BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỐ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ HOÀI LINH
NGHIÊN CỨU TÍNH PHI TUYẾN
GIỮA LẠM PHÁT VÀ TĂNG TRƯỞNG
TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1986-2014
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Vũ Thị Minh Hằng
TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2014
MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH
TÓM TẮT .............................................................................................................. 1
TỔNG QUAN ........................................................................................................ 2
CHƯƠNG 1. LÝ THUYẾT VỀ LẠM PHÁT VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ . 5
1.1. Lý thuyết về lạm phát và tăng trưởng ............................................................ 5
1.1.1. Tăng trưởng kinh tế ............................................................................. 5
1.1.2. Lạm phát .............................................................................................. 8
3.1.5. Hiện tượng tự tương quan (Autocorrelation) ...................................... 38
3.2. Mô hình nghiên cứu thực nghiệm, dữ liệu và phương pháp nghiên cứu. ...... 39
3.2.1.
3.2.2.
3.2.3.
Mô hình thực nghiệm ......................................................................... 39
Dữ liệu và các biến trong mô hình ..................................................... 41
Quy trình nghiên cứu ......................................................................... 44
CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ KẾT LUẬN ................................ 45
4.1. Kiểm định nghiệm đơn vị............................................................................ 45
4.2. Kiểm định quan hệ nhân quả Granger ......................................................... 47
4.3. Kết quả hồi quy ngưỡng lạm phát ............................................................... 51
4.3.1. Xác định dãy giá trị của 𝒌 .................................................................. 51
4.3.2. Ước lượng mô hình ngưỡng lạm phát................................................. 53
4.4. Thảo luận kết quả và hàm ý chính sách ....................................................... 58
4.5. Kiến nghị chính sách ................................................................................... 59
4.6. Hạn chế của đề tài ....................................................................................... 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
OLS
Phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất (Ordinary Least
Squares)
Trang
Bảng 2.1. Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện theo giá
hiện hành phân theo thành phần kinh tế.
30
Bảng 2.2. Chỉ số ICOR qua các giai đoạn (Nguồn: Trương Minh
Tuấn, 2013)
30
Bảng 3.1. Mô tả thống kê của các biến tham gia vào mô hình
43
Bảng 3.2. Hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình
44
Bảng 4.1. Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị (tính dừng) bằng
phương pháp ADF
45
Bảng 4.2. Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị (tính dừng) bằng
phương pháp PP
46
Bảng 4.3. Kết quả lựa chọn độ trễ tối ưu của mô hình VAR
19
Hình 2.2. Lạm phát và tăng trưởng GDP hàng năm ở Việt Nam giai
đoạn 1985 – 1990
21
Hình 2.3. Lạm phát và tăng trưởng GDP hàng năm ở Việt Nam giai
đoạn 1991– 1995
22
Hình 2.4. Lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 1996– 2006
23
Hình 2.5. Tăng trưởng GDP hàng năm ở Việt Nam giai đoạn 1996–
2006
23
Hình 2.6. Lạm phát và tăng trưởng GDP hàng năm ở Việt Nam giai
đoạn 2007-2013
24
Hình 2.7. Cơ cấu GDP phân theo thành phần kinh tế năm 2014 (tính
theo giá hiện hành)
27
51
1
TÓM TẮT
Gần đây có rất nhiều quốc gia áp dụng chính sách tiền tệ với một tỷ lệ lạm phát mục
tiêu cụ thể để điều chỉnh độ lệch của lạm phát trong nền kinh tế. Tuy nhiên, chỉ khi
ngưỡng lạm phát được xác định thì những quốc gia này mới có thể đề xuất một tỷ lệ
lạm phát mục tiêu chính xác. Bài nghiên cứu cung cấp một bằng chứng thực nghiệm
về tác động phi tuyến của lạm phát lên tăng trưởng kinh tế trong dài hạn ở Việt
Nam, một trong những quốc gia đang phát triển ở Châu Á. Sử dụng dữ liệu chuỗi
thời gian hàng năm trong khoảng thời gian từ 1986-2014, kết quả nghiên cứu tìm ra
mức ngưỡng lạm phát ở Việt Nam là 11% và tại mức ngưỡng này quan hệ lạm phát
– tăng trưởng chuyển từ đồng biến sang nghịch biến.
