Bồi dưỡng năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề cho học sinh thông qua dạy học bài tập chương Sóng cơ và sóng âm Vật lí 12 THPT - Pdf 33

B GIO DC V O TO
TRNG I HC VINH

NGUYN MINH HIN

BồI dỡng năng lực phát hiện và giảI quyết vấn
đề cho học sinh thông qua day học bài tập chơng sóng cơ và sóng âm vật lí 12 thpt

LUN VN THC S KHOA HC GIO DC HC

NGH AN, 2015


B GIO DC V O TO
TRNG I HC VINH

NGUYN MINH HIN

BồI dỡng năng lực phát hiện và giảI quyết vấn
đề cho học sinh thông qua day học bài tập chơng sóng cơ và sóng âm vật lí 12 thpt

LUN VN THC S KHOA HC GIO DC HC

CHUYấN NGNH: Lí LUN V PPDH VT Lí
M S: 60. 14.01.11

Ngi hng dn khoa hc:
PGS. TS. NGUYN èNH THC

Nghờ An, nm 2015


Cụm từ

BTVL

Bài tập vật lí

CH

Câu hỏi

HS

Học sinh

GQVĐ

Giải quyết vấn đề

GV

Giáo viên

SGK

Sách giáo khoa

THCS

Trung học cơ sở


trong dạy học BTVL ................................................................................................21
Kết luận chương 1.....................................................................................................21
Chương 2. Dạy học bài tập chương “Sóng cơ và sóng âm” theo hướng bồi dưỡng
năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề....................................................................25
2.1. Phân tích mục tiêu, nội dung dạy học chương “Sóng cơ và sóng âm” vật lí 12
THPT.........................................................................................................................25
2.1.1. Vị trí, vai trò của chương “Sóng cơ và sóng âm” trong chương trình vật lý
PT..............................................................................................................................25
2.1.2. Mục tiêu dạy học phần sóng cơ và sóng âm...................................................26


iv
2.1.3. Nội dung kiến thức cơ bản chương “Sóng cơ và sóng âm” vật lý 12 theo chuẩn
kiến thức kỹ năng......................................................................................................26
2.2. Thực trạng dạy học bài tập vật lí chương “Sóng cơ và sóng âm” ở một số
trường THPT.............................................................................................................31
2.3. Xây dựng hệ thống bài tập sóng cơ và sóng âm làm phương tiện bồi dưỡng
năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề....................................................................33
2.3.1 Bài tập về hiện tượng sóng cơ..........................................................................33
2.3.2. Bài tập về giao thoa sóng................................................................................47
2.3.3. Bài tập về sóng dừng.......................................................................................63
2.3.4. Bài tập về sóng âm..........................................................................................70
2.4. Thiết kế một số tiến trình dạy bài tập phần sóng cơ và sóng âm theo định hướng
bồi dưỡng năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề..................................................74
2.4.1. Giáo án 1: Bài tập về đặc trưng sóng cơ và giao thoa sóng............................74
2.4.2. Giáo án 2: Bài tập về sóng dừng và sóng âm..................................................80
Kết luận chương 2.....................................................................................................86
Chương III. Thực nghiệm sư phạm...........................................................................87
3.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm.........................................................................87
3.2. Đối tượng thực nghiệm sư phạm........................................................................87

sáng tạo trong học tập. Để tạo được sự đổi mới thực sự trong giáo dục, cần đổi mới
căn bản phương pháp dạy học. Phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh, chú ý
đến hoạt động tích cực của HS trên lớp, HS được trực tiếp tham gia vào bài giảng
của thầy. Dưới sự hướng dẫn của thầy thì, HS có thể phát hiện ra vấn đề, suy nghĩ
để tìm cách GQVĐ.
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để giúp HS có thế phát hiện và giải quyết vấn đề
của một bài toán mới. Giúp các em có thể hiểu, nắm vững các khái niêm, định luật,
tính chất vật lý. Từ đó khơi dậy lòng say mê, hứng thú học tập cho học sinh.
Trong day học vật lý, bài tập là một phương tiện, phương pháp có hiệu quả
thực hiện các nhiệm vụ giáo dưỡng, phát triển tự duy và nhiệm vụ giáo dục kỹ thuật
tổng hợp. Chính vì vậy việc giảng dạy BTVL trong nhà trường không chỉ giúp HS
hiểu được một cách sâu sắc và đầy đủ những kiến thức quy định trong chương trình
mà còn phát triển tư duy và sáng tạo.Từ đó, giúp các em vận dụng những kiến thức
vật lí để giải quyết tốt những nhiệm vụ của học tập và những vấn đề mà thực tiễn
đặt ra.


