TÌNH HÌNH BẠO LỰC ĐỐI VỚI PHỤ NỮ 15-49 TUỔI CÓ GIA ĐÌNH TẠI XÃ VĨNH PHÚ TỈNH BÌNH DƯƠNG NĂM 2009 - Pdf 33

TÌNH HÌNH BẠO LỰC ĐỐI VỚI PHỤ NỮ 15-49 TUỔI CÓ GIA ĐÌNH
TẠI XÃ VĨNH PHÚ TỈNH BÌNH DƯƠNG NĂM 2009
Nguyễn Nhất Chi Mai[1], Nguyễn Đỗ Nguyên**, Nguyễn Hồng Hoa**
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Đây là một nghiên cứu định lượng về tình hình bạo lực đối với 243 phụ nữ
15-49 tuổi nói riêng ở xã Vĩnh Phú, tỉnh Bình Dương nhằm xác định tỷ lệ phụ nữ bị bạo lực
và các mối liên quan giữa bạo lực với các đặc tính của phụ nữ. Qua đó nghiên cứu đã chỉ ra
việc phản ứng của phụ nữ khi họ bị bạo lực có liên quan đến nghề nghiệp và trình độ học
vấn của họ. Kết quả này gợi ý cho phụ nữ rằng nếu muốn có phản ứng đúng khi bị người
chồng bạo lực thì trước tiên nên nâng cao nhận thức về vấn đề bạo lực gia đình, và tiếp theo
là phải độc lập về kinh tế bản thân.
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ bạo lực đối với phụ nữ từ 15-49 tuổi có gia đình tại xã Vĩnh
Phú-Bình Dương năm 2009 và mối liên quan giữa bạo lực với các đặc tính của phụ nữ.
Phương pháp: dùng phương pháp nghiên cứu cắt ngang mô tả.
Kết quả: tình trạng bạo lực xảy ra nhiều ở phụ nữ lứa tuổi 22-44, đa số họ ở nhà và
thiếu kinh nghiệm trong cuộc sống hôn nhân gia đình. Xô đẩy và chửi mắng, nạt nộ là
những hình thức bạo lực thường xảy ra. Hầu hết các tình huống dẫn đến bạo lực là do
người chồng uống rượu gây nên nhưng bản thân người vợ lại không biết phản ứng lại
với các tình huống đó. Tuy nhiên, họ vẫn nghĩ rằng hội liên hiệp phụ nữ là nơi hỗ trợ cho
họ khi vấn đề bạo lực xảy đến với họ, mặt khác họ tin rằng cách giải quyết tốt nhất là
hòa giải cho các cặp vợ chồng.
Kết luận: nhìn chung hầu hết các phụ nữ trong cuộc nghiên cứu này đều chịu đựng tình
trạng bạo lực, điều này có ý nghĩa thống kê liên quan đến nơi ở và trình độ học vấn của phụ
nữ. Thêm vào đó nghề nghiệp và cách phản ứng của phụ nữ khi họ bị bạo lực cũng có sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê.
Từ khóa: Bạo lực gia đình, bạo lực, bạo lực đối với phụ nữ.


ABSTRACT
VIOLENCE STATUS OF MARRIED WOMEN WHO ARE FROM 15 TO 49 YEARS OLD IN
VINH PHU COMMUNITY IN BINH DUONG PROVINCE, 2009