2
TỔNG QUAN
Giới thiệu
Tăng trưởng kinh tế cao và lạm phát thấp là những mục tiêu quan trọng nhất của
chính sách kinh tế vĩ mô tại các quốc gia đang phát triển. Theo lý thuyết kinh tế vĩ
mô hiện đại, một quốc gia cần kết hợp hài hòa giữa tăng trưởngcao và tỷ lệ lạm phát
vừa phải cũng như tỷ lệ thất nghiệp hợp lý để đạt được tăng trưởng bền vững. Đặc
biệt, cuộc khủng hoảng kinh tế gần đây nhất vào năm 2008 – năm của lạm phát tăng
cao và đi kèm là sự giảm mạnh trong tỷ lệ tăng trưởng, đã chứng tỏ mối quan hệ
giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế là một vấn đề vô cùng quan trọng đối với hầu
hết các quốc gia. Đề tài Lạm phát – tăng trưởng tiếp tục thu hút sự chú ý của các
nhà kinh tế cũng như các nhà nghiên cứu.
trưởng ở Việt Nam trong khoảng thời gian 1986-2014, chủ yếu sẽ đi vào trả lời hai
câu hỏi sau:
Tồn tại hay không ngưỡng lạm phát tại Việt Nam?
Hàm ý chính sách trong việc kiểm soát và sử dụng lạm phát sao cho tối ưu
để thúc đẩy tăng trưởng?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về mối quan hệ phi tuyến giữa lạm phát và tăng trưởng tại Việt
Nam trong khoảng thời gian từ 1986 đến 2014.
Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở mô hình ngưỡng được phát triển bởi Khan và Senhadji (2001), bài luận
văn này kiểm tra sự tồn tại của ngưỡng lạm phát tại Việt Nam bằng phương pháp
OLS (Ordinary Least Squares) với dữ liệu chuỗi thời gian hằng năm gồm 29 quan
sát (1986-2014). Mô hình này đã được áp dụng trong bài nghiên cứu về ngưỡng lạm
phát tại Nigeria của Salami và Kelikume (2010); Hussain và Malik (2011) và
Mubarik (2005) cho trường hợp ở Pakistan.
4
Ý nghĩa nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu mang một hàm ý chính sách quan trọng liên quan đến mối quan
hệ giữa lạm phát và tăng trưởng, cung cấp một bằng chứng thực nghiệm về sự tồn
tại của ngưỡng lạm pháttại Việt Nam từ đó giúp cho các nhà hoạch định chính sách
có thêm cơ sở để quản lý mức lạm phát sao cho không tổn hại đến tăng trưởng của
nền kinh tế.
Theo đó, cấu trúc của bài nghiên cứu bao gồm các chương như sau:
Chương 1: Lý thuyết về lạm phát và tăng trưởng kinh tế
Chương 2: Tổng quan về lạm phát và tăng trưởng ở Việt Nam
Chương 3: Mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và kết luận
thường được sử dụng phổ biến, đó là Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) và Tổng sản
phẩm quốc nội (GDP).
GNP là tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ sau cùng được sản xuất ra trong xã hội
trong một thời gian nhất định, không bao gồm hàng hóa trung gian (hàng hóa được
sử dụng trong việc sản xuất ra các hàng hóa khác), được sản xuất bởi công dân của
6
một nước tức là bao gồm cả giá trị hàng hóa, dịch vụ được sản xuất bởi những công
dân sống ở nước ngoài. GDP cũng tương tự như GNP, chỉ khác ở chỗ GDP tính đến
toàn bộ sản lượng được sản xuất ra trong phạm vi của một quốc gia bao gồm luôn
cả sản lượng được sản xuất ra bởi những cư dân nước ngoài đang sinh sống và làm
việc tại quốc gia đó. Lấy GNP hoặc GDP chia cho tổng dân số, ta được chỉ số thu
nhập tính trên đầu người. Sự chênh lệch giữa GNP và GDP thường rất ít1, nhưng
theo dõi các hoạt động kinh tế nằm trong biên giới quốc gia sẽ dễ dàng hơn nên
GDP thường được dùng để đo lường thu nhập quốc dân hơn.
Mặt khác, để đo lường tăng trưởng kinh tế có thể dùng mức tăng trưởng tuyệt đối,
tức là chênh lệch về quy mô kinh tế giữa hai thời kỳ, hoặc dùng tốc độ tăng trưởng,
tức là lấy chênh lệch quy mô kinh tế giữa kỳ hiện tại so với kỳ trước chia cho quy
mô kinh tế của kỳ trước. Tốc độ tăng trưởng kinh tế được thể hiện bằng đơn vị %.
