PHÂN TÍCH VỀ CÁC HÌNH THỨC SỞ HỮU TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ 2005 VÀ MỘT VÀI NHẬN XÉT, KIẾN NGHỊ VỀ CÁC QUY ĐỊNH ĐÓ - Pdf 33

Ketnooi.com vì sự nghiệp giáo dục

MỤC LỤC
MỤC LỤC .....................................................................................................................................................1
LỜI MỞ ĐẦU.................................................................................................................................................3
NỘI DUNG....................................................................................................................................................4
PHẦN THỨ NHẤT: CÁC HÌNH THỨC SỞ HỮU TRONG BLDS 2005..............................................................4
2. Chủ thể của sở hữu nhà nước.......................................................................................................5
3. Khách thể của sở hữu nhà nước...................................................................................................6
4. Nội dung hình thức sở hữu nhà nước...........................................................................................6
II. SỞ HỮU TẬP THỂ..............................................................................................................................7
1. Khái niệm chung và đặc điểm.......................................................................................................7
2. Chủ thể của sở hữu tập thể..........................................................................................................8
3. Khách thể của sở hữu tập thể.......................................................................................................8
4. Nội dung của sở hữu tập thể........................................................................................................9
III. SỞ HỮU TƯ NHÂN...........................................................................................................................9
1. Khái niệm chung và đặc điểm.......................................................................................................9
2. Chủ thể của hình thức sở hữu tư nhân.......................................................................................10
3. Khách thể của hình thức sở hữu tư nhân....................................................................................10
4. Nội dung sở hữu tư nhân............................................................................................................11
IV. SỞ HỮU CHUNG............................................................................................................................12
1. Khái niệm chung và đặc điểm.....................................................................................................12
2. Chủ thể của sở hữu chung..........................................................................................................12
3. Khách thể của sở hữu chung.......................................................................................................13
4. Nội dung của sở hữu chung........................................................................................................13
V. SỞ HỮU CỦA TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ, TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI.................................................14
1. Khái niệm chung và đặc điểm.....................................................................................................14

1



LỜI MỞ ĐẦU
Sở hữu là một phạm trù kinh tế mang yếu tố khách quan, xuất hiện và phát
triển song song cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Khi nói về sở hữu thì
các hình thức sở hữu luôn là vấn đề được quan tâm bởi hình thức sở hữu là sự phản
ánh ra bên ngoài nội dung của một chế độ sở hữu nhất định mà trong một xã hội dù
dưới bất kì một hình thức tổ chức thể chế nào cũng phải xác định trên một chế độ
sở hữu nhất định. Văn kiện Hội nghị Đại biểu giữa nhiệm kì khóa VII tháng 1 năm
1994 đã khẳng định hình thức sở hữu “là một bộ phận cấu thành hữu cơ của một
hình thái kinh tế - xã hội nhất định”. Tùy thuộc vào bản chất của mỗi chế độ xã hội,
sẽ có một chế độ sở hữu cùng với những quan hệ sở hữu thích hợp, mỗi một chế độ
sở hữu lại có thể tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau, trong đó mỗi hình thức
sở hữu lại có ý nghĩa và tác dụng khác nhau trong nền kinh tế quốc dân.
Do có sự tác động khác nhau đến quy trình sản xuất, phân phối, lưu thông
sản phẩm và do quy chế pháp lí của các quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt
đối với mỗi hình thức sở hữu cũng có nhưng nét riêng nên việc phân biệt các hình
thức sở hữu khác nhau trong pháp luật dân sự là điều cần thiết và hợp lí.
Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS 2005) đã có những quy định khá cụ thể về
các hình thức sở hữu trong chương XIII. Tuy vậy, bên cạnh sự hợp lí thì những quy
định về các hình thức sở hữu đó vẫn không thể tránh khỏi những điểm thiếu sót và
bất cập. Chính vì lí do đó, đề tài sau đây em xin tìm hiểu, phân tích về các hình
thức sở hữu trong BLDS 2005 đồng thời có một vài nhận xét và kiến nghị về các
quy định đó.

3


Ketnooi.com vì sự nghiệp giáo dục

NỘI DUNG
PHẦN THỨ NHẤT: CÁC HÌNH THỨC SỞ HỮU TRONG BLDS 2005.