nước có phong tục tập quán khác nhau. Chính vì vậy “Hội thảo toàn Thế Giới về nhân quyền
được tổ chức ở Vienne năm 1993” đã ra đời các luật và chính sách Phòng chống bạo lực gia
đình. Do đó bạo lực gia đình, đặc biệt là bạo hành ở phụ nữ là trái với quyền bình đẳng ở
nam và nữ theo công ước quốc tế.
Việt Nam là một trong những nước đầu tiên phê chuẩn công ước về xóa bỏ tất cả các
hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ vào ngày 17 tháng 2 năm 1982(3). Nhưng mặt khác,
Việt Nam là một nước Á Đông chịu ảnh hưởng lâu đời bởi Nho giáo lễ nghi. Một nghiên
cứu gần đây cho thấy, các yếu tố gây ra bạo lực gia đình rất phức tạp, có thể từ rượu và
mượn rượu (60%), kinh tế (60%), cờ bạc (20%), ngoại tình-ghen tuông (16%), học vấn
thấp (13%), ma tuý (10%), thiếu hiểu biết pháp luật (5%), nguyên nhân khác (17%)(1).
Trước đây chúng ta chỉ mới điều chỉnh hành vi bạo lực bằng đạo đức, dư luận xã hội.
Song có những điều đạo đức và dư luận không thể điều chỉnh được mà cần phải có sự can
thiệp của luật pháp. Chính vì vậy một Luật mới đã ra đời đó là Luật Phòng, chống bạo lực
gia đình, được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày
21-11-2007, có hiệu lực từ ngày 1/7/2008(4); Luật Phòng, chống bạo lực gia đình sẽ góp phần
vào việc xử lý nghiêm khắc các đối tượng bạo lực.
Vừa qua, tại huyện Thuận An đã tổ chức triển khai phổ biến Luật Phòng, chống bạo lực
gia đình cho các cấp hội, câu lạc bộ (CLB) phụ nữ nhà trọ, do đó tình trạng bạo lực đã giảm
đi đáng kể, đặc biệt ở xã Thuận Giao. Tiếp nối với Thuận Giao, mặc dù Vĩnh Phú đã triển
khai công tác tuyên truyền, hòa giải nhưng hàng năm vẫn có khoảng 3 cặp vợ chồng ly hôn
vì bạo lực gia đình. Đây chỉ là bề nổi của tảng băng, thường họ phải chịu đựng bạo lực trong
nhiều năm mới dẫn tới ly hôn, và mới đây chỉ trong vòng hai tháng đầu năm 2009 đã có 2
cặp vợ chồng ở ấp Hòa Long cũng xin ly hôn do bạo lực gia đình.
Từ những điều trên thì việc khảo sát tình hình bạo lực đối với phụ nữ từ 15 đến 49 tuổi đã
có gia đình ở xã Vĩnh Phú, tỉnh Bình Dương năm 2009 là cần thiết nhằm giúp tìm hiểu sâu
hơn về tỷ lệ bạo lực đối với phụ nữ và đề ra các biện pháp can thiệp hiệu quả hơn.
Mục tiêu nghiên cứu
Xác định tỷ lệ bạo lực đối với phụ nữ từ 15-49 tuổi có gia đình tại xã Vĩnh Phú-Bình
Dương năm 2009 và mối liên quan giữa bạo lực với các đặc tính của phụ nữ.
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4 lần/ năm.
Các hình thức bạo lực thể xác (N=53)
Trong số 53 người bị bạo lực về thể xác thì xô đẩy chiếm tỷ lệ nhiều nhất (74%), ít nhất
là bóp cổ (8%).
Các hình thức bạo lực tinh thần (N=171)
Trong số 171 người trả lời có bị bạo lực về tinh thần thì chửi mắng, nạt nộ chiếm tỷ lệ
cao nhất (96%), ít nhất là hành động cấm dùng điện thoại để liên lạc với bạn bè, người thân
(4%).
Các tình huống dẫn đến chồng bạo lực với vợ (N=171)


Trong các tình huống dẫn đến bạo lực thì uống rượu chiếm tỷ lệ cao nhất (62%), thất
nghiệp chiếm tỷ lệ thấp nhất (5%).
Phản ứng của phụ nữ khi bị bạo lực (N=171)
Phản ứng của phụ nữ khi họ bị chồng bạo lực hầu như là không làm gì chiếm 71%, 1%
có phản ứng khác là đập đồ và không có phụ nữ nào dùng rượu sau khi đã bị bạo lực.
Các nguồn trợ giúp cho phụ nữ bị bạo lực được phụ nữ biết đến (N=243)
Nguồn trợ giúp mà phụ nữ biết đến nhiều nhất là Hội liên hiệp phụ nữ (40%), trong khi
đó có 27% phụ nữ hoàn toàn không biết nguồn trợ giúp nào giúp cho phụ nữ bị bạo lực.
Các nguồn cung cấp thông tin về Luật phòng chống bạo lực gia đình mà phụ nữ tiếp
cận được (N =243)
Có 42% phụ nữ trả lời Hội liên hiệp phụ nữ là nguồn cung cấp thông tin về Luật phòng
chống bạo lực gia đình, trong khi đó có 35% phụ nữ hoàn toàn không biết gì về Luật này.
Các đề xuất giải quyết tình trạng bạo lực tạm thời của phụ nữ (N=243)
Có 53% người cho rằng chỉ nên khuyên can hai vợ chồng khi xảy ra bạo lực, các ý kiến
khác như: báo cho HLHPN xã; dạy cho phụ nữ biết về Luật phòng chống bạo lực gia đình;
giáo dục vợ chồng; ly dị; nhờ cộng tác viên hòa giải; phụ nữ ra ở riêng chiếm tỷ lệ rất thấp
4%.