Nếu quy mô kinh tế được đo bằng GDP danh nghĩa thì sẽ có tốc độ tăng trưởng
GDP danh nghĩa. Còn nếu quy mô kinh tế được đo bằng GDP thực thì sẽ có tốc độ
tăng trưởng GDP thực. Thông thường, tăng trưởng kinh tế dùng chỉ tiêu thực, nói
cách khác tăng trưởng kinh tế được phản ánh tốt hơn thông qua chỉ tiêu GDP thực.
Nếu dùng tốc độ tăng trưởng GDP để đại diện cho tăng trưởng kinh tế thì khi đó
tăng trưởng kinh tế sẽ được tính thông qua tăng trưởng GDP như sau:
Tăng trưởng kinh tế được đo lường bằng
mức tăng trưởng tuyệt đối
𝑔𝐺𝐷𝑃 = 𝐺𝐷𝑃𝑡 − 𝐺𝐷𝑃𝑡−1
loại trừ biến động của yếu tố giá cả qua các năm nên được dùng để tính tốc độ tăng
trưởng của nền kinh tế, nghiên cứu sự thay đổi về khối lượng hàng hóa và dịch vụ
sản xuất.
GDP cũng có thể được tính theo giá ngoại tệ (thường là đôla Mỹ - USD). Việc tính
toán theo giá này nhằm phục vụ cho các mục đích khác nhau, chủ yếu nhất vẫn là
dùng để so sánh GDP của các quốc gia với nhau. Mỗi quốc gia đều có đơn vị tiền tệ
riêng, nếu so sánh GDP của hai quốc gia khác nhau về đơn vị tiền tệ sẽ dẫn đến một
sự so sánh khập khiễng. Do đó, GDP tính theo giá ngoại tệ thường được sử dụng
khi muốn so sánh giữa hai hoặc nhiều quốc gia khác nhau.
Có 3 cách tiếp cận để đo lường GDP và theo nguyên tắc là tất cả sẽ cho ra cùng một
kết quả. Đó là phương pháp sản xuất, phương pháp thu nhập và phương pháp sử
dụng cuối cùng.
Phương pháp sản xuất:
Tổng sản phẩm trong nước bằng tổng giá trị tăng thêm của tất cả các ngành kinh tế
cộng với thuế nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ.
Giá trị tăng thêm là giá trị hàng hóa và dịch vụ mới sáng tạo ra của các ngành kinh
tế trong một thời kỳ nhất định. Giá trị tăng thêm là một bộ phận của giá trị sản xuất,
bằng chênh lệch giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian.
8
Phương pháp thu nhập:
Tổng sản phẩm trong nước bằng thu nhập tạo nên từ các yếu tố tham gia vào quá
trình sản xuất như lao động, đất đai, vốn, máy móc. Theo phương pháp này, tổng
sản phẩm trong nước gồm 4 yếu tố:
-
Thu nhập của người lao động từ sản xuất (bằng tiền và hiện vật)
Lạm phát
1.1.2.1. Khái niệm lạm phát
9
Trong kinh tế vĩ mô, lạm phát là hiện tượng mức giá cả chung tăng cao theo thời
gian hoặc sự gia tăng quá mức của lượng tiền lưu thông dẫn tới đồng tiền giảm
sức mua trong một khoảng thời gian nhất định. Về mặt tính toán, lạm phát là phần
trăm thay đổi của chỉ số giá chung trong nền kinh tế theo từng giai đoạn. Ngược lại
với lạm phát là giảm phát. Một chỉ số lạm phát bằng 0 hay một chỉ số dương nhỏ thì
được gọi là sự "ổn định giá cả".
Các khái niệm kinh tế khác liên quan đến lạm phát bao gồm: giảm phát (sự sụt giảm
trong mức giá chung), thiểu phát (giảm tỷ lệ lạm phát), siêu lạm phát (một vòng
xoáy lạm phát ngoài tầm kiểm soát), tình trạng lạm phát (một sự kết hợp của lạm
phát, tăng trưởng kinh tế chậm và thất nghiệp cao) và tái lạm phát (một nỗ lực nâng
cao mức giá chung để chống lại áp lực giảm phát).
Trong các ấn phẩm Niên giám tóm tắt (NGTK TT) của TCTK có nhắc đến khái
niệm lạm phát cơ bản. Đây là chỉ tiêu phản ánh sự thay đổi mức giá chung mang
tính chất dài hạn, sau khi đã loại trừ những thay đổi mang tính chất ngẫu nhiên, tạm
thời của chỉ số giá tiêu dùng (Consumer Price Index – CPI). Lạm phát cơ bản này
được tính bằng CPI loại trừ các nhóm hàng lương thực – thực phẩm; năng lượng và
mặt hàng do Nhà nước quản lý gồm dịch vụ y tế và dịch vụ giáo dục.
