1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trứng cá là một bệnh da thông thường. Bệnh hay gặp ở lứa tuổi thanh
thiếu niên từ 13-25 tuổi. Theo một số tác giả thì tỉ lệ mắc chiếm 80-90% [5],
[10], [12], [19], [22]. Trứng cá có thể xuất hiện bất kỳ vùng da nào của cơ thể
nếu vùng đó có nang lông tuyến bã hoạt động mạnh. Hình thái lâm sàng của
bệnh đa dạng, tuỳ theo mức độ ứ đọng chất bã và viêm nhiễm của tuyến bã.
Nhìn chung, trứng cá không gây những ảnh hưởng trầm trọng tới sức
khoẻ và thường là tự khỏi. Nhưng các yếu tố bên ngoài như khí hậu, thời tiết,
stress, các thuốc bôi tại chỗ hoặc toàn thân, các hoá chất, các can thiệp không
đúng…làm nặng thêm bệnh trứng cá ban đầu. Tiến triển của bệnh có khi dai
dẳng hoặc thành đợt [8], [12], [22].
Bệnh ảnh hưởng sâu sắc đến tâm lý, họ có những mặc cảm, phiền muộn,
kém tự tin và lo lắng nhất là ở lứa tuổi mới lớn [14], [15], [18], [20], [21].
Xuất phát từ những nổi lo cùng với sự ra đời của nhiều loại thuốc hoá
mỹ phẩm mà ngày nay đang được quảng cáo rộng rải trên truyền hình, được
bày bán một cách thiếu kiểm soát khắp nơi với mục đích điều trị mụn trứng
cá. Từ những thông tin quảng cáo thật hấp dẫn đã cuốn hút các bạn vào vòng
xoắn của điều trị.
Để điều trị bệnh trứng cá, các bạn đã áp dụng những phương pháp gì?
So với kiến thức y học các biện pháp mà các bạn đã chọn có đúng không? Từ
những thực tế trên chúng em tiến hành chọn đề tài “Khảo sát tình hình sử
dụng thuốc và các biện pháp điều trị mụn trứng cá ở học sinh trường cấp
III Hai Bà Trưng thành phố Huế”.
Đây là một đề tài đã có một số nghiên cứu trong và ngoài nước nhưng ở
nhiều đối tượng và nhiều phương pháp khác nhau. Trong phạm vi cho phép
2
chúng tôi chỉ xin nghiên cứu đối tượng học sinh cấp III ở trường Hai Bà
+ Tỉ lệ trứng cá có biến chứng là 77,3%. Trong đó tác nhân gây nên
biến chứng là chế phẩm corticoid, biona, biore.
+ Trong các thuốc có chứa corticoid được kể đến Tragala: 34,16%, Cortibion:
30,2%, Flucinar: 18%, Gentrison: 18,35%, Halog: 2,97%, Korcin: 1,98%.
Một yếu tố khác gây biến chứng cũng được ghi nhận là thói quen nặn
bóp, chà xát chiếm tỉ lệ 13,96%.
Một nghiên cứu khác của Lê Thị Diệu Anh Luận văn thạc sỹ Đại Học
Y Huế [1] được thực hiện trên 3718 sinh viên năm thứ nhất Đại Học Huế có
4
1106 em mắc bệnh trứng cá năm 2003 được ghi nhận sau:
+ Tỉ lệ mắc 29,7%.
+ Tỉ lệ biến chứng trong bệnh trứng cá là 27,1%.
+ Chỉ có 39,1% có điều trị bệnh trứng cá, bao gồm tự điều trị, đến mua ở
quầy thuốc Tây và đến bác sỹ chuyên khoa.
Về nguyên nhân của các biến chứng ghi nhận được trong nghiên cứu
này là thói quen nặn bóp, tiếp đến là sử dụng thuốc không hợp lý.
1.2. Đại cương về bệnh trứng cá:
Từ Acne đầu tiên được Willan dùng để chỉ những thương tổn khác
nhau xuất phát từ tuyến bã. Sau này những nhà da liễu dùng Acne cho những
phản ứng ở nang lông tuyến bã [10], [13].