2
Chương “Sóng cơ và sóng âm” trong chương trinh Vật lý 12 là chương khó
đối với HS. Lượng bài tập ở chương này nhiều và khó, nhiều HS rất khó khăn
không biết giải quyết bài tập như thế nào.
Với những lí do trên, tôi chọn đề tài: Bồi dưỡng năng lực phát hiện và giải
quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học bài tập chương “Sóng cơ và sóng âm”
vật lý 12 THPT
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu xây dựng các biện pháp bồi dưỡng năng lực phát hiện và giải
quyết vấn đề của học sinh trong dạy học bài tập chương “Sóng cơ và sóng âm”
nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.Đối tượng nghiên cứu của đề tài

6.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Thực nghiệm sư phạm ở trường THPT để kiểm chứng giá thuyết khoa học và
đánh giá kết quả nghiên cứu.
6.4. Phương pháp thống kê toán học
Xứ lý kết quả thực nghiệm sư phạm bằng công cụ toán học thống kê.
7. Đóng góp của đề tài
- Về mặt lí luận: Luận văn đã xây dựng được cơ sở lí luận bồi dưỡng năng lực
phát hiện và giải quyết vấn đề trong dạy học bài tập vật li. Nêu lên được khái niệm,
cấu trúc của năng lực phát hiện và GQVĐ.
- Về mặt thực tiễn:
+ Đề xuất 5 biện pháp bồi dưỡng năng lực phát hiện và GQVĐ trong dạy học
BTVL.
+ Xây dựng được một hệ thống bài tập làm phương tiện bồi dưỡng năng lực
phát hiện và GQVĐ trong dạy học chương “Sóng cơ và sóng âm” và hai giáo án bài
tập đáp ứng được yêu cầu thực tế dạy học vật lí ở trường THPT.
8. Cấu trúc luận văn
- Mở đầu.
- Nội dung: 3 chương
Chương 1. Cơ sở lí luận bồi dưỡng năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề của
học sinh trong dạy học vật lý
Chương 2. Dạy học bài tập chương “Sóng cơ và sóng âm” theo hướng bồi
dưỡng năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm
- Kết luận.
- Tài liệu tham khảo.


