1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
--------o0o---------
NGUYỄN THẾ PHƯƠNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC TIẾNG
ANH Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC HUYỆN HÀ TRUNG TỈNH
THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Nghệ An, 2015
1
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
--------o0o---------
NGUYỄN THẾ PHƯƠNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC TIẾNG
ANH Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC HUYỆN HÀ TRUNG TỈNH
THANH HÓA
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Xin được gửi tới các bạn đồng nghiệp, bạn bè, những người thân và
gia đình đã có sự giúp đỡ, động viên, khích lệ đầy quý báu cả về vật chất
cũng như tinh thần để tác giả hoàn thành bản luận văn này.
Dẫu đã có rất nhiều cố gắng và nỗ lực cá nhân song luận văn cũng khó
tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong được sự đóng góp và chỉ dẫn để tác
giả hoàn thiện.
Xin chân thành cảm ơn!
Nghệ An, tháng 5 năm 2015
3
4
Nguyễn Thế Phương
MỤC LỤC
Nội dung
Trang
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC VÀ CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1. Lý do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4. Giả thuyết khoa học
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
6. Phương pháp nghiên cứu
7. Dự kiến những đóng góp của đề tài
6
6
7
7
8
8
11
19
26
34
37
39
39
45
54
66
70
71
4
5
Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC HUYỆN HÀ TRUNG, THANH HÓA
3.1. Nguyên tắc xây dựng các giải pháp.
3.2. Các giải pháp quản lý chất lượng dạy học môn tiếng Anh ở các
trường tiểu học huyện Hà Trung, Thanh Hóa
3.3. Mối quan hệ giữa các giải pháp
3.4. Khảo nghiệm, thăm dò tính cấp thiết và khả thi của các giải pháp
PHỤ LỤC
BẢNG KÝ HIỆU NHỮNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT
CBQL
Cán bộ quản lý
CĐ
Cao đẳng
CLB
Câu lạc bộ
CMHS
Cha mẹ học sinh
CNH - HĐH
Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
CNLN
Công nghiệp làng nghề
CNTT
Công nghệ thông tin
CSVC
Cơ sở vật chất
ĐDDH
Đồ dùng dạy học
ĐH
Đại học
GD
Giáo dục
GD&ĐT
Giáo dục và Đào tạo
GV
Giáo viên
HĐGD
Phổ cập giáo dục
Phương pháp dạy học
Phương tiện dạy học
Quản lý dạy học
Quản lý giáo dục
Thiết bị dạy học
Tiểu học
Trung học cơ sở
Tổ trưởng chuyên môn
Sách giáo khoa
Xã hội chủ nghĩa
Xã hội hoá giáo dục
Uỷ ban nhân dân
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ở bất kỳ một quốc gia nào, giai đoạn lịch sử nào, vấn đề then chốt là
luôn quan tâm xây dựng, phát triển một nền giáo dục vững mạnh. Đó là nhân
tố, quyết định để thúc đẩy sự phát triển của một đất nước. Bởi giáo dục và
đào tạo là tiền đề cơ bản nhất, con đường quan trọng nhất nhằm phát huy
nguồn lực con người để phát triển kinh tế xã hội.
Giáo dục phải đi trước một bước, giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu
tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, tạo nên sự phát triển nhanh và phát
triển bền vững cho mỗi quốc gia. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của
Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định “phát triển giáo dục và đào tạo là một
trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát
triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”. Đại hội chủ trương
“tiếp tục nâng cao chất lượng toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy
và học, hệ thống quản lý giáo dục. Thực hiện chuẩn hóa, xã hội hóa giáo
đào tạo nước nhà. Tuy nhiên, trước nhu cầu phát triển mạnh mẽ của hệ thống
giáo dục quốc dân nói chung, đội ngũ giáo viên tiểu học nói riêng, lực lượng
giáo dục tiểu học vẫn chưa tương xứng về chuyên môn và phân bố chưa đồng
7
8
đều ở các vùng, miền, không đồng đều về chất lượng, thậm chí có cả một bộ
phận giáo viên còn hạn chế về năng lực, kiến thức, kỹ năng trong giảng dạy.
tiếng Anh đã trở thành một phương tiện dùng để giao tiếp trong tất cả mọi
lĩnh vực. Ở nước ta tiếng Anh đã chính thức được Bộ Giáo dục và Đào tạo
đưa vào như là một môn học và đã được phổ cập vào chương trình giảng dạy
ở các trường tiểu học. Để học tốt được bộ môn này yêu cầu học sinh phải có
sự tập trung chú ý cao trong học tập. Các em phải đầu tư nhiều thời gian trong
việc rèn luyện ở lớp cũng như ở nhà.
