Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 11 * Phụ bản Số 2 * 2007
THỰC TRẠNG NHIỄM GIUN KIM Ở TRẺ EM NHÀ TRẺ, MẪU GIÁO
VÀ HIỆU QUẢ BIỆN PHÁP CAN THIỆP Ở MỘT SỐ XÃ HUYỆN VŨ THƯ
TỈNH THÁI BÌNH
Lê Thò Tuyết*, Vũ Thò Bình Phương*
TÓM TẮT
Mục tiêu: (1) Xác đònh tỷ lệ nhiễm giun kim ở trẻ em, nhà trẻ, mẫu giáo tại 3 xã thuộc huyện Vũ Thư,
Thái Bình .(2) Đánh giá hiệu quả của 2 biện pháp can thiệp.
Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang và can thiệp có đối chứng.
Kết quả và kết luận: Tỷ lệ nhiễm giun kim ở trẻ em nhà trẻ, mẫu giáo 3 xã rất cao (54,7%), giữa 3 xã
(58,4% so với 53,5% và 52,3%) không có sự khác biệt trong phòng chống bệnh giun kim ở trẻ em.Tỷ lệ
nhiễm giun kim của chung ở nhóm 37-72 tháng tuổi (60,5%) cao hơn nhóm 12-36 tháng tuổi (49,6%) có ý
nghóa và giữa nam với nữ không có sự khác biệt (52,6% và 55,9%).• Hai xã được can thiệp (Minh Quang và
Tân Phong): tỷ lệ nhiễm giun kim đều giảm so với trước can thiệp (32,5% so với 58,4% và 36,5% so với
53,5%) và so với xã chứng (48,3%). • Can thiệp bằng điều trò thuốc tẩy giun (Minh Quang), tỷ lệ nhiễm giun
kim giảm được tương đương với biện pháp tuyên truyền GDSK về bệnh giun kim (Tân Phong): 44,3% và
31,8%.Xã Tân Phong (can thiệp GDSK): nhận thức đúng của người nuôi dạy trẻ về bệnh giun kim: đường
lây nhiễm, vò trí ký sinh của giun kim, về tác hại bệnh và về biện pháp phòng chống bệnh, sau can thiệp đều
tăng có ý nghóa so với trước can thiệp và so với 2 xã chứng: Minh Quang và Việt Hùng (không được tuyên
truyền GDSK về bệnh giun kim).Thực hành của người nuôi dạy trẻ về phòng chống bệnh giun kim tăng lên
rõ so với trước can thiệp và với 2 xã chứng như không mặc quần thủng đũng cho trẻ, thường xuyên rửa tay
trước khi ăn, rửa hậu môn hàng ngày cho trẻ vào buổi sáng sớm, cắt móng tay thường xuyên cho trẻ, dùng
thuốc tẩy giun cho trẻ. • Hai xã chứng (không được can thiệp GDSK): sau và trước khi nghiên cứu, tất cả
các chỉ số trên, không có sự khác biệt.
ABSTRACT
PRESENT STATUS OF ENTEROBIUS VERMICULARIS INFESTATION AND EFFECTIVENESS OF
control communes (Minh Quang and Viet Hung): intrusional ways, threaworm’s place in human, harms of
enterobiasis, and prevented ways. The right practices of children’s parent and teachers about enterobiasis
has increased satistically significant comparison before intervention and 2 control communes: didn‘t wear
seat opened trousers for children, always cleanse them hands before eating, cleanse anal everyday in the
early morning, always cut children’ nails, helminthic for children. Minh Quang, Viet Hung communes (no
intervention hygiene of habitat and healthy education): there is no remarkable change all above indexes after
comparison with before research.
Để tăng cường ý thức vệ sinh của các bà mẹ,
ĐẶT VẤN ĐỀ
các cô nuôi dạy trẻ hàng ngày đối với con, em và
Bệnh giun kim là một bệnh khá phổ biến ở
gia đình của họ, đặc biệt là để làm giảm gánh
hầu hết các nước trên thế giới, nhất là những nước
nặng về bệnh giun kim cho trẻ em tại cộng đồng,
nhiệt đới và cận nhiệt đới. Theo ước tính, trên thế
mà ít tốn kém về kinh tế, chúng tôi nghiên cứu đề
giới có khoảng 1 tỷ người nhiễm giun kim, nhưng
tài nhằm mục tiêu:
tập trung chủ yếu vào lứa tuổi học đường, sống ở
- Xác đònh thực trạng nhiễm giun kim ở trẻ
trong các tập thể có điều kiện sinh hoạt thấp kém
em nhà trẻ, mẫu giáo tại 3 xã huyện Vũ Thư, tỉnh
như: quá đông đúc, môi trường ô nhiễm, thiếu
Thái Bình.
nước sạch trong sinh hoạt...