4
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC PHÁT HIỆN VÀ GIẢI QUYẾT


5
trong những điều kiện không thuận lợi. Rọ ràng khuynh hướng cho ta biết những
tiến đề bẩm sinh nhất định đối với việc phát triển năng lực.
Người có năng lực về một hoạt động thuộc lĩnh vực nào đó thường bắt tay vào
thực hiện một hoạt động nào đó dễ dàng hơn người không có năng lực, sự tiến bộ
trong hoạt động đó rất nhanh về cường độ và độ sâu (chất lượng) hơn người không
có năng lực. Người có năng lực ở mức độ cao bao giờ cũng thể hiện được tính độc
lập và sáng tạo trong hoạt động.
Như vậy, năng lực là những thuộc tính tâm lý riêng của cá nhân, mà nhở
những thuộc tính này con người hoàn thành tốt đẹp một hoạt động nào đó, chỉ bỏ ra
ít sức lao động mà đạt hiệu quả cao. Năng lực của học sinh sẽ là đích cuối cùng của
dạy học và giáo dục. Do đó mà những yêu cầu về phát triển năng lực học sinh cần
đặt đúng chổ của chúng trong mục đích dạy học. Năng lực của mỗi người, một phần
giữa trên cơ sở tư chất, nhưng chủ yếu vẫn được hình thành thông qua hoạt động
tích cực của con người dưới tác động của rèn luyện, của giảng dạy và giáo dục. Vì
vậy, mỗi cá nhân khác nhau thì năng lực cũng khác nhau. Ta nên tiếp cận vấn đề
phát triển năng lực theo hướng tiếp cận nhân cách của người học vì việc hình thành
và phát triển nhân cách là phương tiện có hiệu quả nhất để phát triển năng lực.
1.1.1.2. Các mức độ của năng lực [16]
Trong từng lĩnh vực hoạt động, năng lực của từng người thể hiện khác nhau.
Sự phát triển năng lực có thể chia thành hai mức độ: Năng lực tái tạo và năng lực
sáng tạo.
- Mức độ năng lực tái tạo của cá nhân thể hiện rõ kha năng của mình trong
việc đạt được kết quả đối với lĩnh vực kiến thức tiến hành và hoạt động theo mẫu
(do người khác hướng dẫn hoặc theo quá trình tái hiện).
- Mức độ năng lực sáng tạo, cá nhân có năng lực tạo ra cái mới, cái độc đáo
với kết quả hoạt động cao. Như vậy, trong năng lực tái tạo có ít nhiều năng lực sáng
tạo và trong năng lực sáng tạo có ít nhiều năng lực tái tạo. Trong quá trình hoạt
động của con người có thể chuyển từ năng lực mức độ này sang mức độ khác (có

lực vật lý cũng ở trạng thái động, nó hình thành trong hoạt động vật lý.
Trong các thời kì phát triển riêng biệt xác định của con người thì xuất hiện các
điều kiện thích hợp nhất cho việc hình thành và phát triển các loại năng lực riêng
biệt. Đối với năng lực vật lý cũng vậy cũng có thời kì thích hợp nhất cho việc hình
thành và phát triển chúng.
Kết quả hoạt động thường phụ thuộc vào một tổ hợp năng lực. Kết quả hoạt
động vật lý cũng vậy, cũng phụ thuộc vào một tổ hợp năng lực.
Năng lực vật lý ở đây được hiểu theo hai mức độ:


7
- Thứ nhất: đó là năng lực sáng tạo trong hoạt động nghiên cứu vật lý với tư
cách là nhà khoa học. Người có năng lực sáng tạo vật lý sẽ cống hiến cho nhân loại
những công trình vật lý đầy ý nghĩa đối với hoạt động thực tiễn của con người và
đối với sự phát triển của khoa học vật lý.
- Thứ hai: đó là năng lực học tập, trong việc nắm vững các kiến thức vật lý ở
trường phổ thông, nắm một cách nhanh và tốt các kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo tương
ứng. Ở đây người học có năng lực vật lý sẽ nhanh nhạy trong việc tiếp thu các kiến
thức vật lý và thực hiện thành thạo các kĩ năng, kĩ xảo tương ứng. Có thể khẳng
định có năng lực học tập vật lý là điều kiện cần của năng lực sáng tạo vật lý. Bới vì
năng lực sáng tạo vật lý có thể xuất phát từ việc phát minh ra một định luật mới hay
một nguyên lí mới, nó hoàn toàn khác so với năng lực hiểu được những định luật
vật lý đã được thừa nhận trước đó.
Có nhiều quan niệm khác nhau về năng lực vật lý. Con người có những năng
lực khác nhau vì những tố chất khác nhau và năng lực chỉ được hình thành thông
qua hoạt động trong những điều kiện xã hội của môi trường sống. Năng lực vật lý
được cho là có mỗi quan hệ mật thiết với hoạt động trực giác và sự sáng tạo vật lý ở
người nghiên cứu. Năng lực học vật lý của học sinh là các đặc điểm tâm sinh lí cá
nhân, đó là các đặc điểm hoạt động trí tuệ đáp ứng yêu cầu hoạt động học tập vật lý
giúp cho việc nắm kiến thức vật lý và kĩ năng một cách tương đối nhanh, dễ dàng.