Ketnooi.com vì sự nghiệp giáo dục

- Xác nhận việc chiếm hữu của Nhà nước đối với những TLSX chủ yếu, quan trọng
nhất;
- Quy định về nội dung và trình tự thực hiện các quyền năng chiếm hữu, sử dụng và
định đoạt đối với tài sản của Nhà nước.
- Xác định phạm vi, quyền hạn của các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp do
Nhà nước thành lập trong việc quản lí nghiệp vụ những tài sản do Nhà nước giao
theo quy định của pháp luật để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ kinh doanh, quản
lí hoặc hoạt động công ích.
Theo nghĩa chủ quan, quyền sở hữu nhà nước được hiểu là toàn bộ những hành vi
mà Nhà nước - với tư cách chủ sở hữu - thực hiện các quyền năng cụ thể về chiếm
hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản của mình. Nhà nước “là chủ” đối với các
TLSX chủ yếu và cũng tự quy định các quyền năng và các trình tự để thực hiện các
quyền năng, nhưng không có nghĩa là quyền hạn của Nhà nước là vô tận đối với
các tài sản mà nhà nước là chủ sở hữu. Nhà nước cũng như các chủ thể khác chỉ
thực hiện quyền của chủ sở hữu trong phạm vi pháp luật cho phép.
2. Chủ thể của sở hữu nhà nước.
Nhà nước là chủ sở hữu đối với tài sản thuộc chế độ sở hữu nhà nước, Nhà
nước tham gia quan hệ quyền sở hữu với tư cách là chủ thể đặc biệt và là chủ thể
duy nhất đối với các TLSX chủ yếu, Nhà nước đại diện cho nhân dân nắm và quản
lí toàn bộ tài sản thuộc sở hữu toàn dân đồng thời nắm toàn bộ quyền lực chính trị.
Nhà nước giao tài sản cho các doanh nghiệp nhà nước, cơ quan nhà nước, đơn vị vũ
trang quyền quản lí, sử dụng đúng mục đích theo quy định của pháp luật và thực
hiện quyền kiểm tra, giám sát việc quản lí, sử dụng tài sản đó.
Các điều 203, 204, 205 BLDS 2005 quy định về việc thực hiện quyền sở hữu
của Nhà nước đối với tài sản được đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước, tài sản được
giao cho cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang, tài sản được giao cho các tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp. Theo

ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc
phòng, an ninh cùng các tài sản khác do pháp luật quy định”.
4. Nội dung hình thức sở hữu nhà nước.
Điều 202 BLDS 2005: “Quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc hình

6


Ketnooi.com vì sự nghiệp giáo dục

thức sở hữu nhà nước
Việc quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước
được thực hiện trong phạm vi và theo trình tự do pháp luật quy định”.
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với tư cách là chủ sở hữu
đặc biệt cũng có những quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt những tài sản
thuộc sở hữu của mình.
Quyền chiếm hữu: Nhà nước thực hiện quyền chiếm hữu tài sản của mình
bằng cách ban hành các văn bản pháp quy, quy định việc bảo quản, quy định thể lệ
kiểm tra tài sản định kì và đột xuất để kiểm tra tài sản mà Nhà nước đã giao cho các
cơ quan, doanh nghiệp của Nhà nước. Các cơ quan, doanh nghiệp phải nghiêm
chỉnh thực hiện các quy định này.
Quyền sử dụng: Với tư cách là chủ sở hữu, Nhà nước đương nhiên có quyền
khai thác công dụng những tài sản thuộc sở hữu của mình. Tuy nhiên, việc này
cũng khác với quyền sử dụng của các chủ thể khác đối với tài sản của mình: Nhà
nước thực hiện việc khai thác lợi ích đối với tài sản của mình theo quy định của
pháp luật và theo một kế hoạch nhất định, Nhà nước không trực tiếp thực hiện
quyền sử dụng tài sản mà quyền này được chuyển giao cho các cơ quan, doanh
nghiệp của Nhà nước để khai thác công dụng, hoặc Nhà nước chuyển giao cho các
tổ chức, cá nhân thông qua các hợp đồng dân sự hay thủ tục hành chính nhất định.
Quyền định đoạt: Nhà nước định đoạt tài sản của mình bằng nhiều phương