Bình thường, trên da bên cạnh mỗi nang lông (kể cả râu tóc) đều có
một chùm tuyến gọi là tuyến bã, tiết ra chất nhờn gồm chủ yếu là cholesterol
và acid béo. Chất bã theo nang lông tản lên mặt da thành một màng mỏng như
lớp quang dầu, gọi là phím bã (phím lipid) có tác dụng làm cho lớp sừng
không ngấm nước, nhưng dẻo dai mềm mại, đồng thời có khả năng chống đỡ
với nhiều loại vi khuẩn, nấm mốc [17], [19], [24].
Ở một số người tuyến bã hoạt động quá mạnh, chất bã tiết ra quá nhiều,
ứ đọng lại ở đầu lỗ nang lông, kết hợp với tế bào sừng không bong tạo thành
1.4. Cơ chế bệnh sinh:
Bệnh do nhiều yếu tố gây nên, đại đa số các tác giả nêu lên 3 yếu tố
chính: [8], [12]
+ Ban đầu là tăng tiết chất bã.
+ Sau đó là sự ứ đọng chất bã.
+ Và sau cùng là sự viêm nhiễm.
1.4.1. Tăng tiết chất bã:
Sự bài tiết chất bã liên quan đến Hormone sinh dục nam, đó là
Androgens. Cơ quan bài tiết sinh dục nam ở nam giới gồm tinh hoàn, tuyến
thượng thận, ở nữ giới gồm buồng trứng và tuyến thượng thận. Trong các loại
Androgens thì Testosterone là Hormone có hiệu lực chủ yếu ở da với tế bào
6
tuyến bã. Điều đó giải thích sự tăng tiết chất bã xảy ra bắt đầu ở tuổi dậy thì.
- Hormon corticoid thượng thận gây tăng tiết chất bã vì vậy gây trứng cá.
- Hormon thuỳ trước tuyến yên: ACTH gây tăng trọng lượng của tuyến
bã, tăng tạo lipid, tích trữ đạm của các tế bào tuyến bã.
Tóm lại: Tế bào tuyến bã chịu sự điều tiết hoạt động của các Hormon,
đặc biệt là Hormon sinh dục nam. Hormon này có tác dụng kích thích sự phát
triển và bài tiết chất bã nhất là các tuyến bã ở mặt. Vì vậy, người ta coi trứng
cá là một trong các dấu hiệu quan trọng nhất của tuổi thành niên khi cơ thể có
sự tăng tiết testosterone [4], [9], [10], [24].
1.4.2. Sự ứ đọng chất bã:
Sự sản xuất quá mức kết hợp với dày sừng ở phểu nang lông gây nên
hiện tượng ứ đọng chất bã, nguyên nhân của sự dày sừng là do tác dụng kích
thích của chất bã lên thành nang lông. Quá trình sừng hoá chịu tác dụng của 3
yếu tố:
- Có tính chất gia đình.
- Do tăng axit béo tự do ở trong chất bã.
tế bào của chất bã [3], [12], [21], [23], [24].
1.5. Chẩn đoán bệnh trứng cá:
Chẩn đoán lâm sàng là chủ yếu dựa vào các tổn thương cơ bản [11],
[13], [21], [25].
1.5.1. Tiết bã: Đây là yếu tố thuận lợi để phát triển tổn thương trứng cá, sờ
vào da thấy nhờn giống như dầu, trơn láng gặp ở vùng trán, má, mũi, vùng
ngực trên, da đầu và vùng quanh tai.
1.5.2. Cồi mở: Là những đầu đen hay là những chồi sừng nhỏ kích thước từ 13 mm ở trong các lỗ của tuyến bã. Màu đen của phần ngoài là do sự oxy hoá
các chất bã và ứ đọng melanin của phần phểu ống bao quanh cồi mở, những
cồi mở này có thể thoát ra tự nhiên và ít khi có hiện tượng viêm.
1.5.3. Kén nhỏ: Là những điểm trắng nhỏ (đầu trắng) kích thước từ 2-3 mm
thường thấy ở má và cằm. Do sự tích tụ của chất bã và những sợi sừng trộn lẫn
với vi khuẩn ở phần bóng của tuyến bã.
8
1.5.4. Sẩn: Là những tổn thương viêm đường kính nhỏ hơn 5 mm, thường
nhô cao màu đỏ, mềm, thỉnh thoảng đau. Diễn tiến có thể tự hấp thụ hay
thành mụn mủ.
