THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC TẠI CHỨC Ở CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC THUỘC TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH

PHAN SƠN TRƯỜNG

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO ĐẠI
HỌC TẠI CHỨC Ở CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC
THUỘC TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN:
TS. HỒ VĂN LIÊN

TP. HỒ CHÍ MINH - 2007




MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Luật Giáo dục năm 2005 đã khẳng định: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách
hàng đầu, là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân”. Mục tiêu của nền giáo dục
là “đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe,
thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp
ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [4, tr.7].
Để thực hiện mục tiêu trên, hệ thống giáo dục của nước ta có nhiều ngành
học, bậc học, trong đó giáo dục đại học và sau đại học có nhiệm vụ: “Đáp ứng nhu

hiệu quả đào tạo.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng đề xuất các giải pháp nhằm tăng
cường công tác quản lý đào tạo đại học tại chức trên địa bàn tỉnh Bà Rịa- Vũng
Tàu.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lý đào tạo đại học tại chức trên địa
bàn tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu.
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng quản lý đào tạo đại học tại chức tại các
cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu.

4. Giả thuyết khoa học
- Công tác quản lý đào tạo đại học tại chức tại các cơ sở giáo dục thuộc tỉnh
Bà Rịa- Vũng Tàu bên cạnh những ưu điểm như đã mở được nhiều lớp học, đáp ứng
nhu cầu học tập nâng cao trình độ của cán bộ công chức còn có những hạn chế như
ngành nghề đào tạo chưa cân đối, thiếu cơ sở vật chất phục vụ đào tạo.


- Nếu đánh giá đúng thực trạng quản lý đào tạo đại học tại chức tại cơ sở
giáo dục thuộc tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu, thì có thể đề xuất các giải pháp phù hợp
nhằm tăng cường công tác quản lý từ đó góp phần nâng cao kết quả đào tạo.
5. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu thực trạng thuộc trách nhiệm quản lý của các cơ sở có
liên kết đào tạo đại học tại chức, không nghiên cứu phần thuộc về trách nhiệm của
các trường đại học.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về quản lý đào tạo đại học tại chức.
- Khảo sát thực trạng quản lý đào tạo đại học tại chức tại các cơ sở giáo dục
có liên kết đào tạo đại học tại chức trên địa bàn tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu.
- Đề xuất các giải pháp tăng cường công tác quản lý đào tạo đại học tại chức

- Mẫu 2: Phiếu hỏi dành cho 337 học viên. Thăm dò ý kiến học viên 2 ngành
Kinh tế và tiếng Anh tại Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu
là Trung tâm có quá trình liên kết đào tạo đại học tại chức lâu nhất và có số học
viên đông nhất (Trung tâm có chức năng chủ yếu là liên kết đào tạo đại học tại
chức).
Các phiếu hỏi nhằm nghiên cứu thực trạng quản lý đào tạo tại chức ở các cơ
sở giáo dục trên địa bàn tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu, đồng thời thu thập thêm ý kiến về
các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo.
7.2.3. Các phương pháp bổ trợ
7.2.3.1. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Tác giả đã gặp gỡ, trao đổi ý kiến với cán bộ quản lý ở các cơ sở giáo dục
trên địa bàn.
7.2.3.2. Phương pháp quan sát
Quan sát phòng học, thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập, xưởng trường,
thư viện, ký túc xá.


Quan sát việc tổ chức lớp học, tình hình sĩ số học viên, tình hình tổ chức
kiểm tra và thi hết học phần, thi tuyển sinh, thi tốt nghiệp.
7.2.4. Phương pháp thống kê toán học
Dùng phương pháp thống kê tóan học để xử lý kết quả điều tra khảo sát
nhằm đánh giá đúng thực trạng và đề ra phương hướng nâng cao hiệu quả công tác
quản lý.
Xử lý số liệu theo phương pháp thống kê tóan học: sau khi thu thập các phiếu
thăm dò ý kiến của học viên và của cán bộ giảng dạy, cán bộ quản lý tại địa
phương, tác giả sử dụng phầm mềm SPSS for Windows xử lý số liệu, tính giá trị
trung bình ( X ) và độ lệch chuẩn  (Standard deviation) nhằm đánh giá thực trạng
quản lý đào tạo đại học tại chức ở các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh Bà RịaVũng Tàu.