Bên cạnh sự cố gắng của học sinh, yêu cầu người giáo viên phải có một
kiến thức sâu rộng, có phương pháp truyền đạt thu hút sự chú ý của học sinh
và phù hợp với chương trình, giúp học sinh hứng thú học tập trong bộ môn
này. Ngoài ra giáo viên còn phải đổi mới phương pháp giảng dạy và vận dụng
những kiến thức, cách sử dụng ngoại ngữ đang học. Muốn thế phải xác định
rõ được mục đích của việc học tiếng Anh. Hiện nay, đổi mới phương pháp dạy
học phối hợp với việc sử dụng các phần mềm, chương trình trên Internet là hết
sức cần thiết để có thể phát huy được tính tích cực, sáng tạo và thực tiễn của
học sinh. Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay một bộ phận nhỏ giáo viên đang còn
chưa thành thạo trong việc sử dụng máy tính để tìm kiếm, khai thác những
thông tin trên mạng đặc biệt khai thác kiến thức phục vụ cho bài giảng và nhiều
khi mang tính máy móc và hình thức.
Hiện nay ở các thành phố lớn, thị xã, thị trấn nói chung, vùng nông
thôn nói riêng nhu cầu học ngoại ngữ ngày càng cao, phụ huynh rất quan tâm
thời tiếng Anh giúp trẻ em có độ nhạy cảm về ngôn ngữ cao hơn người lớn
nên sẽ học nhanh hơn và giúp cho quá trình lĩnh hội ngôn ngữ tốt hơn. Nhận
thức được sự vai trò cần thiết đó, Bộ GD&ĐT chỉ đạo thực hiện Đề án
Ngoại ngữ quốc gia 2020 tại 92 trường Tiểu học trên toàn quốc. Việc đảm
bảo chất lượng dạy và học tiếng Anh ở bậc tiểu học là vô cùng quan trọng. Ở
bậc học này, trẻ em cần được tiếp cận với nguồn kiến thức đúng đắn, chính
xác nên giáo viên đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng dạy
9
10
tiếng Anh cho học sinh, giúp các em có hứng thú với giai đoạn đầu của quá
trình học tập.
Trong thời gian qua, ngành Giáo dục và Đào tạo huyện Hà Trung nói
chung và giáo dục tiểu học nói riêng đã có những nỗ lực không ngừng để
phát triển nhằm đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của huyện nói riêng và xã
hội nói chung đặc biệt quản lý chất lượng giảng dạy của đội ngũ giáo viên
dạy tiếng Anh với nhiều giải pháp tích cực. Tuy nhiên, trước nhu cầu phát
triển mạnh mẽ của hệ thống giáo dục quốc dân cũng như giáo dục tiểu học,
lực lượng giáo dục tiểu học nói chung và giáo viên tiểu học huyện Hà Trung,
tỉnh Thanh Hóa nói riêng vẫn còn hạn chế so với yêu cầu chất lượng dạy và
học. Việc hạn chế thể hiện trong quản lý, công tác quy hoạch, kế hoạch chưa
được chú trọng; việc đánh giá, sàng lọc chưa đảm bảo, chính sách thu hút
nhân tài chưa đủ mạnh; phương pháp dạy học, giáo viên chưa đạt chuẩn…
Trên cơ sở những lý do nêu trên, cần phải đưa ra giải pháp quản lý chất
lượng dạy học tiếng Anh bậc Tiểu học trong giai đoạn hiện nay là mang tính
khoa học, tính chiến lược, vừa là đòi hỏi của thực tiễn. Vì vậy, tôi chọn đề tài
nghiên cứu: “Một số giải pháp quản lý chất lượng dạy học tiếng Anh ở các
trường tiểu học huyện Hà Trung tỉnh Thanh Hóa” làm đề tài luận văn thạc
ở các trường Tiểu học.
5.2. Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý chất lượng dạy
học tiếng Anh ở các trường tiểu học huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.