1.5.5. Mụn mủ: Là những sẩn chứa mủ màu vàng, tổn thương vùng quanh miệng
thường có bội nhiễm tụ cầu vàng, vi khuẩn gram âm hoặc nấm men.
1.5.6. Nốt (cục): Là những tổn thương viêm, thường diễn tiến thành áp xe vở
tạo thành sẹo, là những tổn thương đặc, đường kính 4-10 mm. Tổn thương
này cho thấy hình thái nặng của trứng cá.
1.5.7. Tổn thương khác: Viêm nang lông, dò, sẹo lõm, sẹo phì đại, sẹo bắc
cầu, sẹo lồi, đây là tổn thương thứ phát.
1.6. Diễn biến của bệnh trứng cá:
- Bệnh trứng cá thường đa phần tiến triển đến lui bệnh tự nhiên sau tuổi
25. Tuy nhiên có thể chậm hơn ở phụ nữ, phần lớn trứng cá thanh thiếu niên
bị bệnh không để lại sẹo.
Thuốc điều trị: [3], [12]
* Điều trị toàn thân:
- Điều trị bằng hormone:
Điều trị mụn trứng cá bằng thuốc ngừa thai uống đã đem lại những
thành công trong những thập niên gần đây, phương thuốc điều trị này là một
khám phá mới cho bệnh nhân nữ. Lần đầu tiên vào năm 1997 đã chấp thuận
dùng một loại thuốc ngừa thai kết hợp bằng đường uống trong việc điều trị
mụn trứng cá, thuốc này gồm norgestimate 0,215 mg và ethenylestradiol
0,035 mg. Tác dụng phụ chủ yếu của thuốc là buồn nôn và giới hạn của
phương thức điều trị này hiển nhiên là dùng không được cho bệnh nhân nam.
Một thuốc thay thế cho điều trị mụn trứng cá do hormone ở nữ là
Spironolactone, liều tấn công 200mg/ngày và duy trì 50 – 176 mg/ngày (tuỳ
dung nạp). Spironolactone có thể kết hợp với điều trị thuốc ngừa thai bằng
đường uống.
- Kháng sinh:
+ Tetracycline (chlohydrate de Tetracyclin 500 mg)
Liều giảm dần:
10
1,5g/ngày trong 8 ngày
0,5g/ngày trong 1 tháng
0,25g/ngày trong nhiều tháng
Hoặc liều không đổi 1g/ngày
Hiệu quả và không có hại với liều ≤1g/ngày trong thời gian lâu dài
+ Cyclines thế hệ 2 (Doxycycline 100mg, minocycline 100mg)
Liều dùng 1-2 viên/ngày.
Cũng có hiệu quả như Tetracycline.
+ Kháng sinh khác:
Erythromycin: liều dùng 1.5 – 2g/ngày.
mụn trứng cá.
+ Có thể có hoạt tính kháng viêm.
+ Tác dụng phụ giống Tretinoin, nhưng tỉ lệ ít gặp hơn.
- Tazarotene:
Là một Retinoids tổng hợp được sử dụng trên thị trường từ năm 1997
để điều trị vẩy nến. Sau khi thoa tại chỗ sẽ biến thành một chất biến dưỡng
hoạt động là acid tazarotenic.
Có hai dạng chế phẩm được sử dụng trong điều trị là dạng gel và
cream, tuy nhiên Tazarotene 0,1% gel có tác dụng hiệu quả hơn nhưng phản
ứng đỏ da và kích ứng thường gặp hơn.
- Benzoyl peroxide:
Là một chất có khả năng diệt khuẩn với phổ tác dụng rộng thuốc ở dạng
cream, gel và chất làm sạch có nồng độ 2,5-10%.
Thuốc làm giảm đáng kể propionibacterium acnes và acid béo tự do ở
tuyến bã, ngoài ra thuốc có tác dụng chống viêm và tiêu comedons.
Tác dụng phụ thường gặp nhất là khô da và nhạy cảm với ánh sáng.
Nên dùng thuốc vào buổi chiều để làm giảm nhạy cảm với ánh sáng.
- Kháng sinh:
Hai kháng sinh dùng tại chỗ là Clindamycine và Erythromycine ở dung
dịch tan trong cồn đã được sử dụng rộng rãi trong hai thập kỷ qua.