8. Cấu trúc luận văn

đại học từ vùng kháng chiến và từ nước ngoài được chuyển về Hà Nội.


Đến năm 1956, ở miền Bắc có các các trường đại học sau: ĐH Tổng hợp Hà
Nội, ĐH Sư phạm Hà Nội, ĐH Bách khoa Hà Nội, ĐH Y khoa Hà Nội, ĐH Kinh tế
Hà Nội, CĐ Mỹ thuật.
Đến năm học 1974- 1975, ở miền Bắc đã có 30 trường Đại học với 8400 cán
bộ giảng dạy, trong đó có 8,9 % cán bộ có học vị Phó tiến sĩ và 56000 sinh viên.
Ở miền Nam, đến năm 1974- 1975 có 4 Viện Đại học công lập (Sài Gòn,
Bách khoa Thủ Đức, Huế, Cần Thơ), 3 Viện ĐH Cộng đồng công lập đào tạo 2 năm
(Mỹ Tho, Nha Trang, Đà Nẵng) và 11 Viện ĐH tư với tổng số 166000 sinh viên.
Sau khi thống nhất đất nước, các trường ĐH ở 2 miền Nam Bắc đã được sắp
xếp lại để trở thành một hệ thống ĐH thống nhất trong cả nước.
Trong đào tạo đại học bên cạnh phương thức chính quy có phương thức
không chính quy như tại chức (vừa học vừa làm), chuyên tu, từ xa… để đào tạo
nâng cao trình độ cho cán bộ công chức, viên chức và những người đang làm việc
trong các doanh nghiệp.
Hiện nay, theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong năm học 20022003, hệ thống giáo dục ĐH nước ta gồm 111 trường ĐH và 119 trường CĐ, trong
đó có 15 trường ĐH dân lập, 2 trường ĐH bán công, 2 trường CĐ dân lập, 4 trường
CĐ bán công, 9 trường CĐ Cộng đồng. Tổng số sinh viên là 1.020.670 trong đó
64% chính qui, 36 % không chính qui; đạt tỷ lệ 124,7 SV/ 1 vạn dân. Như vậy, tính
từ năm 1945 đến nay sau 60 năm số lượng các trường ĐH, CĐ của nước ta đã tăng
trên 40 lần (230 trường so với 5 trường vào năm 1945), số sinh viên tăng hàng ngàn
lần.
Vấn đề liên kết đào tạo xuất hiện trong khỏang 20 năm gần đây (Báo tuổi trẻ
ngày 24/2/2007). Trên địa bàn tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu, lớp đại học tại chức đầu tiên
do Sở Tài chính liên kết với trường ĐH Tài chính kế tóan TP Hồ Chí Minh mở vào
năm 1986. Sau đó có một số lớp khác, quy mô nhỏ. Trong 5 năm qua, hình thức liên
kết đào tạo đại học tại chức trên địa bàn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu phát triển mạnh. Từ
đó vấn đề quản lý các lớp đào tạo tại chức nhất là các lớp mở tại địa phương trở nên

nhất định.