1.1.2.2. Đo lường lạm phát và CPI
Để đo lường lạm phát người ta sử dụng chỉ số giá cả để tính toán. Chỉ số giá cả là
tỷ lệ mức giá chung của tất cả hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế ở thời điểm
hiện tại so với mức giá chung của cùng một nhóm hàng ở thời điểm gốc. Thường
được sử dụng nhất là CPI. Tổng cục thống kê thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ
số giảm phát GDP.
Nói tóm lại, tỷ lệ lạm phát được thể hiện thông qua tỷ lệ phần trăm mức tăng của
chỉ số giá cả ở thời điểm hiện tại so với chỉ số giá cả ở thời điểm gốc.
𝑇ỷ 𝑙ệ 𝑙ạ𝑚 𝑝ℎá𝑡 =
1.1.3.
𝐶𝑃𝐼𝑡 − 𝐶𝑃𝐼𝑡−1
× 100%
𝐶𝑃𝐼𝑡−1
Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng
Lạm phát được xem là chất bôi trơn cần thiết cho các bánh xe của nền kinh tế. Theo
lý thuyết tiền lương cứng nhắc và giá cả cứng nhắc, tỷ lệ lạm phát nhất định có thể
giúp thay đổi các mức giá tương ứng với những thay đổi của cơ cấu sản xuất trong
thời kỳ hiện đại hóa. Do đó lạm phát có liên quan tích cực với tăng trưởng.
11
Nhìn vào nền kinh tế của các nước đang phát triển, một số nhà kinh tế đã chỉ ra rằng
lạm phát góp phần tích cực vào tăng trưởng kinh tế vì nó tạo ra tiết kiệm và đầu tư
thông qua một số kênh. Chính phủ của các nước đang phát triển đang phải đối mặt
với các khoản thu vào không đầy đủ, thường vay vốn từ ngân hàng Trung ương để
tài trợ cho thâm hụt ngân sách của họ. Khi đó, lạm phát được xem như là một loại
thuế đánh vào nền kinh tế. Nguồn thu từ loại thuế lạm phát này được chính phủ sử
dụng để tăng sự hình thành vốn đầu tư bằng cách tài trợ cho đầu tư thực; miễn là cơ
chế tài trợ này không lấn át khu vựcđầu tư tư nhân. Lúc này lạm phát góp phần kích
thích tăng trưởng kinh tế. Tiền lương danh nghĩa có một độ trễ so với giá cả (tức là
thay đổi chậm hơn giá cả) do kỳ vọng được điều chỉnhtừ từ, lương thay đổi chậm
Trường phái cổ điển
Đại diện là nhà kinh tế học Adam Smith, cho rằng hàm sản xuất gồm có ba yếu tố là
lao động, vốn và đất đai (tài nguyên thiên nhiên):
𝑌 = 𝑓(𝐾, 𝐿, 𝑁)
Trong đó, Y là sản lượng đầu ra, K là nguồn vốn, L là lao động và N là đất đai.
Smith lập luận rằng lợi nhuận là động lực duy nhất thúc đẩy hoạt động sản xuất và
tiết kiệm là yếu tố quan trọng nhất tạo nên đầu tư dẫn đến tăng trưởng kinh tế. Ông
nói rằng theo thời gian khi một quốc gia phát triển và vốn tích lũy của nó được mở
rộng, tỷ lệ lợi nhuận sẽ có xu hướng giảm. Điều này xảy ra vì ba lý do. Thứ nhất, sự
cạnh tranh giữa các đối thủ trên thị trường. Thứ hai, nhu cầu về lao động tăng (cung
không đáp ứng cầu) và điều này đẩy mức lương (giá cả) lên cao. Tiền lương cao
hơn dẫn đến lợi nhuận thấp hơn cho các doanh nghiệp. Thứ ba, vốn lớn hơn đòi hỏi
các cơ hội đầu tưphải nhiều hơn - điều mà không phải luôn tồn tại trong một nền
kinh tế. Như vậy, lợi nhuận của các nhà sản xuất suy giảm không phải là do sự suy
giảm của năng suất biên mà là do sự cạnh tranh giữa những người chủ thuê lao động
khiến cho mức tiền lương bị đẩy lên cao từ đó ảnh hưởng đến mức giá chung của
nền kinh tế. Mặc dù ông không giải thích trực tiếp về mối quan hệ giữa lạm phát và
tác động thuế của nó lên lợi nhuận doanh nghiệp cũng như sản lượng đầu ra nhưng
ông ngầm cho thấy sự tương quan ngược chiều giữa lạm phát và tăng trưởng thông
qua sự đối nghịch giữa hai biến là lợi nhuận của doanh nghiệp và chi phí tiền lương.