12
Những thuốc này có tác dụng giảm sự tạo khúm của vi trùng propioni
bacterium acnes cũng như có hiệu quả chống viêm trực tiếp thông qua ức chế
sự hoá ứng động của neutrophil.
- Acide Azelaic:
Thường dùng dưới dạng cream 20% có tác dụng trên sừng phểu ống
ngăn chặn comedons, có tác dụng kìm khuẩn, ngoài ra không thấy tình trạng
vi trùng đề kháng. Tác dụng phụ là ngứa và cảm giác bỏng tại chỗ.
2.2.2. Thời gian nghiên cứu:
Từ ngày 15 - 3 - 2007 đến ngày 30 - 3 -2007
2.2.3. Các chỉ số nghiên cứu:
- Tuổi, giới của đối tượng điều tra
- Tình hình mắc bệnh trứng cá của đối tượng
- Ảnh hưởng của bệnh trứng cá đến vấn đề tâm lý
14
- Kiến thức của các em học sinh về nguyên nhân của bệnh trứng cá
- Tình hình sử dụng thuốc của đối tượng
- Sử dụng thuốc theo nguồn thông tin
- Hiệu quả sử dụng thuốc
- Hành vi can thiệp
- Hiệu quả can thiệp
2.2.4. Phương pháp tiến hành:
- Chúng tôi tiến hành soạn phiếu điều tra với những nội dung điều tra
cụ thể, sau khi được cô giáo hướng dẫn dựa vào mục tiêu đề ra của đề tài
(phiếu điều tra phần phụ lục)
- Lập kế hoạch và chọn địa điểm để tiến hành điều tra
- Liên hệ với ban giám hiệu nhà trường cấp III Hai Bà Trưng và giáo
viên chủ nhiệm các lớp. Được sự giúp đỡ, chúng em gặp trực tiếp các em học
sinh, tiếp xúc, giới thiệu, trao đổi và giải thích mục tiêu điều tra, mô tả bệnh
trứng cá cho các em trong các lớp đã chọn ngẫu nhiên.
Tiến hành phát phiếu điều tra.
Hướng dẫn cách ghi phần hành chính: Họ và tên, tuổi, giới, lớp, trường.
Hướng dẫn cách đánh dấu vào câu hỏi phỏng vấn ở phiếu điều tra.
- Ảnh hưởng của bệnh đến vấn đề tâm lý bao gồm:
. Lo lắng
. Xấu hổ
+ Nguồn gốc thuốc mà các em sử dụng chúng tôi cũng thiết kế dưới
dạng ô trống bao gồm:
. Tự mua ở chợ
. Tự mua ở quầy thuốc
. Quầy thuốc tự bán
. Bạn bè mua giúp
. Mua theo quảng cáo
. Đến Bác sỹ chuyên khoa
. Đến Bác sỹ đa khoa
16
+ Đánh giá phần hiệu quả sử dụng thuốc sau khi sử dụng được chia làm
3 mức độ:
. Đỡ: bệnh giảm về số lượng và tình trạng viêm
. Không đỡ: bệnh không thuyên giảm
. Nặng lên: bệnh tiến triển về số lượng và tình trạng viêm
+ Phần sử dụng thuốc uống cũng có các mục tên thuốc đã sử dụng và
hiệu quả sử dụng cũng giống phần sử dụng thuốc bôi.
- Tìm hiểu về hành vi can thiệp thường gặp, đánh dấu vào ô có hoặc
không, bao gồm:
. Gỡ mụn
. Nặn mụn
. Chích lễ
+ Hướng dẫn cách đánh giá hiệu quả ngay sau mỗi biện pháp bao gồm
cả tốt lẫn xấu như:
. Đỡ
. Trợt da
. Thâm gia
. Sẹo
19
TL
14,2%
Sl
115
TL
85,8%
Nữ
164
20
12,2%
144
87,8%
298
39
13,1%
259
20%
32
56,1%
< 0,01
17
6
15,4%
17
30,9%
> 0,05
18
11
22%
17
32,7%
16
4
8,9%
11
19,3%
> 0,05
17
1
2,6%
11
20%
< 0,05
18
6
12%
18
Tổng số
24
23
22
69
53,3%
59%
44%
51,5%
Nữ khó chịu chiếm tỉ lệ 51,8%
Nam khó chịu chiếm tỉ lệ 51,5%
25
27
33
85
TL
43,9%
49,1%
63,5%
51,8%
> 0,05
> 0,05
< 0,05
> 0,05
17
1
2,6%
2
3,6%
> 0,05
18
4
8%
0
0%
Tổng số
6
4,5%
26
45,6%
> 0,05
17
6
15,4%
20
36,4%
< 0,05
18
9
18%
14
26,9%
> 0,05
Nữ
TL
6,7%
2,6%
10%
6,7%
SL
12
5
4
21
TL
21,1%
9,1%
7,7%
12,8%
< 0,05
> 0,05
> 0,05
< 0,05
Nữ sợ mọi người nhìn mình chiếm tỉ lệ 12,8%.