nhất, không phụ thuộc vào số lượng xã viên, sở hữu tập thể của hợp tác xã không
phải là sở hữu chung theo phần của từng các nhân.
3. Khách thể của sở hữu tập thể.
Khách thể của sở hữu tập thể bao gồm các TLSX (không gồm các TLSX đặc
biệt thuộc sở hữu toàn dân theo quy định tại Điều 17 Hiến pháp 1992 và Điều 200
BLDS 2005), công cụ lao động, vốn góp của xã viên, các loại quỹ do hợp tác xã lập
ra. Tài sản thuộc sở hữu tập thể được quy định tại Điều 209 BLDS 2005: “Tài sản
thuộc hình thức sở hữu tập thể
Tài sản được hình thành từ nguồn đóng góp của các thành viên, thu nhập hợp pháp
do sản xuất, kinh doanh, được Nhà nước hỗ trợ hoặc từ các nguồn khác phù hợp
với quy định của pháp luật là tài sản thuộc sở hữu của tập thể đó”.

8


Ketnooi.com vì sự nghiệp giáo dục

4. Nội dung của sở hữu tập thể.
Nội dung của sở hữu tập thể (bao gồm cả ba lĩnh vực: chiếm hữu, sử dụng,
định đoạt) được quy định tại Điều 210 BLDS 2005 như sau:
“Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc hình thức sở hữu tập thể
1. Việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản thuộc hình thức sở hữu tập
thể phải tuân theo pháp luật, phù hợp với điều lệ của tập thể đó, bảo đảm sự phát
triển ổn định của sở hữu tập thể.
2. Tài sản thuộc hình thức sở hữu tập thể được giao cho các thành viên khai
thác công dụng bằng sức lao động của mình trong hoạt động sản xuất, kinh doanh
nhằm phục vụ nhu cầu mở rộng sản xuất, phát triển kinh tế chung và lợi ích, nhu
cầu của các thành viên.
3. Thành viên của tập thể có quyền được ưu tiên mua, thuê, thuê khoán tài
sản thuộc hình thức sở hữu tập thể”.

sở hữu, quyền thừa kế và các quyền khác đối với tài sản” thuộc quyền sở hữu của
mình. (khoản 2 Điều 15 BLDS 2005). Muốn trở thành chủ thể của sở hữu tư nhân
được toàn quyền tự mình hành xử những quyền năng của chủ sở hữu phải có những
điều kiện nhất định. Trường hợp công dân không có năng lực hành vi dân sự, năng
lực hành vi dân sự chưa đầy đủ, khi thực hiện quyền sử dụng hay định đoạt phải
thông qua hành vi của người giám hộ theo quy định từ Điều 59 đến Điều 79 BLDS
2005. Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự khi định đoạt tài sản như tặng, cho,
trao đổi... phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật.
BLDS ngoài việc quy định chủ thể của sở hữu tư nhân là công dân Việt
Nam còn công nhận các chủ thể sở hữu tư nhân là công dân nước ngoài, người Việt
Nam định cư ở nước ngoài có vốn về nước để sản xuất, kinh doanh. Những nguời
này cũng là chủ thể của sở hữu tư nhân đối với phần vốn, tài sản mà họ sở hữu ở
Việt Nam.
3. Khách thể của hình thức sở hữu tư nhân.
Khách thể của sở hữu tư nhân là những tài sản thuộc quyền sở hữu của cá
nhân công dân (có thể là TLSX hoặc tư liệu tiêu dùng).
Trong BLDS 20065, các loại tài sản thuộc hình thức sở hữu tư nhân được quy định
tại Điều 212: “Tài sản thuộc hình thức sở hữu tư nhân

10


Ketnooi.com vì sự nghiệp giáo dục

1. Thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản
xuất, vốn, hoa lợi, lợi tức và các tài sản hợp pháp khác của cá nhân là tài sản
thuộc hình thức sở hữu tư nhân.
Tài sản hợp pháp thuộc hình thức sở hữu tư nhân không bị hạn chế về số
lượng, giá trị.
2. Cá nhân không được sở hữu đối với tài sản mà pháp luật quy định không