Theo Từ điển Giáo dục học- Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa- Hà Nội năm
2001 thì đào tạo có hai nghĩa:
1) Là quá trình chuyển giao có hệ thống, có phương pháp những tri thức,
những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp chuyên môn, đồng thời bồi dưỡng những phẩm
chất đạo đức cần thiết và chuẩn bị tâm thế cho người học đi vào cuộc sống lao động
tự lập và góp phần xây dựng và bảo vệ đất nước. Hình thức tổ chức đào tạo cơ bản
là các cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân, ngòai ra còn có các hình
thức đào tạo thường xuyên ngày càng được mở rộng như đào tạo tại chức, đào tạo
từ xa, tự học có hướng dẫn… nhằm đáp ứng như cầu đa dạng của xã hội. Ngày nay
đào tạo không còn là quá trình chuyển giao một chiều, mà còn bằng các phương tiện
dạy học hiện đại, các cơ đào tạo đang dần dần tiến tới hợp tác song phương với
người học để giúp họ chủ động, tích cực, tự giác chiếm lĩnh tri thức, trang bị kiến
thức nghề nghiệp chuyên môn. Đó là quá trình đào tạo được chuyển thành quá trình
tự đào tạo của người học. Chỉ khi nào đạt được sự chuyển biến như vậy thì hiệu quả
đào tạo mới cao và mới có lợi ích thiết thực cho bản thân và cho xã hội.
Ở nước ta trình độ đào tạo được chia thành các bậc: Công nhân từ bậc 1 đến
bậc 7) , Trung cấp (Trung cấp chuyên nghiệp, Trung cấp nghề), Cao đẳng, Đại học
và sau Đại học (Thạc sỹ, Tiến sỹ).
2) Cách tiến hành hỗ trợ, bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực phẩm chất phù
hợp với nhu cầu đòi hỏi của cơ quan, tổ chức.

1.2.1.2. Đào tạo đại học
Đào tạo đại học là hình thức đào tạo được thực hiện từ 4 đến 6 năm học tùy
theo ngành nghề đào tạo đối với những người đã có bằng tốt nghiệp Trung học phổ
thông hoặc bằng tốt nghiệp Trung cấp; từ 2,5 năm đến 4 năm đối với người có bằng
Trung cấp cùng chuyên ngành; từ 1,5 năm đến 2 năm đối với người có bằng Cao
đẳng cùng chuyên ngành.

bảo vệ Tổ quốc.” [4, tr.29-30].
Từ mục tiêu chung nói trên, hệ thống đào tạo tại chức phải đào tạo ra những
con người năng động, sáng tạo, tự chủ, có óc phê phán, có năng lực giải quyết vấn


đề mới nảy sinh, có năng lực tự học, tự nghiên cứu suốt đời, có năng lực tạo nghiệp,
tiến thân, lập nghiệp trong thị trường sức lao động.

1.2.3. Chương trình đào tạo đại học tại chức
Có thể nói chương trình đào tạo là công cụ để hiện thực hóa mục tiêu đào
tạo. Chương trình đào tạo đại học tại chức được xây dựng để thực hiện mục tiêu đào
tạo đại học tại chức. Do mục tiêu đào tạo tại chức cũng như đào tạo chính quy nên
chương trình đào tạo đại học tại chức cũng giống như chương trình đào tạo chính
quy, chương trình này do các trường đại học biên sọan dựa trên chương trình khung
do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định. Chương trình được cấu trúc từ các học phần
thuộc hai khối kiến thức: giáo dục đại cương và giáo dục chuyên nghiệp. Tuy nhiên
do đối tượng đào tạo của đại học tại chức là những người đang làm việc nên trong
chương trình đào tạo thường được miễn môn Giáo dục quốc phòng và môn Giáo
dục thể chất.
Theo ý kiến của tác giả, do đặc điểm đối tượng học viên tại chức và mục tiêu
đào tạo, nên chương trình đào tạo tại chức cần có tính thực hành cao, tránh tình
trạng nặng về lý thuyết mang tính hàn lâm. Ngòai ra đối với các lớp mở ở địa
phương chương trình cần gắn với thực tế của tỉnh. Đối với tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu là
tỉnh có thế mạnh về công nghiệp dầu khí, dịch vụ du lịch và thủy sản. Do đó chương
trình đào tạo cần gắn với các đặc điểm này để gắn đào tạo với sử dụng, sớm phát
huy hiệu quả đào tạo.
1.2.4. Hình thức đào tạo tại chức
Hiện nay, có hai lọai hình thức đào tạo đại học tại chức là đào tạo tại trường
đại học và liên kết đào tạo tại các địa phương, thường là cách xa nơi trường đóng.
Ngành đào tạo tại chức giống như đào tạo đại học chính quy, nhưng các lớp

dục thường xuyên gồm có:
+ Trung tâm Giáo dục thường xuyên được tổ chức tại cấp tỉnh và cấp huyện.
+ Trung tâm Học tập cộng đồng được tổ chức tại cấp xã, phường, thị trấn.
Theo điểm 3, điều 16 trong Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02 tháng 8
năm 2006 của Chính phủ về: “Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều


của Luật Giáo dục” thì “nhà trường và cơ sở giáo dục khác trong hệ thống giáo dục
quốc dân được gọi chung là cơ sở giáo dục” [7, tr.10].