13
Trường phái Keynes
Mô hình Keynes truyền thống với đường tổng cung (AS) và tổng cầu (AD) lại minh
họa cho mối quan hệ đồng biến giữa lạm phát và tăng trưởng trong ngắn hạn (hình
1.1) Trong ngắn hạn AS có xu hướng dốc lên cho thấy rằng tồn tại sự đánh đổi giữa
tỷ lệ lạm phát và tăng trưởng. Hay nói cách khác để đạt được tốc độ tăng trưởng cao
động tích cực của lạm phát đến tăng trưởng. Tác động Mundell-Tobin nói rằng vì
tiền và vốn là các yếu tố có thể thay thế, nên một sự gia tăng tỷ lệ lạm phát sẽ làm
xói mòn sức mua của tiền, gây ra một sự thay thế giữa các nguồn lực và dẫn đến
một sự thay đổi trong việc phân bổ số dư tiềntừdanh mục đầu tư tài sản vào vốn vật
chất (thay vì nắm giữ tiền thì người ta chuyển sang nắm giữ tài sản thực); điều này
sẽ làm tăng tích lũy vốn và do đó kích thích tăng trưởng kinh tế.
Thuyết tăng trưởng nội sinh
Trong lý thuyết tăng trưởng nội sinh, tốc độ tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào tỷ lệ
lợi nhuận trên vốn – tốc độ tăng trưởng năng suất. Vì lạm phát được xem như một
loại thuế nên nó làm giảm tỷ lệ lợi nhuận, gây trở ngại cho việc tích lũy vốn và do
đó làm giảm tốc độ tăng trưởng.
1.2. Các nghiên cứu thực nghiệm trước đó
1.2.1.
Các nghiên cứu ngoài nước
Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế là vấn đề rất quan trọng trong
kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, chủ đề này đã nhận được không ít các kết luận khác nhau
và không đồng nhất từ các nhà kinh tế học trên thế giới. Fischer (1993) được xem là
người đầu tiên kết luận về sự tồn tại của ngưỡng lạm phát trong các mối quan hệ
15
giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế; tức là, tương quan giữa lạm phát và tăng
trưởng là tích cực nếu lạm phát ở mức thấp nhưng sẽ trở thành tiêu cực nếu lạm
phát ở mức cao hơn. Sarel (1996) thấy rằng ngưỡng lạm phát là 8% trong một
nghiên cứu sử dụng một mẫu 87 quốc gia cho giai đoạn 1986-1990. Đặc biệt, mối
quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng khi lạm phát ở dưới mức tỷ lệ này là không
đáng kể (hoặc có tác động tích cực) nhưng sẽ hóa thành tác động tiêu cực khi tỷ lệ
trưởng kinh tế. Ông xử lý dữ liệu của 5 quốc gia ASEAN, bao gồm Thái Lan,
Indonesia, Philippines, Malaysia và Việt Nam, được quan sát từ năm 1980-2011.
Kết quả cho thấy tương quan nghịch giữa lạm phát và tăng trưởng khi lạm phát cao
hơn giá trị ngưỡng là 7.84%.
Ngoài các nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng cho mẫu lớn, một số tác giả đã áp dụng
dữ liệu ở cấp quốc gia trong nghiên cứu của họ. Salami và Kelikume (2010) sử
dụng mô hình phi tuyến lạm phát – tăng trưởng cho trường hợp ở Nigeria. Bài
nghiên cứu của họ kết luận một ngưỡng lạm phát 8% với bộ dữ liệu từ 1970-2008.
Tuy nhiên, ngưỡng lạm phát giảm xuống 7% khi họ thay đổi chuỗi thời gian nghiên
cứu thành 1980-2008.
Singh (2010) dựa vào phương trình ước lượng trong bài nghiên cứu của Sarel
(1996) và Khan và Senhadji (2001), đã ước lượng điểm ngưỡng lạm phát cho nền
kinh tế của Ấn Độ. Kết quả nghiên cứu cho thấy một ngưỡng lạm phát là 6% trong
giai đoạn 1971-2009.