Trong sáu hình thức sở hữu tại Bộ luật Dân sự 2005 thì hình thức sở hữu
chung được quy định với nhiều Điều luật nhất (13 điều, từ Điều 214 đến Điều
226).
BLDS 2005 đưa ra khái niệm và phân loại sở hữu chung trong Điều 214: “Sở hữu
chung
Sở hữu chung là sở hữu của nhiều chủ sở hữu đối với tài sản.
Sở hữu chung bao gồm sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất.
Tài sản thuộc hình thức sở hữu chung là tài sản chung”.
Việc xác lập sở hữu chung có thể từ thỏa thuận của các chủ sở hữu, theo quy định
của pháp luật hoặc theo tập quán (theo Điều 215).
“Sở hữu chung theo phần là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu
của mỗi chủ sở hữu được xác định đối với tài sản chung” (khoản 1 Điều 216
BLDS). Sở hữu chung theo phần bao gồm sở hữu chung hỗn hợp và các loại sở hữu
chung theo phần khác. Các điều 216 và 218 quy định về sở hữu chung theo phần,
sở hữu chung hỗn hợp, tài sản thuộc sở hữu chung hỗn hợp và việc chiếm hữu, sử
dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu chung hỗn hợp. Sở hữu chung hợp nhất bao
gồm sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia (ví dụ sở hữu chung của vợ chồng
trong quá trình hôn nhân) và sở hữu chung hợp nhất không thể phân chia (ví dụ sở
hữu chung của cộng đồng, sở hữu chung trong nhà chung cư đối với cầu thang, sân
chơi...).
2. Chủ thể của sở hữu chung.
Chủ thể của sở hữu chung là tất cả các chủ sở hữu đối với tài sản đó (hình
thức đồng sở hữu). Mỗi đồng chủ sở hữu khi thực hiện các quyền năng chiếm hữu,
sử dụng, định đoạt đối với tài sản chung sẽ liên quan đến quyền lợi của tất cả các
đồng chủ sở hữu khác. Tuy nhiên, mỗi đồng chủ sở hữu trong sở hữu chung có vị

12


Ketnooi.com vì sự nghiệp giáo dục



Ketnooi.com vì sự nghiệp giáo dục

của mình theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
2. Việc định đoạt tài sản chung hợp nhất được thực hiện theo thỏa thuận của
các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của pháp luật.
3. Trong trường hợp một chủ sở hữu chung bán phần quyền sở hữu của mình
thì chủ sở hữu chung khác được quyền ưu tiên mua. Trong thời hạn ba tháng đối
với tài sản chung là bất động sản, một tháng đối với tài sản chung là động sản, kể
từ ngày các chủ sở hữu chung khác nhận được thông báo về việc bán và các điều
kiện bán mà không có chủ sở hữu chung nào mua thì chủ sở hữu đó được quyền
bán cho người khác.
Trong trường hợp bán phần quyền sở hữu mà có sự vi phạm về quyền ưu
tiên mua thì trong thời hạn ba tháng, kể từ ngày phát hiện có sự vi phạm về quyền
ưu tiên mua, chủ sở hữu chung theo phần trong số các chủ sở hữu chung có quyền
yêu cầu Tòa án chuyển sang cho mình quyền và nghĩa vụ của người mua; bên có
lỗi gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại.
4. Trong trường hợp một trong các chủ sở hữu chung từ bỏ phần quyền sở
hữu của mình hoặc khi người này chết mà không có người thừa kế thì phần quyền
sở hữu đó thuộc Nhà nước, trừ trường hợp sở hữu chung của cộng đồng thì thuộc
sở hữu chung của các chủ sở hữu chung còn lại”.
V. SỞ HỮU CỦA TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ, TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI.

1. Khái niệm chung và đặc điểm.
Khái niệm sở hữu chung của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội
(TCCT, TCCT-XH) được quy định trong Điều 227 BLDS 2005. Theo đó ta có thể
hiểu: Sở hữu của các TCCT, TCCT-XH là một phạm trù kinh tế để chỉ một loại
hình sở hữu về tài sản là những cơ sở vật chất, kỹ thuật, trang thiết bị, vốn, các loại
quỹ... của các tổ chức đó. Sở hữu của các TCCT, TCCT-XH là sở hữu chung không

“Tài sản thuộc hình thức sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội
1. Tài sản được hình thành từ nguồn đóng góp của các thành viên, tài sản
được tặng cho chung và từ các nguồn khác phù hợp với quy định của pháp luật là
tài sản thuộc sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.