- Năng lực tư duy lô gic và sử dụng ngôn ngữ.
- Năng lực toán học: Có năng lực sử dụng toán học trong quá trình giải bài tập
vật lý và nghiên cứu vật lý. [3], [14], [15], [16], [18]
Với mỗi người khác nhau thì năng lực học tập vật lý cũng khác nhau. Năng lực
này được hình thành và phát triển trong quá trình học tập và rèn luyện của mỗi học
sinh. Vì thế việc lựa chọn nội dung và phương pháp thích hợp sao cho mỗi HS đều
được nâng cao dần về mặt năng lực là vấn đề quan trọng trong dạy học vật lý.
1.1.3. Các năng lực chuyên biệt trong môn vật lý [3]
Dựa trên các năng lực chung mà quá trình giáo dục ở phổ thông đều hướng tới
để hình thành cho học sinh ta có các thành phân năng lực chuyên biệt trong môn vật
lý như sau:
1. Năng lục tự học
- Lập được kế hoạch tự học và điều chỉnh, thực hiện kế hoạch có hiệu quả.
- Tìm kiếm thông tin về nguyên tắc cấu tạo, hoạt động của các ứng dụng kĩ
thuật.
- Đánh giá được mực độ chính xác của nguồn thông tin.
- Đặt được câu hỏi về hiện tượng sự vật quanh ta.


9
- Tóm tắt được nội dung vật lý trọng tâm của văn bản.
- Tóm tắt thông tin bằng sơ đồ tư duy, bản đồ khái niệm, bảng biểu, sơ đồ
khối.
- Tự đặt câu hỏi và thiết kế, tiến hành được phương án thí nghiệm để trả lời
cho câu hỏi đó.
2. Năng lực giải quyết vấn đề
- Đặc biệt quan trọng là năng lực thực nghiệm. Đặt được những câu hỏi về
hiện tượng tự nhiên: Hiện tượng... diễn ra như thế nào? Điều kiện diễn ra hiện tượng
là gì? Các đại lượng trong hiện tượng tự nhiên có mỗi quan hệ với nhau như thế
nào? Các dụng cụ có nguyên tắc cấu tạo và hoạt động như thế nào?

- Đọc hiểu được đồ thị, bảng biểu.
9. Năng lực tính toán
- Mô hình hóa quy luật vật lý bằng các công thức toán học.
- Sử dụng toán học để suy luận từ kiến thức đã biết ra hệ quả hoặc ra kiến thức
mới.
1.1.4. Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề trong dạy học vật lý
1.1.4.1. Khái niệm năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề
a. Năng lực phát hiện vấn đề [11], [17]
- Vấn đề: Là một tình huống đặt ra cho cá nhân hoặc một nhóm để giải quyết,
khi đối mặt với tình huống này họ không thấy được ngay con đường hoặc các
phương pháp để có được lời giải.
Để vận dụng một cách có hiệu quả khái niệm vấn đề trong dạy học thì người ta
thường hiểu khái niệm này như sau: Một vấn đề được biểu thị bởi một hệ thống
những câu hỏi và mệnh đề thỏa mãn hai điều kiện: Một là HS chưa tự mình trả lời
được câu hỏi. Hai là học sinh chưa được học các quy tắc có tính chất thuật toán hay
là những cơ sở lí luận để trả lời câu hỏi đặt ra. Nếu hiểu vấn đề theo cách tiếp cận
này thì có thể phân biệt rõ vấn đề với bài tập. Đối với một bài tập đưa ra, nếu chỉ
yêu cầu HS trực tiếp vận dụng các công thức có tính chất thuật toán hay quy trình lí
luận tựa như thuật toán để giải bài tập đó thì đó không phải là những vấn đề.
- Phát hiện vấn đề: Là quá trình tìm ra cái mới mà người nghiên cứu chưa biết
và có nhu cầu muốn biết. Có thể hiểu phát hiện vấn đề gần giống như tình huống gợi
vấn đề. Tức là một tình huống gợi ra cho học sinh những khó khăn mà họ cảm thấy
cần thiết và có khá năng vượt qua nhưng không phải ngay lập tức mà phải trải qua
một quá trình suy nghĩ tích cực, hoạt động để biến đổi đối tượng hoạt động hay điều
khiến chỉnh hệ thống kiến thức sẵn có nhằm thích nghi với điều kiện hành động
mới.


