
xã thành 3 đẳng cấp chính sau:
4
* Hạng quan viên: đây là đẳng cấp có thế lực nhất trong làng xã, được hường nhiều
đặc quyền đặc lợi, có quyền quyết định mọi công việc lớn nhỏ của làng, được miễn
các nghĩa vụ binh dịch và lao dịch với Nhà nước. Do cấu trúc của đằng cấp này rất
bộ hệ thống quan liêu nhà nước-quan phương và phi quan phương-từ Trung ương
đến địa phương mà đứng đầu là nhà vua, còn đẳng cấp bị trị là toàn bộ số cư dân
còn lại. Tính bao trùm của quan hệ đẳng cấp tạo nên cơ chế áp bức siêu kinh tế.
5
Điều này giải thích tại sao đối tượng tấn công của phong trào nông dân lại tập trung
vào hệ thống chính quyền Nhà nước các cấp chứ không trực diện tấn công vào giai
cấp địa chủ với khẩu hiệu ruộng đất.
Qua đó ta thấy được:
•
•
•
•
Cho đến giữa thế kỉ XIV, nông thôn vẫn là khu vực kinh tế-xã hội bao trùm
và địa chủ-nông dân vẫn là hai giai cấp trung tâm của xã hội Việt Nam
Trong lúc quan hệ giai cấp không phát triền mạnh thì quan hệ đẳng cấp lại trở
nên nổi bật
Câu trúc các quan hệ giai cấp và đẳng cấp ở Việt Nam là cấu trúc lỏng
Tính chất không thật rành mạch trong quan hệ giai cấp-đẳng cấp là đặc điểm
nổi bật của cơ cấu xã hội Việt Nam thời kì này.
KẾT LUẬN
Qua sự phân tích ở trên, chúng ta thấy rõ hơn xã hội phong kiến Việt Nam, và
xã hội có tác động không nhỏ tới nhà nước và pháp luật phong kiến, những mâu
thuẫn giai cấp chính là nguyên nhân của những cuộc xung đột, những cuộc chiến để
rồi thay ngôi đổi vị, mỗi vị vua, mỗi triều đại lại có một cách cai trị nước nhà khác
nhau.