Mù chữ

11 (85)

2 (15)

Cấp 1

63 (71)

26 (29)

0,84

0,64 – 1,09

Cấp 2

72 (73)

26 (27)

0,87

0,67 – 1,13

Cấp 3

20 (59)


18 (30)

0,50

1

0,82 – 1,24

Công nhân

38 (75)

13 (25)

0,31

1,07

0,88 – 1,32

CBVCNN

5 (50)

5 (50)

0,42

0,72


0,08

0,75

0,98 – 1,41

Ấp Tây

43 (84)

8 (16)

0,93

1,18

0,70 – 1,38

Ấp Phú Hội

12 (71)

5 (29)

0,92

0,99

0,80 – 1,28



(*): phép kiểm chi bình phương khuynh hướng

p

PR

KTC 95%

1
0,44 (*)
0,09 (*)

0,89

0,57 – 1,39

0,82

0,50 – 1,35

1

1,01
0,62

0,93

0,67 – 1,28



15 – 21

2 (50)

2 (50)

22 – 44

40 (28)

104 (72)

0,56

0,20 – 1,53

45 – 49

7 (30)

16 (70)

0,61

0,19 – 1,94

Mù chữ

6 (55)


0,73

0,34 – 1,57

Trên cấp 3

1 (20)

4 (80)

0,37

0,06 – 2,30

Nội trợ

21 (28)

54 (72)

0,95

11,02

0,56 – 1,86

Kinh doanh

12 (29)


1,02 – 3,73

Nghề khác

6 (55)

5 (45)

Ấp Đông

18 (31)

40 (69)

0,11

10,44

0,17 – 1,19

Ấp Trung

4 (14)

25 (86)

0,87

1,05


19 (66)

600 ngàn

6 (40)

9 (60)


bạo lực đối với phụ nữ. Tạm gọi nhóm ấp Trung là nhóm thị trấn (vì tiếp xúc với nền công
nghiệp hiện đại), nghiên cứu bạo lực gia đình tại huyện An Dương – Hải Phòng cho thấy phụ
nữ nhóm nông thôn có xu hướng bị bạo lực nhiều hơn nhóm thị trấn(2).
Nghiên cứu đã tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa trình độ học vấn và phản
ứng của phụ nữ khi họ bị bạo lực, với trình độ cấp 1 có 27% phụ nữ có phản ứng ít hơn 0,49


lần (KTC 95% là 0,25 – 0,97) và trình độ cấp 2 có 24% phụ nữ có phản ứng ít hơn 0,43 lần
(KTC 95% là 0,22 – 0,86) so với phản ứng của nhóm phụ nữ mù chữ. Khi trình độ học vấn
cũng như nhận thức của phụ nữ được nâng cao thì phản ứng của họ khi bị bạo lực cũng khác,
họ sẽ ứng xử điềm đạm, suy nghĩ chín chắn hơn, không phải phản ứng tự phát như nhóm
người mù chữ, do đó mà phản ứng của họ ít hơn gần như một nửa so với nhóm mù chữ.
Nghiên cứu đã tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nghề (nội trợ, kinh
doanh, công nhân, CBVCNN, nghề khác: làm mướn, may ở nhà, thêu ở nhà) và phản ứng
của phụ nữ khi họ bị bạo lực, nhóm phụ nữ làm nghề khác như làm mướn, may, thêu có
phản ứng 55% (p=0,04) tăng 1,95 lần (KTC 95% là 1,02 – 3,73) so với phản ứng của nhóm
phụ nữ nội trợ. Những người phụ nữ làm các nghề tự do như làm thuê, may, thêu dù sao
cũng tự có được thu nhập, do đó họ có tiếng nói hơn, đồng thời phản ứng nhiều hơn so với
nhóm phụ nữ làm công việc nội trợ, vì là nội trợ nên họ phụ thuộc hoàn toàn vào kinh tế
người chồng, ở thế thấp hơn về mọi mặt kinh tế và tiếng nói nên họ sẽ ít phản ứng hơn thậm
chí là không phản ứng.
KẾT LUẬN
Nhìn chung số người bị bạo lực chiếm đa số 70%; có mối liên quan có ý nghĩa thống kê
giữa nơi ở và bạo lực; tỷ lệ nhóm phụ nữ sống ở ấp Trung bị bạo lực ít hơn so với nhóm phụ
nữ sống ở ấp Đông; có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa trình độ học vấn và phản ứng
của phụ nữ khi họ bị bạo lực, phụ nữ có trình độ cao hơn sẽ phản ứng ít hơn so với phản ứng
của nhóm phụ nữ có trình độ thấp; có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nghề nghiệp và
phản ứng của phụ nữ khi họ bị bạo lực, nhóm phụ nữ làm nghề khác như làm mướn, may ở
nhà, thêu ở nhà có phản ứng nhiều hơn so với phản ứng của nhóm phụ nữ nội trợ.


2007.

4.

Lê Ba. Sức khỏe. Bạo lực gia đình và giải pháp (2009), />tintuc/Pages/200901/20090120090515.aspx (ngày 20 tháng 2 năm 2009).

5.

Nguyễn Thị Hoàng Mai (2008). “Thực trạng và giải pháp giảm bạo lực gia đình
đối với phụ nữ tại thành phố Đà Nẵng”. Báo cáo Hội nghị sinh viên Nghiên cứu Khoa
học lần thứ 6 Đại học Đà Nẵng: 59-64.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status