1.2.6.2. Chức năng của các cơ sở giáo dục
Theo Từ điển tiếng Việt- Viện ngôn ngữ học- Nhà xuất bản Đà Nẵng 2003,
thì chức năng có hai nghĩa:
-

Họat động, tác dụng bình thường hoặc đặc trưng của một cơ quan, một hệ cơ

quan nào đó trong cơ thể.
-

Tác dụng, vai trò bình thường hoặc đặc trưng của một người nào đó, một cái

gì đó.
Chức năng của các cơ sở giáo dục ở đây cũng giống như chức năng của
trường học đó là tổ chức, quản lý quá trình đào tạo, nhằm thực hiện mục tiêu đào
tạo của từng cấp học, ngành học.

1.2.6.3. Nhiệm vụ của các cơ sở giáo dục
Theo Điều lệ, trường đại học có mười nhiệm vụ như sau:
- Đào tạo nhân lực có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có kiến thức và năng

lý xã hội- chính trị và quản lý đời sống tinh thần. Trong phạm vi đề tài nghiên cứu
này chỉ bàn đến lĩnh vực quản lý giáo dục.
Trước khi đi sâu tìm hiểu khái niệm quản lý giáo dục, chúng ta hãy tìm hiểu
một số định nghĩa về quản lý:
-Theo F Taylor (1856-1915) người Mỹ, người đề ra học thuyết quản lý theo
khoa học thì “quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau
đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [17,
tr.89].
- Theo Henry Fayol (1841-1925) người Pháp, người đưa ra thuyết quản lý
hành chính, ông định nghĩa “quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ
chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra “ [17, tr.108]
 Quản lý giáo dục: Là một loại quản lý xã hội chuyên quản lý tổ chức hoạt
động của ngành giáo dục trên phạm vi cả nước hoặc từng địa phương, từng trường


học, nhằm mục đích nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc phát triển nền giáo
dục và của việc giáo dục học viên trong các trường học.
Như vậy, quản lý giáo dục có thể được xem xét ở hai cấp độ khác nhau là
quản lý vĩ mô (quản lý hệ thống giáo dục) và cấp độ vi mô (quản lý nhà trường),
trong phạm vi đề tài này chỉ tìm hiểu quản lý giáo dục ở cấp độ vi mô.
Theo tác giả Trần Kiểm thì ở cấp độ vi mô “quản lý giáo dục được hiểu là hệ
thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế họach, có hệ thống,
hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, nhân viên, tập thể học sinh,
cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngòai nhà trường nhằm thực hiện
có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường” [21, tr.36].
 Quản lý cơ sở giáo dục
Như ở phần 1.2.6 đã đề cập, hệ thống giáo dục nước ta gồm nhiều cơ sở giáo
dục khác nhau. Mỗi cơ sở giáo dục có chức năng nhiệm vụ khác nhau. Riêng về đào
tạo đại học tại chức là một phương thức đào tạo của trường đại học. Quản lý cơ sở
giáo dục ở đây là vấn đề quản lý của trường đại học. Để hiểu rõ vấn đề quản lý