5.3. Đề xuất giải pháp quản lý chất lượng dạy học tiếng Anh ở các
trường tiểu học huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận:
Tham khảo tài liệu về vấn đề nghiên cứu; tìm hiểu các khái niệm, thuật
ngữ liên quan đến đề tài; tổng hợp các Nghị quyết của Đảng của ngành Giáo
dục nước ta và giáo dục huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa; tổng hợp các văn
11
12
bản của nhà nước về giáo dục và đào tạo; nghiên cứu các công trình khoa học
liên quan đến đề tài.
6.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
a. Phương pháp điều tra:
Mục đích điều tra: Thu thập số liệu, tư liệu về thực trạng công tác quản
lý chất lượng dạy học tiếng Anh ở các trường tiểu học nhằm xây dựng cơ sở
thực tiễn cho việc đề xuất các giải pháp.
Nội dung điều tra: Thực trạng chất lượng dạy học tiếng Anh và công
tác quản lý chất lượng dạy học tiếng Anh của các trường tiểu học huyện Hà
Trung, tỉnh Thanh Hóa, những ưu điểm và hạn chế; Nguyên nhân của thực
trạng.
b. Phương pháp quan sát:
Quan sát công tác quản lý chất lượng dạy học tiếng Anh ở trường tiểu
học.
c. Các phương pháp nghiên cứu hỗ trợ khác: Phương pháp chuyên gia,
14
NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC
TIẾNG ANH Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC
1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Ngoài nước
Khổng Tử (551- 479 TCN), nhà giáo dục học lỗi lạc của Trung Quốc
cho rằng: Đất nước muốn phồn vinh, yên bình thì cần chú trọng đến 3 yếu tố:
Thứ (dân tộc đó phải đông dân); Phú (dân tộc đó phải giàu có); Giáo (dân tộc
đó phải được giáo dục). Từ đó ông chủ trương "hữu giáo vô loại". Mục đích
giáo dục là đào tạo ra những người nhân nghĩa, trung chính, hiểu được cái đạo
của người quân tử (đào tạo người quân tử). Nội dung giáo dục tập trung vào
rèn luyện chữ "Nhân" và chữ "Lễ" cho người quân tử. Cụ thể người quân tử
phải sống theo thuyết Tam cương và thuyết Chính danh, sử dụng đạo đức
nhân nghĩa để cai trị, luôn trao đổi lòng nhân ái và đem lại hạnh phúc cho mọi
người như mình mong ước.
Từ cuối thế kỷ XIV, vấn đề dạy học được nhiều nhà giáo dục quan tâm,
nổi bật nhất trong thời kỳ này là: J.A.Cômenxki (1592 - 1670), ông đã đưa ra
quan điểm dạy học phải thích ứng với tự nhiên, theo ông quá trình dạy học để
truyền thụ và tiếp nhận tri thức là phải dựa vào sự vật, hiện tượng do học sinh
tự quan sát, tự suy nghĩ mà hiểu biết, không nên dùng uy quyền bắt buộc, gò
ép người ta chấp nhận bất kỳ một điều gì và ông đã nêu ra một số nguyên tắc
dạy học có giá trị rất lớn: Đó là nguyên tắc trực quan; nguyên tắc phát huy
tính tích cực của học sinh; nguyên tắc hệ thống và liên tục; nguyên tắc củng
cố kiến thức; nguyên tắc giảng dạy theo khả năng tiếp thu của học sinh; dạy
học phải thiết thực; dạy học theo nguyên tắc cá biệt. Toàn bộ tư tưởng giáo
dục của J.A.Cômenxki là kết quả của một quá trình lao động sáng tạo, thiên
tài, nó có giá trị muôn thuở vì nó là quy luật của mối quan hệ giữa giáo dục tự nhiên - xã hội - con người trong quá trình phát triển nhân cách.
14
cũng như trong cuộc cách mạng tư tưởng văn hoá.
15
16
Trong giai đoạn này cũng phải nhắc đến nhà giáo dục Xô Viết vĩ đại
A.X. Macarencô: Quan điểm giáo dục của ông được thể hiện 4 quan điểm
giáo dục lớn đó là: Chủ nghĩa nhân đạo và niềm lạc quan xã hội chủ nghĩa;
giáo dục trong tập thể bằng tập thể; giáo dục trong lao động; giáo dục bằng
viễn cảnh, tiền đồ. Nghệ thuật sư phạm của A.X. Macarencô là sử dụng lời
nói, cử chỉ, điệu bộ, tác phong của nhà sư phạm để tác động đến đối tượng
giáo dục.