- Đánh giá hiệu quả của một số biện pháp can
Việt Nam chúng ta, bệnh lại càng phổ biến
thiệp trong phòng chống bệnh giun kim ở trẻ em
hơn vì: không những mang đầy đủ nét đặc trưng
nhà trẻ, mẫu giáo tại 2 xã nghiên cứu.
- Xã Tân Phong: nhận biện pháp can thiệp
điều trò thuốc tẩy giun kim
- Xã Minh Quang: nhận biện pháp can thiệp
tuyên truyền giáo dục sức khoẻ (GDSK) về bệnh
giun kim
- Xã Việt Hùng: xã chứng, không can thiệp
bất cứ biện pháp gì
Đối tượng nghiên cứu
- Trẻ em nhà trẻ, mẫu giáo tại 3 trường
mầm non của 3 xã nghiên cứu
- Cha/ mẹ và cô nuôi dạy các cháu trên
Chuyên Đề Ký Sinh Trùng
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 11 * Phụ bản Số 2 * 2007
Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 8/2005 đến tháng 7/2006
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
- Nghiên cứu mô tả điều tra cắt ngang
- Nghiên cứu can thiệp: có đối chứng và tự chứng.
Chọn mẫu và cỡ mẫu
Chọn mẫu
Xác đònh thực trạng nhiễm giun kim ở trẻ em
nhà trẻ, mẫu giáo
Tất cả trẻ em được chọn vào danh sách
nghiên cứu, được xét nghiệm bệnh phẩm ở hậu
môn để tìm trứng giun kim, theo phương pháp
dùng tăm bông của Đặng Văn Ngữ .
Đánh giá hiệu quả của các biện pháp can thiệp
Bước 1: Tiến hành các biện pháp can thiệp
- Can thiệp tuyên truyền Giáo dục sức khoẻ
(GDSK) về bệnh giun kim
Tuyên truyền liên tục trong thời gian 6 tháng
cho cha/ mẹ, cô giáo nuôi dạy các cháu và các
cháu đã được lấy vào danh sách nghiên cứu ở xã
Tân Phong về bệnh giun kim như đường lây
truyền, tác hại và cách phòng chống bệnh, đặc
biệt nhấn mạnh về điều trò là phòng bệnh, không
cần dùng thuốc, đỡ tốn kém cho cộng đồng về
mặt kinh tế cụ thể:
4. 2.2. Cỡ mẫu
„ Tăng cường vệ sinh tại gia đình như: nhà
cửa, chăn, chiếu....
- Cỡ mẫu cho nghiên cứu thực trạng nhiễm
giun kim
„ Tăng cường vệ sinh lớp học: lau nhà, lau bàn
ghế, rửa đồ chơi.
cứu của xã Minh Quang: 4 tháng uống 1 lần x 2
lần.
Cho uống Mebendazole (Fugacar) 1 viên
500mg liều duy nhất, tại lớp dưới sự hướng dẫn
33
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 11 * Phụ bản Số 2* 2007
của cán bộ nghiên cứu, cô giáo chủ nhiệm. Theo
dõi tác dụng phụ của thuốc trong 3 ngày đầu.
Bước 2: Giám sát và đánh giá
- Đánh giá tỷ lệ nhiễm giun kim của trẻ em
nhà trẻ, mẫu giáo trước, sau nghiên cứu ở 3 xã,
giữa xã can thiệp với xã chứng, giữa 2 xã can
thiệp với nhau dựa vào kết quả xét nghiệm tìm
trứng giun kim ở hậu môn trẻ.
- Đánh giá nhận thức, thực hành của các
cha/mẹ và cô nuôi dạy trẻ trước và sau nghiên
cứu ở 3 xã và xã can thiệp với xã chứng: dựa vào
kết quả phiếu điều tra để so sánh tỷ lệ đúng, sai
về nhận thức, thực hành qua phỏng vấn trực tiếp
người nuôi/dạy trẻ những câu hỏi đơn giản dễ
hiểu về bệnh giun kim như nguyên nhân gây
bệnh, tác hại, cách phòng chống... đã được thiết
kế từ trước.
C ác chỉ số cần nghiên cứu
- Tỷ lệ nhiễm giun kim trước, sau can thiệp
- Tỷ lệ nhận thức/thực hành đúng về bệnh
VH
(n=390)
n
%
Chung
(n=1162)
p
n
%
Nam
114/19
102/19
102/20
318/60
>0,0
57,3
51,3
49,5
52,6
9
9
6
4
em trường mầm non Đại học Y Thái Nguyên, tỷ lệ
nhiễm giun kim 45,6%, của Lê Bách Quang, Trònh
Trọng Phụng [3], tỷ lệ nhiễm giun kim ở nhà trẻ tại
một xã nông nghiệp thuộc tỉnh Hà Tây 46,7% ,thì
các kết quả trên, thấp hơn trong kết quả của chúng
tôi.