15


Ketnooi.com vì sự nghiệp giáo dục

Tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước đã chuyển giao quyền sở hữu cho tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị - xã hội là tài sản thuộc sở hữu của tổ chức đó.
2. Tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước giao cho tổ chức chính trị, tổ
chức chính trị - xã hội để quản lý và sử dụng thì không thuộc sở hữu của tổ chức
đó”.
4. Nội dung sở hữu của TCCT, TCCT-XH.
Các TCCT, TCCT-XH với tư cách là chủ sở hữu cũng có đầy đủ các quyền
năng của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật dân sự nhưng cũng có những nét
đặc thù. Điều 229 BLDS quy định: “Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội
thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình theo
quy định của pháp luật và phù hợp với mục đích hoạt động được quy định trong
điều lệ”.
Quyền chiếm hữu: Các TCCT, TCCT-XH kiểm soát tài sản của mình bằng
các phương thức như ban hành các nội quy, quy định nội bộ về việc quản lí, kiểm
kê, kiểm soát tài sản.
Quyền sử dụng: Cũng như các chủ thể khác, TCCT, TCCT-XH có quyền
khai thác công dụng của tài sản để thực hiện chức năng của tổ chức đó. Trong quá
trình khai thác tài sản, ngoài việc tuân theo các quy định của pháp luật còn phải phù
hợp với mục đích hoạt động đã được quy định trong điều lệ. Việc sử dụng tài sản
phải đúng tính năng, đúng công dụng, đúng phương thức, mang lại hiệu quả kinh tế

Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu của các TCCT,
TCCT-XH, TCCTXH, TCXH, TCXH-NHÀ NƯỚC phải theo quy định của pháp
luật và phù hợp với mục đích hoạt động được quy định trong điều lệ (quy định
trong Điều 232)

PHẦN THỨ HAI: NHỮNG NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ.
I. NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ CHUNG.

Sau một thời gian đi vào cuộc sống, Bộ luật Dân sự đã phát huy vai trò trong
việc tạo lập hành lang pháp lý cho các giao dịch dân sự, tạo chuẩn mực ứng xử
pháp lý cho các chủ thể tham gia các giao dịch, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích

17


Ketnooi.com vì sự nghiệp giáo dục

hợp pháp cho các chủ thể. Tuy nhiên, do sự phát triển của kinh tế - xã hội, Bộ luật
cũng đã bộc lộ ít nhiều hạn chế, nhất là những vấn đề liên quan đến sở hữu.
Trong chế định về các hình thức sở hữu, nhìn chung BLDS 2005 đã có
những cải thiện rõ rệt so với BLDS 1995. Điểm hợp lí đã được khẳng định trong
suốt thời gian qua khi Bộ luật phát huy vai trò trong thực tiễn cuộc sống. Tuy vậy,
do các nguyên nhân khác nhau trong quá trình xây dụng luật và do sự phát triển
không ngừng của xã hội, chúng ta đã nhận thấy một vài điểm không phù hợp trong
nội dung về các hình thức sở hữu.
BLDS 2005 quy định có sáu hình thức sở hữu là sở hữu nhà nước, sở hữu tập
thể, sở hữu tư nhân, sở hữu chung, sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, sở hữu của tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã
hội - nghề nghiệp (gọi chung là các tổ chức). Nhìn chung thì sáu hình thức sở hữu
của BLDS 2005 không thể hiện sự khác biệt về nội dung của quyền sở hữu. Việc
phân loại các hình thức sở hữu như trong Bộ luật Dân sự là chưa hợp lý vì các hình

Nên dựa vào tiêu chí là sự khác biệt trong chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản để
khẳng định hình thức sở hữu cho phù hợp, thay vì phân loại hình thức sở hữu theo
kiểu liệt kê như hiện nay. Cụ thể, nếu tài sản thuộc về một chủ thể thì gọi là hình
thức sở hữu tư nhân. Nếu tài sản thuộc sở hữu của từ hai chủ thể trở lên thì gọi là
hình thức sở hữu chung. Cuối cùng, nếu tài sản thuộc về Nhà nước thì gọi là hình
thức sở hữu Nhà nước. Tất nhiên, với cả 3 hình thức sở hữu này những đặc thù
riêng trong chiếm hữu, sử dụng, định đoạt của từng hình thức sẽ được pháp luật
quy định phù hợp. Còn nếu dựa vào tiêu chí chủ thể có quyền trực tiếp chiếm hữu,
sử dụng và định đoạt tài sản thì sẽ có 4 hình thức sở hữu là sở hữu nhà nước, sở
hữu cá nhân, sở hữu pháp nhân và sở hữu chung. Với một ý kiến khác: theo TS.
Phùng Trung Tập (Đại học Luật Hà Nội) cho rằng, “BLDS 2005 mới liệt kê được
các hiện tượng sở hữu tồn tại trong xã hội và có vẻ đánh đồng các hình thức sở hữu
với các thành phần kinh tế. BLDS sửa đổi không nên cá biệt hoá một nhóm tổ chức
nhất định thành một hình thức sở hữu, bỏ quy định sở hữu tập thể và sở hữu chung
hỗn hợp, đồng thời bổ sung hình thức sở hữu hợp tác xã”.
II. MỘT VÀI NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ CỤ THỂ CHO CÁC HÌNH THỨC SỞ HỮU.