Ngày nay, việc đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo là mục tiêu
phải đạt của quá trình dạy học. Các nhà nghiên cứu giáo dục Nga khẳng định:
Kết quả toàn bộ hoạt động quản lý nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ
chức đúng đắn và hợp lý các hoạt động giảng dạy của đội ngũ giáo viên. V.A.
Xukhomlinxki, V.P. Xtrezicondin, Jaxapob đã nghiên cứu và ra một số vấn đề
về quản lý của hiệu trưởng. Các tác giả thống nhất khẳng định người hiệu
trưởng là người lãnh đạo toàn diện và chịu trách nhiệm trong công tác quản lý
nhà trường. Điều đó sẽ tránh được sự giẫm chân lên công việc của nhau, đồng
thời tránh được tình trạng buông lơi một số công việc, hoạt động của nhà
trường.
1.1.2. Trong nước
Ở Việt Nam, nghiên cứu về quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, quản
lý chất lượng dạy học được nhiều tác giả như: Trần Kiểm, Phạm Minh Hạc,
Nguyễn Văn Lê, Thái Duy Tuyên, Võ Quang Phúc, Nguyễn Ngọc Quang...
quan tâm nghiên cứu. Các tác giả đã nghiên cứu và đi sâu vào những bình
diện khác nhau nhưng đều nhằm giải quyết mối quan hệ giữa giáo viên và
người quản lý.
thù. Khi đề cập cơ sở khoa học của quản lý C.Mác viết: “Bất cứ lao động nào
có tính xã hội, cộng đồng được thực hiện ở quy mô nhất định đều cần ở một
chừng mực nhất định. Sự quản lý giống như người chơi vĩ cầm một mình thì
tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng” [6; tr 157].
Quản lý là một khái niệm rộng bao gồm nhiều lĩnh vực, vì vậy các nhà khoa
học trên thế giới và Việt Nam đã đưa ra các khái niệm về quản lý khác nhau,
17
18
tùy thuộc theo quan điểm tiếp cận khác nhau, có thể nêu lên một số khái niệm
về quản lý như sau:
- Theo Aphanaxép: “Quản lý con người có nghĩa là tác động đến anh ta
sao cho hành vi, công việc và hoạt động của anh ta đáp ứng những yêu cầu
của xã hội, tập thể để những cái đó có lợi cho tập thể, cá nhân, thúc đẩy sự
tiến bộ của xã hội lẫn cá nhân”.
- Các nhà lý luận quản lý quốc tế: Fredevinh Wiliam Duylor (19861915) của mỹ; Henri Fayol (1841-1925) của Pháp; Max Weber (1864-1920)
của Đức đều đã khẳng định: Quản lý là một khoa học và đồng thời là nghệ
thuật thúc đẩy sự phát triển xã hội.
Ở Việt Nam, theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do nhà
xuất bản Giáo dục xuất bản năm 1994: “Quản lý là trông coi, giữ gìn theo
những yêu cầu nhất định. Là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những
yêu cầu nhất định” [24; tr 45]
“Quản lý” là là một từ Hán -Việt được ghép giữa từ “quản” và từ “lý”.
"Quản" là sự trông coi, chăm sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định. “lý” là
tự sửa sang, sắp xếp, làm cho nó phát triển. Như vậy “quản lý” là trông coi,
chăm sóc, sửa sang, làm cho nó ổn định và phát triển.
- Theo Trần Kiểm: “Quản lý nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho
mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội” [9; tr 45].
của em ” [19; tr 50].
- Theo M.M Mechiti Zade: Quản lý giáo dục là tập hợp những biện
pháp (tổ chức, phương pháp, cán bộ giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính, cung
tiêu...) nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ
thống giáo dục, bảo đảm sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt
số lượng cũng như chất lượng.
* Các nhà khoa học Việt Nam đã định nghĩa về quản lý giáo dục như
sau:
- Theo tác giả Phạm Minh Hạc: Quản lý giáo dục là quản lý trường học,
thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình,
tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu
19
20
giáo dục, mục tiêu đào tạo của ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học
sinh [14; tr 45].
- Theo Nguyễn Ngọc Quang: Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có
mục đích, có kế hoạch hợp với quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ
thống giáo dục vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực
hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ
là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đạt mục tiêu
dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất [20; tr 56].