Fakhri (2011) cũng đã nghiên cứu tác động của ngưỡng lạm phát đối với tăng trưởng
kinh tế ở Azerbaijani trong giai đoạn 2000-2009, và xác định sự tồn tại của ngưỡng
lạm phát 13% trong mối quan hệ lạm phát - tăng trưởng. Bài nghiên cứu cũng khẳng
định rằng tăng trưởng dự kiến sẽ giảm khoảng 3% khi lạm phát tăng cao hơn mức
ngưỡng này.
Trong một nghiên cứu về mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát ở
Pakistan sử dụng dữ liệu trong giai đoạn 1973-2000, Mubarik (2005) xác định
ngưỡng lạm phát là 9%. Kết quả về ngưỡng lạm phát trên là tương tự cho bài
17
nghiên cứu của Hussain và Malik (2011) khi cũng nghiên cứu về Pakistan trong giai
đoạn 1960-2006. Trên cơ sở kết quả này, họ đề nghị các nhà làm chính sách nên
kiểm soát lạm phát mục tiêu dưới mực ngưỡng để duy trì mối quan hệ tích cực giữa
18
ngắn hạn lạm phát tăng sẽ kéo theo tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm. Bên cạnh đó,
nghiên cứu cũng đưa ra được độ trễ thời gian phản ứng của lạm phát khi tăng
trưởng kinh tế thay đổi. Cụ thể là tăng trưởng sẽ ảnh hưởng đến lạm phát với độ trễ
ít nhất 1 quý và tác động mạnh nhất sau 5 quý với hệ số -0.069592, sau đó mức ảnh
hưởng giảm dần.
Một nghiên cứu khác của nhóm tác giả Trần Hoàng Ngân, Vũ Thị Lệ Giang và
Hoàng Hải Yến (2013) cho rằng lạm phát ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của
người lao động, người có thu nhập thấp và ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của
nền kinh tế. Với dữ liệu chuỗi thời gian từ 1987-2012, nhóm tác giả phân tích hệ số
tương quan giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam và kết luận rằng lạm
phát có tương quan âm với tăng trưởng trong một thời gian dài dù có hay không có
loại bỏ đi các cú sốc lạm phát. Cụ thể, trước khi loại bỏ các cú sốc lạm phát, một sự
gia tăng 1% của lạm phát sẽ khiến cho tăng trưởng giảm 0.382% do hệ số tương
quan giữa lạm phát và tăng trưởng là âm (r =-0.382). Tuy nhiên, sau khi các cú sốc
đã được loại bỏ thì hệ số tương quan lúc này vẫn âm (r = -0.357). Sau đó, nhóm tác
giả tách chuỗi dữ liệu thành hai giai đoạn (1987-2000 và 2001-2012) để so sánh, cả
hai giai đoạn đều cho thấy trong ngắn hạn, lạm phát hoặc là tác động tiêu cực thấp
đến tăng trưởng kinh tế hoặc là không thể kết luận được mối quan hệ rõ ràng giữa
hai biến. Từ dữ liệu quan sát được, nhóm tác giả cho rằng ngưỡng lạm phát ở Việt
Nam là từ 5-7%. Khi lạm phát ở dưới mức 5% nó có tác động tích cực đến tăng
trưởng (r = 0.809). Còn khi lạm phát ở mức cao hơn 7% thì lạm phát nghịch biến
với tăng trưởng (r = -0.596%). Ở khoảng này, lạm phát có thể giải thích được gần
65% sự thay đổi của tăng trưởng.
19
CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN VỀ LẠM PHÁT VÀ TĂNG TRƯỞNG Ở VIỆT
20
0
1980
1981
1982
1983
1984
1985
(Nguồn: Economy Watch)
Hình 2.1. Tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 1980-1985
Vào đầu thập niên 1980 khủng hoảng kinh tế kéo dài ở Việt Nam. Nguyên liệu đầu
vào chỉ đáp ứng được một nửa nhu cầu sản xuất, các ngành kinh tế đầu đàn phát
triển chậm khiến cho sản xuất trì trệ dẫn đến hàng tiêu dùng ngày càng khan hiếm.
Thêm vào đó, chiến tranh biên giới cùng với dân số tăng cao khiến cho nhu cầu về
thực phẩm và các hàng hóa khác cũng tăng theo. Nền kinh tế Việt Nam rơi vào tình
trạng lạm phát hai con số với tỷ lệ lạm phát trung bình giai đoạn 1980-1985 là
66.02%.