So với nghiên cứu của Thân Trọng Quang [6],
ở một số nhà trẻ và trường mẫu giáo của TP.
Buôn Ma Thuột Đăklăk, tỷ lệ nhiễm giun kim
80,24%, của Kim JS, Yoon CH, et al năm 1997 [1],
tại 2 trường mầm non ở Inchon - Hàn Quốc, tỷ lệ
nhiễm giun kim là 68%, thì các kết quả trên cao
hơn kết quả nghiên cứu của chúng tôi.
- Tỷ lệ nhiễm giun kim giữa nam với nữ của
chung 3 xã (52,6% và 55,9%) và giữa các xã với
nhau, không có sự khác biệt, p>0,05.
Điều này cũng phù hợp với tác giả Lại Quang
Sáng [3], tỷ lệ nhiễm giun kim của trẻ em nam
tương đương nữ (33,3% so với 37,0%).
Bảng 2: Tỷ lệ nhiễm giun kim theo nhóm tuổi ở trẻ
em 3 xã nghiên cứu
Xã NC
M.
Quang
< 12 tháng
tuổi
12- 36 tháng
p
0
p
p
6
Chung 226
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Thực trạng nhiễm giun kim ở trẻ em nhà
trẻ, mẫu giáo tại 3 xã NC
Nghiên cứu Y học
171 89 52,0 216 137 63,4
Điều này cũng phù hợp với nghiên cứu của
Vũ Văn Thái [8], tỷ lệ nhiễm giun kim ở nhóm tuổi
12-36 tháng và nhóm 37-72 tháng là 29,0%;
37,5% và Phạm Thò Hiển [6], nhóm 1-3 tuổi là
30,6%, 4-6 tuổi là 48,8%.
Hiệu quả của các biện pháp can thiệp
Bảng 3: Tỷ lệ nhiễm, giảm nhiễm giun kim trước
và sau can thiệp
Trước can
%
Sau can thiệp(CT)
Xã
thiệp(CT)
giảm
nghiên
nhiễ
MẫuN Số(+
Mẫu
cứu (NC)
%
Số (+) %
m
C
)
NC
M.
Quang
(1)
>0,05
p (1,2)>0,05; p
(2,,3)
phong
400
395 98,8 390
390
100,
>0,0
1,2
0
5
Việt
Hùng
401
384 95,8 396
391
98,7 2,9
p
>0,05
>0,0
truyền
NC
n %
n
%
3. Tác
hại
4. Biện
pháp
phòng
n
n
%
%
35
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 11 * Phụ bản Số 2* 2007
TrướcCT(N=368)
272 73,9 160 43,5 298 81,0 257 69,8
(1)
MQ SauCT(N=367)
285 77,7 161 43,9 308 83,9 268 73,0
(6)
p
>0,05
>0,05
>0,05
>0,05
p (1,3,5)
>0,05
p (1,3,5)
>0,05
p (1,3,5)
>0,05
p(1,3,5)
>0,05
p (2, 6)
>0,05
p (2, 6)
>0,05
xã về bệnh giun kim đều tương đối cao và giữa
các xã không có sự khác biệt, p>0,05.
[9]
So với nghiên cứu của Vũ Văn Thái , nhận
thức đúng của người chăm sóc trẻ tại tại trường
mầm non Sao Sáng - Hải Phòng về: đường lây
nhiễm giun kim là là 71,1%, tương đương, về tác
hại bệnh giun kim là 23,04%, thì thấp hơn, về
phòng chống bệnh giun kim là 80,4%, thì cao hơn,
so với kết quả trong nghiên cứu của chúng tôi.
- Sau can thiệp
Xã Tân Phong (can thiệp GDSK), tỷ lệ nhận
thức đúng của người nuôi dạy trẻ, về bệnh giun
kim, sau can thiệp tăng lên so với trước và so với
2 xã không được can thiệp, như: đường lây nhiễm
giun kim là 93,8% so với 66,3%; 77,7% và 70,8%;
vò trí ký sinh là 88,5% so với 50,9%; 43,9% và
36
Nghiên cứu Y học
51,4%, tác hại bệnh giun kim là 95,4% so với
79,0%; 83,9% và 82,9%, biện pháp phòng chống
là 95,9% so với 70,6%; 73,0% và 67,5%, sự khác
biệt có ý nghóa thống kê, p
%
n
5
%
n
%
TrướcCT
(n=368)
276 75,0 154 41,8 90 24,5 210 57,1 99 26,9
SauCT
(n=367)
286 77,9 169 46,0 107 29,2 214 58,3 342 93,2
p
> 0,05
> 0,05
> 0,05
> 0,05
p
293 74,9 155 39,6 111 28,4 203 51,9 134 34,3
> 0,05
> 0,05
> 0,05
> 0,05
> 0,05
1. Không mặc quần thủng đũng cho trẻ;
2. Rửa tay trước khi ăn cho trẻ
3. Rửa hậu môn thường xuyên vào sáng sớm
cho trẻ;