- Theo Đặng Quốc Bảo: “QLGD theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều
hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh mẽ công tác đào tạo
thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội” [2; tr 63].
Từ các ý kiến của các nhà khoa học trên đây có thể quan niệm quản lý
giáo dục là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý đến đối
tượng quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục ở từng cơ sở và của toàn bộ hệ
1.2.3. Dạy học
Theo giáo sư Phạm Minh Hạc: "Dạy học là một chức năng xã hội,
nhằm truyền đạt và lĩnh hội kiến thức, kinh nghiệm xã hội đã tích lũy được,
nhằm biến kiến thức, kinh nghiệm xã hội thành phẩm chất và năng lực cá
nhân" [14; tr 18].
Theo Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt: "Quá trình dạy học là một quá trình
sư phạm bộ phận thông qua sự tác động qua lại giữa người dạy và người học
nhằm truyền thụ và lĩnh hội một cách có hệ thống những tri thức khoa học,
những kỹ năng, kỹ xảo, nhận thức và thực hành" [17; tr 25].
Theo Nguyễn Ngọc Quang: dạy học được hiểu là một hoạt động bao
gồm hai quá trình đó là quá trình dạy của thày và quá trình học của trò. Hai
quá trình này có mối quan hệ biện chứng, tồn tại vì nhau, sinh ra vì nhau và
thúc đẩy nhau phát triển [20; tr 57].
Vậy, ta hiểu dạy học là quá trình tác động qua lại giữa người dạy và
người học nhằm truyền thụ và lĩnh hội những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm
sống một cách có hệ thống.
1.2.4. Chất lượng dạy học
21
22
1.2.4.1. Chất lượng là gì
- Theo từ điển Tiếng Việt, chất lượng là “cái tạo nên phẩm chất, giá trị
của mỗi con người, một sự vật, sự việc”.
- Theo từ điển Tiếng việt thông dụng, chất lượng là “cái làm nên phẩm
chất, giá trị của sự vật hoạc là cái tạo nên bản chất của sự vật làm cho sự vật
này khác với sự vật kia”.
- Theo tiêu chuẩn Pháp – NFX 50-109, chất lượng là “tiềm năng của
một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu người sử dụng”.
1.2.5. Chất lượng dạy học Tiếng Anh
Việc dạy và học Tiếng Anh ở trường phổ thông nói chung, cấp TH nói
riêng, cần hình thành năng lực giao tiếp bằng tiếng Anh cho học sinh. Việc
dạy và học tiếng Anh ở cấp TH góp phần giúp học sinh mở rộng tầm nhìn và
nâng cao hiểu biết về văn hóa, xã hội của các quốc gia, dân tộc trên thế giới
cũng như hiểu biết sâu hơn về văn hóa và xã hội của chính dân tộc mình, đặt
nền tảng cho việc tiếp tục học ở cấp học cao hơn, học tập suốt đời và sự phát
triển toàn diện của học sinh. (Quyết định số 01/QĐ-BGDĐT ngày 03 tháng 01
năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo Dục và Đào tạo).
Từ khái niệm chung nhất về chất lượng dạy học, chúng ta hiểu chất
lượng dạy học môn tiếng Anh là chất lượng của sự phối hợp của tất cả các
thành tố cấu thành trong quá trình dạy học bộ môn Tiếng Anh. Bao gồm mục
tiêu của bộ môn, chương trình tiếng Anh được giảng dạy trong các bậc học,
nội dung, phương pháp; hình thức tổ chức dạy học và đánh giá kết quả dạy
học của GV và HS.
Như vậy, chất lượng dạy học tiếng Anh chính là mức độ đạt được về
kiến thức, kỹ năng, thái độ của người học so với mục tiêu dạy học của bộ môn
tiếng Anh đề ra.
1.2.6. Quản lý chất lượng dạy học môn tiếng Anh
Quản lý chất lượng dạy học môn tiếng Anh là quản lý các quá trình tác
động tới tất cả các thành tố của hoạt động sư phạm có tác dụng hỗ trợ, giúp
đỡ, phục vụ cho việc dạy học môn tiếng Anh của thầy và trò, từ các mục tiêu,
nội dung, phương pháp kết quả đạt được chính là học sinh có đủ năng lực sử
dụng tiếng Anh làm phương tiện học tập, nghiên cứu, tra cứu tài liệu và giao
tiếp.
24
25