11
Năng lực phát hiện vấn đề trong môn vật lý là năng lực hoạt động trí tuệ của

+ Đề xuất những vấn đề mới có liên quan và giải quyết vấn đề nếu có thể.


12
Năng lực giải quyết vấn đề là tổ hợp năng lực thể hiện vận dụng các kiến thức,
các kĩ năng (thao tác tư duy và hoạt động) trong hoạt động học tập nhằm giải quyết
có hiệu quả những nhiệm vụ của bài toán.
Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề trong vật lí bao gồm năng lực tìm tòi,
nhận biết và phát hiện vấn đề; năng lực giải quyết vấn đề; mỗi liên hệ giữa năng lực
phát hiện và giải quyết vấn đề với năng lực vật lí, năng lực giải bài tập vật lí.
1.1.4.2. Cấu trúc của năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề
Để hình thành và phát triển năng lực cần xác định các thành phần và cầu trúc
của chúng. Cấu trúc chung của năng lực nói chung và năng lực phát hiện và GQVĐ
là sự kết hợp của ba thành tố cơ bản: Kiến thức - Kĩ năng - Thái độ. Giữa các thành
tố của năng lực có mối quan hệ hữu cơ với nhau trong sự tác động để hình thành và
phát triển. Cấu trúc chung của năng lực có thể nhận thức theo sơ đồ sau:
Kĩ năng

x

Năng lực phát hiện
và giải quyết vấn đề

Thái độ
a. Kiến thức
Để phát hiện và GQVĐ đặt ra thì trước hết người thực hiện cần có kiến thức về
vấn đề đó. Kiến thức là nền tảng cho mọi tình huống giải quyết vấn đề.
* Kiến thức vật lý: Đối với học sinh để phát hiện và giải quyết được vấn đề
của bài toán vật lý thì học sinh cần có kiến thức về các hiện tượng, đại lượng, khái
niệm, định luật, nguyên lí vật lý cơ bản, các phép đó, các hằng số vật lý và mỗi quan

- Tính độc lập tự lực.
- Thái độ kiên nhẫn.
- Thái độ trung thực.
- Thái độ hợp tác.
- Thái độ tích cực.
1.2. Bài tập vật lý
1.2.1. Khái niệm bài tập vật lý [16]
Trong thực tế dạy học, người ta thường gọi một vấn đề hay một câu hỏi
cần được giải đáp nhờ lập luận lôgic, suy luận toán học hay thực nghiệm vật lí
trên cơ sở sử dụng các định luật và các phương pháp của vật lí học là bài toán vật lí.


14
Bài toán vật lí, hay đơn giản gọi là các bài tập vật lí, là một phần hữu cơ của
quá trình dạy học vật lí vì nó cho phép hình thành và làm phong phú các khái niệm
vật lí, phát triển t ư duy vật lí và thói quen vận dụng kiến thức vật lí vào thực
tiễn.
1.2.2. Vai trò của bài tập vật lý trong dạy học [15], [16]
Trong quá trình dạy học, giáo viên giúp HS nắm được phương pháp chiếm lĩnh
kiến thức, phương pháp hoạt động học tập (nhận thức) cũng như phương pháp hoạt
động trong cuộc sống xã hội. Qua việc tự dành lấy kiến thức thì ở HS sẽ hình thành,
phát triển năng lực hoạt động trí tuệ, năng lực giải quyết vấn đề. Nói cách khác HS
phải phát triển trong hoạt động và học tập diễn ra trong hoạt động. Vì lẽ đó, HS cần
phải được huấn luyện ngay từ khâu xây dựng kiến thức cho đến khâu vận dụng nó
vào trong thực tế.
Giải BTVL là một trong những hình thức luyện tập chủ yếu và được tiến hành
nhiều nhất trong hoạt động dạy học. Do vậy, BTVL có vai trò cực kì quan trọng
trong việc hình thành, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo vận dụng và tìm tòi kiến thức cho
học sinh. Chúng được sử dụng trong những tiết học với những mục đích khác nhau:
- BTVL được sử dụng như là các phương tiện nghiên cứu tài liệu mới, khi