quản trường những thiếu sót cần bổ khuyết, điều chỉnh” [8, tr.4]. Như vậy đối với
các lớp đại học tại chức do các trường đại học liên kết mở tại địa phương có hai
chủ thể đó là Hiệu trưởng và người đứng đầu cơ sở giáo dục tại địa phương mở lớp.
Trách nhiệm quản lý của hai chủ thể này được quy định trong hợp đồng đào tạo do
hai bên thỏa thuận ký kết.
Trong quản lý đào tạo đại học tại chức, khách thể quản lý là quá trình dạy
học, gồm hai họat động chủ yếu là họat động dạy và họat động học, ngòai ra còn có
các dịch vụ phục vụ đào tạo.
Đối tượng quản lý là giảng viên, học viên ở các lớp tại chức và các điều kiện
vật chất đảm bảo cho họat động đào tạo.
Như vậy quản lý đào tạo khác với quản lý dạy học, nó bao hàm cả quản lý
dạy học bởi vì dạy học là quá trình gồm hai họat động chủ yếu là họat động dạy của
thầy và họat động học của trò. Quản lý dạy học là quản lý hai họat động này. Còn
quản lý đào tạo là quản lý tất cả các khâu của quá trình đào tạo từ công tác tuyển
sinh, tổ chức họat động dạy học, quản lý nội dung chương trình giảng dạy, quản lý
học sinh, quản lý cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy…


1.3.2. Các chức năng quản lý đào tạo
Trong phần 1.2.6.2 đã đề cập đến khái niệm chức năng. Nói chung chức
năng quản lý là hình thức tồn tại của quản lý. Chức năng quản lý nảy sinh và là kết
quả của quá trình phân công lao động, là bộ phận tạo thành của họat động quản lý
tổng thể, được tách riêng, có tính chất chuyên môn hóa.
Về số lượng các chức năng quản lý, nói chung các tác giả nghiên cứu về
quản lý hầu hết đều đề cập đến bốn chức năng sau:
-

Chức năng họach định.

-

xã hội của tỉnh, hiểu rõ thị trường lao động, nhu cầu đào tạo, sự cạnh tranh, đặc
biệt phải phân tích được những điểm mạnh, yếu của nhà trường về cơ sở vật chất,
đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý, các nguồn kinh phí…
Chỉ có trên cơ sở phân tích kỹ nhu cầu đào tạo và khả năng của nhà trường
mới có thể dự báo đúng xu hướng họat động của nhà trường. Trên cơ sở dự báo
chiều hướng phát triển, nhà quản lý tiến hành xây dựng các mục tiêu họat động
của nhà trường.
Theo tác giả Hòang Lê Minh: họach định là một quá trình ấn định những
mục tiêu và định biện pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu đó [25, tr.68]. Như vậy
thực chất của họach định là xác định mục tiêu và biện pháp để đạt được mục tiêu.
Trong đào tạo đại học tại chức vấn đề xác định mục tiêu quản lý bao gồm các nội
dung sau:
1.Xác định ngành nghề cần tổ chức đào tạo tại chức, nhất là với các lớp mở ở
địa phương cần gắn với nhu cầu nhân lực của địa phương đó.
2. Xác định quy mô tuyển sinh.
3. Phát triển số lượng và nâng cao chất lượng đào tạo.
4. Xây dựng đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý.
5. Xây dựng, bảo quản cơ sở vật chất.
6. Xây dựng, hòan thiện bộ máy quản lý bao gồm các tổ chức Đảng, cơ quan
Nhà nước và các đòan thể quần chúng trong nhà trường, để xây dựng trường vững
mạnh.
Sau khi xác định được mục tiêu, nhà quản lý phải đề ra được các biện pháp
có tính khả thi cao để thực hiện những mục tiêu đã đề ra. Đó là những nội dung
chủ yếu của chức năng hoạch định trong quản lý nói chung và trong quản lý đào
tạo nói riêng.

1.3.2.2. Chức năng tổ chức trong quản lý đào tạo
Tổ chức là chức năng chung của quản lý, liên quan đến các họat động thành
lập nên các bộ phận trong tổ chức để đảm nhận những họat động cần thiết, xác


thời gian… đảm bảo thực hiện quyết định.