4. Cắt móng tay thường xuyên cho trẻ.
5. Tẩy giun cho trẻ trong vòng 6 tháng qua.
Kết quả bảng 6 cho thấy:
- Trước can thiệp
Thực hành đúng của người nuôi dạy trẻ 3 xã
về bệnh giun kim đối với trẻ đều thấp và giữa 3
xã không có sự khác biệt, p> 0,05.
Chuyên Đề Ký Sinh Trùng
Nghiên cứu Y học
Riêng thực hành tẩy giun cho trẻ trong vòng 6
tháng qua ở cả xã MQ và TP đều tăng so với trước
can thiệp (93,2% so với 26,9% và 51,8% so với
24,6%) và so với xã chứng (93,2% và 51,8% so với
34,3%). Nguyên nhân là xã MQ trẻ được uống thuốc
giun do chúng tôi phát, còn TP là do tuyên truyền
GDSK về bệnh giun kim trực tiếp đến đối tượng, nên
nhận thức của người dân về bệnh giun kim tăng lên,
vì vậy họ tự đi mua thuốc về điều trò cho con của họ,
nhất là sau khi có kết quả xét nghiệm.
„ Hai xã (không can thiệp GDSK): MQ và
VH, thực hành đúng về bệnh giun kim của người
nuôi dạy trẻ trước, sau nghiên cứu và giữa 2 xã
không có sự khác biệt, p>0,05.
- Hiệu quả đối với nhận thức, thực hành của
người nuôi dạy trẻ về bệnh giun kim
„ Xã Tân Phong (can thiệp GDSK): nhận thức
đúng của người nuôi dạy trẻ về bệnh giun kim:
đường lây nhiễm, vò trí ký sinh của giun kim, về
tác hại bệnh và về biện pháp phòng chống bệnh,
sau can thiệp đều tăng có ý nghóa so với trước can
thiệp và so với 2 xã chứng: Minh Quang và Việt
Hùng (không được tuyên truyền GDSK về bệnh
giun kim).
Thực hành của người nuôi dạy trẻ về phòng
chống bệnh giun kim tăng lên rõ so với trước can
thiệp và với 2 xã chứng như không mặc quần
thủng đũng cho trẻ, thường xuyên rửa tay trước
trẻ em nhà trẻ, mẫu giáo
Chuyên Đề Ký Sinh Trùng
4.
Kim BJ, Yeon JW, Ock MS (2001), “ Infection rates of
Enterobius vermicularis and Clonorchis sinensis of primary
school children in Hamyang-gun, Gyeongsangnam-do
(province), Korea)”. Korean J Parasitol, 39: 323-325.
Lại Quang Sáng và ctv (2004), Tình hình nhiễm giun kim của
trẻ em lứa tuổi nhà trẻ- mẫu giáo tại trường mầm non số 2
Thành Phố Nam Đònh và hiệu quả của Mebendazol”. Tạp chí
y học thực hành . Hội nghò KH chuyên ngành ký sinh trùng
toàn quốc lần thứ 31, Quy Nhơn, số 477/2004. Bộ y tế xuất
bản. tr. 93-95.
Lê Bách Quang, Trònh Trọng Phụng (1991), “Áp dụng phương
pháp điều trò trọn lọc phòng chống bệnh giun sán truyền qua đất
theo mô hình tổ chức y tế và nhân dân cùng làm”, Chương trình hội
thảo quốc gia lần thứ 3 về dòch tễ và phòng chống các bệnh giun
sán chủ yếu ở Việt Nam, Hà Nội 9/10-14/101991, tr 5.
Nông Thanh Sơn (2000), “Đánh giá tác động của can thiệp tới
nhận thức, thái độ, thực hành của người dân về bệnh giun sán
và VSMT tại xã nam Hoà- huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái
Nguyên”. Nội san KHCN Y Dược, Số 1 chuyên đề Ký sinh
37
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 11 * Phụ bản Số 2* 2007
Vũ Văn Thái (2004), “Một só đặc điểm dòch tễ học giun kim ở
trẻ em 1-6 tuổi tại trường mầm non Hải Phòng”. Luận án
Thạc só Y học 2004. Đại học Y Hà Nội.
Chuyên Đề Ký Sinh Trùng