với môn học, tạo điều kiện phát triển óc quan sát ở H S , là phương tiện rất tốt để
phát triển tư duy của HS, và dạy cho HS biết áp dụng kiến thức vào thực tiễn.
* Bài tập định lượng: Bài tập định lượng là loại bài tập mà khi giải HS phải
thực hiện một loạt các phép tính để xác định mối liên hệ phụ thuộc về lượng giữa
các đại lượng và kết quả thu được là một đáp án định lượng. Có thể chia bài tập
định lượng làm hai loại: bài tập tính toán tập dượt và bài tập tính toán tổng hợp.
- Bài tập tính toán tập dượt: là loại bài tập tính toán đơn giản, trong đó chỉ đề
cập đến một hiện tượng, một định luật và sử dụng một vài phép tính đơn giản nhằm
củng cố kiến thức cơ bản vừa học, làm học sinh hiểu rõ ý nghĩa của các định luật và
các công thức biểu diễn chúng.
- Bài tập tính toán tổng hợp: là loại bài tập mà khi giải thì phải vận dụng
nhiều khái niệm, định luật, nhiều công thức. Loại bài tập này có tác dụng đặc
biệt giúp H S đào sâu, mở rộng kiến thức, thấy rõ những mối liên hệ khác nhau giữa
các phần của chương trình vật lí.
* Bài tập thí nghiệm: Bài tập thí nghiệm là bài tập đòi hỏi phải làm thí
nghiệm để kiểm chứng lời giải lý thuyết hoặc để tìm những số liệu cần thiết cho
việc giải bài tập. Những thí nghiệm này thường là những thí nghiệm đơn giản.
Bài tập thí nghiệm cũng có thể có dạng định tính hoặc định lượng.


16
- Lưu ý: trong các bài tập thí nghiệm thì thí nghiệm chỉ cho các số liệu để giải
bài tập, chứ không cho biết tại sao hiện tượng lại xảy ra như thế. Cho nên phần vận
dụng các định luật vật lí để lý giải các hiện tượng mới là nội dung chính của bài tập
thí nghiệm.
* Bài tập đồ thị: Bài tập đồ thị là bài tập trong đó các số liệu được dùng làm
dữ kiện để giải phải tìm trong các đồ thị cho trước hoặc ngươc lại, đòi hỏi HS
phải biểu diễn quá trình diễn biến của hiện tượng nêu trong bài tập bằng đồ thị.
1.2.3.2. Phân loại theo nội dung
Người ta giữa vào nội dụng chia các bài tập theo đề tài của tài liệu vật lý. Sự