1. Đối với hình thức sở hữu nhà nước.
Trong BLDS 2005, việc quy định hình thức sở hữu nhà nước thay cho sở
hữu toàn dân và sử dụng thuật ngữ "sở hữu nhà nước" là tăng trách nhiệm cho chủ
19


Ketnooi.com vì sự nghiệp giáo dục

sở hữu. Nhà nước là một cơ quan, một dạng của pháp nhân, là chủ thể có thực và
cũng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật trước nhân dân trong việc thực hiện
quyền năng sở hữu của mình. Đây là một điểm tiến bộ.
“Tài sản thuộc sở hữu nhà nước, Điều 200 BLDS 2005 có nêu ra các tài sản
là núi non, sông hồ, lãnh hải, thềm lục địa, vùng trời… giống như Điều 17 Hiến

mới có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt khối tài sản của HTX. Vì vậy, thực
chất, sở hữu tập thể trong HTX là sở hữu của pháp nhân...
3. Hình thức sở hữu tư nhân.
Đối với hình thức sở hữu tư nhân, em có một vài nhận xét và kiến nghị sau:
Xuất phát từ đặc điểm riêng của hình thức sở hữu tư nhân là sự chi phối trực tiếp có
ý thức của người chủ sở hữu đối với TLSX nên hình thức sở hữu này đã có tác
dụng lớn trong việc khuyến khích, thúc đẩy nền sự phát triển của nền kinh tế nói
chung vì chủ sở hữu đương nhiên coi TLSX của mình là điều kiện để thu về toàn
bộ lợi ích kinh tế trong quá trình sản xuất vật chất độc lập. Tuy các quy định ngày
càng thay đổi nhưng bản chất của sở hữu tư nhân vẫn là sự chuyển hóa từ quyền sở
hữu đối với tài sản thành quyền chiếm hữu lợi ích kinh tế. Điều này vẫn không có
sự thay đổi từ BLDS 1995. Tuy có nhiều mặt tích cực nhưng hình thức sở hữu tư
nhân vẫn tiềm ẩn những vấn đề phức tạp đặc biệt là khi nước ta đang trong thời kì
quá độ hiện tại. Vấn đề đặt ra là cần phải xác định cho được và quy định trong luật
những điều kiện phải có khi phát triển sở hữu tư nhân về TLSX trong tình hình
mới.
4. Về vấn đề sở hữu chung trong nhà chung cư.
Theo Điều 225, phần sở hữu chung trong nhà chung cư là phần diện tích,
trang thiết bị dùng chung trong nhà chung cư, các chủ sở hữu trong nhà chung cư
có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc quản lý, sử dụng phần diện tích và
thiết bị chung… Tuy nhiên, trên thực tế, nảy sinh rất nhiều vấn đề liên quan đến
phần sở hữu chung mà pháp luật dân sự chưa điều chỉnh. Chẳng hạn, phần diện tích
nào được coi là phần sở hữu chung phần diện tích này được bố trí ở khu vực nào
của tòa nhà chung cư, các chủ sở hữu khi căn hộ bán có được quyền để lại phần
diện tích được coi là sở hữu chung hay không… (theo ý kiến của ông Nguyễn
Mạnh Khởi - Cục Quản lý nhà và thị trường bất động sản, Bộ Xây dựng).

21



cấp trường, “Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung chế định pháp luật về hình thức sở hữu
trong BLDS năm 2005”, tháng 6/2010.
5. Tưởng Bằng Lượng, “Sở hữu chung theo phần hay sở hữu chung hợp nhất”, Tạp
chí toà án nhân dân, số 4/1999, tr. 20.

Website:
1. />%20php/view_detail.aspx?ItemID=1156
2. />%20php/view_detail.aspx?ItemID=1158
3. />4. />5. />6. />7. />
23




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status