Nam sợ mọi người nhìn mình chiếm tỉ lệ 6,7%.
3.1.2.7. Tỉ lệ học sinh bệnh trứng cá có xấu hổ với người khác phái:
Bảng 3.8: Tỉ lệ học sinh bệnh trứng cá có xấu hổ với người khác phái
Nhóm tuổi
8
14,5%
> 0,05
18
5
10%
6
11,5%
> 0,05
Tổng số
13
9,7%
27
16,5%
< 0,05
2
9
TL
3,5%
9,1%
3,8%
5,5%
>0,05
3.2. Nhận thức về nguyên nhân của bệnh trứng cá và cách xử lý:
3.2.1. Nhận thức về nguyên nhân của bệnh trứng cá:
Bảng 3.11: Số lượng và tỉ lệ học sinh nhận thức về nguyên nhân của bệnh
trứng cá
Nam
Nguyên nhân
Nữ
Do tuổi
SL
31
TL
23,1%
SL
17
TL
10,4%
Nấm
4
3%
5
3%
>0,05
Nang läng bị bít
8
6%
25
15,2%
TL
SL
TL
SL
TL
Có điều trị
70
52,2%
118
72%
188
63%
Không điều trị
64
47,8%
24
3.2.2.2. Dạng thuốc sử dụng:
Bảng 3.13: Số lượng và tỉ lệ sử dụng thuốc bôi và thuốc uống
Nam
Thuốc
Nữ
Tổng số
SL
29
TL
21,6%
SL
56
TL
34,1%
SL
85
TL
28,5%
Thuốc uống
>0,05
- Nam sử dụng thuốc bôi chiếm tỉ lệ 21,6%, nữ chiếm tỉ lệ 34,1%.
- Nam sử dụng thuốc uống chiếm tỉ lệ 3%, nữ chiếm tỉ lệ 4,9%
3.2.2.3. Sử dụng thuốc theo nguồn thông tin:
Bảng 3.14: Số lượng và tỉ lệ thuốc được sử dụng từ nguồn thông tin
Nguồn thông tin
Nam
Nữ
Tổng số
Tự mua ở chợ
SL
13
TL
34,2%
SL
25
TL
65,8%
SL
38
3,2%
Bạn bè mua giúp
1
20%
4
80%
5
4%
Mua theo quảng cáo
7
28%
18
72%
25
20%
46
36,5%
80
63,5%
126
100%
- Tự mua thuốc ở quầy bán thuốc chiếm tỉ lệ là 33,3%
- Tự mua thuốc ở chợ chiếm tỉ lệ là 30,1%
- Mua theo quảng cáo chiếm tỉ lệ là 20%
- Đến bác sỹ chuyên khoa chiếm tỉ lệ 7,9%
25
Biểu đồ 3.4: Tỉ lệ sử dụng thuốc theo nguồn thông tin
3.2.2.4. Hiệu quả sử dụng thuốc:
Hiệu quả sử dụng thuốc bôi:
3.15: Số lượng và tỉ lệ hiệu quả sử dụng thuốc bôi
Số sử dụng
Đở
Không đở
0%
2
Trangala
7
8,2%
1
14,3% 4
FluCina
4
4,7%
0
0%
4
Hazelin
8
9,4%
3
37,5% 5
Vitamin E
2
2,4%
0
0%
2
Sửa rửa mặt Pond 1
1,2%
0
0%
1
O lay
33%
57,1%
100%
62,5%
100%
100%
100%
78%
62,5%
51%
Nặng lên
SL
TL
0
0
0
0
0
0
6
60%
4
67%
2 28,6%
0
0
0
0
0