đó chỉ rõ cần thực hiện những hành động nào và theo trình tự nào để đi đến kết quả.
Hướng dẫn algôrit là hướng dẫn chỉ rõ cho HS những hành động cụ thể cần
thực hiện và trình tự thực hiện các hành động đó để đạt kết quả mong muốn. những
hành động này được coi là hành động sơ cấp phải được HS hiểu một cách đơn giản
và HS đã nắm vững.
Kiểu hướng dẫn alôrit không đòi hỏi HS tự mình tìm tòi xác định các hành
động cần thực hiện để giải quyết vấn đề đặt ra, mà chỉ đòi hỏi HS chấp hành các
hành động đã được GV chỉ ra, cứ theo đó HS diễn đạt được kết quả, sẽ giải được bài
tập đã cho. Kiểu hướng dẫn alôrit đòi hỏi GV phải phân tích một cách khoa học việc
giải bài toán để xác định một trình tự chính xác, chặt chẽ của hành động cần thực
hiện để giải bài toán. Cần đảm bảo cho các hành động đó là hành động sơ cấp đối
với HS. Nghĩa là kiểu hướng dẫn này đòi hỏi phải xây dựng được algôrit giải bài
toán.
Kiểu hướng dẫn algôrit thường được áp dụng khi cần dạy cho HS phương
pháp giải một bài tập điển hình nào đó, nhằm rèn luyện cho HS kĩ năng giải một loại
bài toán xác định nào đó. Người ta xây dựng các algôrit giải cho từng loại bài toán
cơ bản, điển hình và luyện tập cho HS kĩ năng giải các loại bài toán đó dựa trên việc
làm cho HS nắm được algôrit giải.
Kiểu hướng dẫn algôrit có ưu điểm là đảm bảo cho HS giải được bài toán đã
được giao một cách chắc chắn, nó giúp cho việc rèn luyện kĩ năng giải một bài toán
của HS có hiểu quả. Tuy nhiên, nếu hướng dẫn cho HS giải bài tập luôn luôn chỉ
dùng kiểu hướng dẫn algôrit thì HS chỉ quen chấp hành những hành động đã được
chỉ dẫn theo mẫu đã có sẵn, do đó ít có tác dụng rèn luyện cho HS khá năng tìm tòi,
sáng tạo, sự phát triển tư duy sáng tạo của HS bị hạn chế.
1.3.2. Hướng dẫn tìm tòi (hướng dẫn ơrixtic)
Hướng dẫn tìm tòi là kiểu hướng dẫn mang tính chất gợi ý cho HS suy nghĩ
tìm tòi phát hiện cách giải quyết vấn đề. Ở đây, không phải là GV chỉ dẫn cho HS


18

- Rèn luyện tư duy của HS trong quá trình giải bài tập.
- Đảm bảo để HS giải được bài tập đã cho.


19
Để làm tốt thì yêu cầu GV phải theo sát tiến trình hoát động giải bài tập và có
sự điều chỉnh thích hợp với tứng đối tượng của HS.
1.4. Phương pháp giải bài tập vật lý
Việc rèn luyện cho HS biết cách giải bài tập một cách khoa học, đảm bảo đi
đến kết quả một cách chính xác là một việc rất cần thiết. Nó không những giúp HS
nắm vựng kiến thức mà còn rèn luyện kĩ năng suy luận logic, làm việc một cách
khoa học, có kế hoạch.
Quá trình giải một bài tập vật lý thực chất là quá trình tìm hiểu điều kiện của
bài tập, xem xét hiện tượng vật lý, xác lập được những mỗi quan hệ cụ thể dựa trên
sự vận dụng kiến thức vật lý vào điều kiện cụ thể của bài tập đã cho. Từ đó tính toán
những mối liên hệ đã xác lập được để dẫn đến lời giải và kết luận chính xác. Sự nắm
vững những mối liên hệ này sẽ giúp GV định hướng phương pháp dạy bài tập một
cách hiệu quả.
Bài tập vật lý rất đa dạng, cho nên phương pháp giải cũng rất phong phú. Vì
vậy không thể chỉ ra đươc một phương pháp nào cụ thể mà có thể áp dụng để giải
được tất cả các bài tập. Từ sự phân tích như đã nói ở trên, có thể vạch ra một dàn bài
chung gồm các bước chính như sau:
Bước 1: Tìm hiểu nội dung bài toán
- Đọc kĩ đề bài, tìm hiểu ý nghĩa của những thuật ngữ quan trọng, xác định đâu
là ẩn, đâu là dự kiện .
- Dùng kí hiệu tóm tắt đề bài cho gì? Hỏi gì? Dùng hình vẽ mô ta lại tình
huống, minh họa nếu cần.
Khi thực hiện bược này chính là giúp cho HS phát hiện và thâm nhập vấn đề.
Bước 2: Phân tích hiện tượng
- Nhận biết các dữ liệu đã cho trong đề bài có liên quan đến những kiến thức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status