1.3.2.4. Chức năng kiểm tra trong quản lý đào tạo
Kiểm tra trong quản lý trường học là phương thức thu nhận thông tin về tình
hình chất lượng, nội dung, về tổ chức, về phương pháp các hoạt động đào tạo. Đó là
một hệ thống thao tác quan sát và so sánh, đánh giá xem lao động sư phạm thực tế
có phù hợp với kế hoạch, tính chất, qui tắc đã dự kiến trước hay không? Đó là sự
vạch rõ kết quả tác động của chủ thể đến khách thể, vạch rõ những lệch lạc đã phạm
phải so với các yêu cầu sư phạm và nguyên tắc tổ chức.
Kiểm tra trong họat động đào tạo tại chức có các chức năng sau:
1. Chức năng thông tin:
- Thông tin xuôi: sự truyền đạt các chuẩn mực, phổ biến các sáng kiến, kinh
nghiệm của chủ thể quản lý, đoàn kiểm tra, cho đối tượng quản lý, đối tượng kiểm
tra. Thông tin xuôi có ý nghĩa hướng dẫn hoạt động cho đối tượng quản lý nên cần
truyền đạt trước khi kiểm tra.
- Thông tin phản hồi (ngược) là những tin tức phản hồi về thực trạng của đối
tượng quản lý, môi trường hoạt động của cơ quan quản lý. Đây là chức năng thông
tin quan trọng nhất của kiểm tra đòi hỏi phải chính xác, kịp thời, chức năng này
được thực hiện qua lãnh đạo và trách nhiệm của lực lượng kiểm tra đối với đối
tượng kiểm tra.
- Yêu cầu của thông tin:
+ Thông tin phải đảm bảo tính chính xác, trung thực, phải phản ánh đúng
bản chất của sự việc hoặc diễn biến của đối tượng.
+ Đảm bảo tính đầy đủ và toàn diện.
+ Đảm bảo tính kịp thời, nhanh nhạy.
+ Thông tin từ nhiều nguồn, nhiều kênh và được chọn lọc.
+ Thông tin phải đảm bảo tính kinh tế.
+ Thông tin phải cô đọng, dễ hiểu không mập mờ hai mặt.
2. Chức năng đánh giá:

tạo ra uy tín xã hội của sản phẩm và của đơn vị đối tượng trong cộng đồng.
g. Chức năng dự báo, củng cố và phát triển: Xác định đúng giá trị, thực
trạng của hoạt động đào tạo, kết quả chất lượng sẽ cho phép dự đoán đúng hướng
phát triển trong tương lai.


3. Chức năng điều chỉnh:
Đánh giá phải dẫn đến hành động điều chỉnh. Điều chỉnh có ý nghĩa đảm bảo
thực hiện mục đích, có ý nghĩa quyết định đối với công tác kiểm tra. Hoạt động
kiểm tra nhất thiết phải đi đến hành vi điều chỉnh thì kiểm tra mới có ý nghĩa, có
giá trị. Kết quả và hiệu quả điều chỉnh chính là kết quả và hiệu quả của mục tiêu
kiểm tra.
Trong đào tạo tại chức có nhiều lọai kiểm tra, song kiểm tra chuyên môn là
chủ yếu và quan trọng nhất. Kiểm tra chuyên môn thường gồm các nội dung sau:
+ Kiểm tra việc triển khai thực hiện chương trình giảng dạy.
+ Kiểm tra hồ sơ giảng dạy.
+ Kiểm tra việc học tập của học viên.
+ Kiểm tra việc sử dụng trang thiết bị.

1.3.3. Nội dung quản lý đào tạo đại học tại chức
1.3.3.1. Quản lý chương trình đào tạo tại chức
Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo: “Chương trình vừa học vừa làm
trình độ đại học và cao đẳng được các trường xây dựng trên cơ sở chương trình
chính quy” [13, tr.1]. Chương trình đó quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi
và cấu trúc nội dung đào tạo, phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức đánh giá
kết quả đào tạo đối với mỗi môn học, ngành học, trình độ đào tạo. Chương trình đào
tạo được các nhà khoa học, nhà giáo giàu kinh nghiệm sọan thảo và được Bộ Giáo
dục và Đào tạo phê duyệt làm chương trình khung cho mỗi ngành học hoặc nhóm
ngành học. Khi chương trình đã được duyệt thì nó trở thành pháp lệnh mà các nhà
giáo và cán bộ quản lý có trách nhiệm phải thực hiện đúng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status