Vấn đề định giá tài sản góp vốn được quy định như thế nào trong Luật doanh nghiệp và những ràng buộc về nghĩa vụ của người tham gia định giá - Pdf 33

Đề bài: Vấn đề định giá tài sản góp vốn được quy định như thế nào trong
Luật doanh nghiệp và những ràng buộc về nghĩa vụ của người tham gia định
giá

BỐ CỤC BÀI VIẾT
A. Phần mở đầu.


B .Nội dung chính
I. Vấn đề định giá tài sản góp vốn được quy định trong Luật doanh nghiệp
2005.
1. Xác định loại tài sản được dùng để góp vốn vào công ty
2. Xác định giá trị của tài sản góp vốn vào công ty .
3. Định gía tài sản góp vốn
II. Những ràng buộc về nghĩa vụ của người tham gia định giá.
C .Kết luận
D. Danh mục các tài liệu tham khảo.


Góp vốn vào công ty là việc các cá nhân hay pháp nhân chuyển quyền
sở hữu tài sản và/hoặc các quyền khác liên quan đến tài sản cho công ty để
trở thành chủ sở hữu hay đồng chủ sở hữu của công ty theo tỷ lệ vốn góp.
Xác định giá trị tài sản góp vốn được đặt ra đối với các loại tài sản góp vốn
không phải là tiền, vàng và ngoại tệ tự do chuyển đổi. Đây là vấn đề hệ trọng
vì nó liên quan đến lợi ích của nhiều bên: công ty, chủ sở hữu, chủ nợ…
Song, quy định của pháp luật hiện hành về thẩm quyền xác định các loại tài
sản được góp vốn, xác định giá trị tài khi góp vốn còn có nhiều điểm chưa rõ
ràng, cần được hoàn thiện. Vì vậy trong phạm vi một bài tiểu luận, tôi xin
được trình bày vấn đề định giá tài sản góp vốn được quy định như thế nào
trong Luật doanh nghiệp và những ràng buộc về nghĩa vụ của người tham
gia định giá để từ đó có thể hiểu phần nào về vấn đề này cũng như những

_Quyền tài chính: được phân chia lợi nhuận của doanh nghiệp tương ứng với
tỷ lêh giá trị phần vốn góp; gánh chịu phần lỗ tương ứng với tỷ lệ giá trị
phần vốn góp nếu doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, khi đang hoạt động cũng
như khi doanh nghiệp kết thúc hoạt động; nhận phần tài sản còn lại tương
ứng với tỷ lệ phần vốn góp sau khi đã thanh toán hết các nghĩa vụ của doanh
nghiệp khi doanh nghiệp bị giải thể, phá sản.
_Quyền phi tài chính như quyền biểu quyết, quyền thong tin.


Ngoài ra, phần vốn góp với tư cách là một tài sản có giá trị tiền tệ nên
chủ sở hữu được tự do chuyển giao trong giao dịch dân sự.Tuy nhiên việc
chuyển giao này bị hạn chế bởi một số quy định theo LDN nhằm bảo đảm sự
hoạt động lành mạnh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế.
Như vậy phần vốn góp là một tài sản đặc biệt được hình thành thông
qua việc góp vốn vào doanh nghiệp và tồn tại song song với sự tồn tại của
doanh nghiệp.Phần vốn góp không phải là tài sản cụ thể như những tài sản
khi đem góp vốn.
Còn tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển
đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ,
bí quyết kĩ thuật , các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty.Những tài sản
này khi được người góp vốn đem góp vào doanh nghiệp theo một trình tự,
thủ tục nhất định thì nó đã trở thành tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp
(pháp nhân). Do đó, cá nhân người góp vốn không còn quyền sở hữu đối với
tài sản đã góp vốn.Đổi lại họ được sở hữu phần vốn góp và có các quyền
như đã nêu trên..
1. Xác định loại tài sản được dùng để góp vốn vào công ty
Theo Điều 4.4 LDN 2005 “…Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam,
ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền
sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều
lệ công ty…”. Điều 5 Nghị định số 102/2010/NĐ- CP hướng dẫn bổ sung



sở hữu hoặc nhóm chủ sở hữu chiếm đa số vốn. Pháp luật quy định tài sản
góp vốn phải được ghi nhận tại Điều lệ đồng nghĩa với việc pháp luật quy
định thẩm quyền quyết định loại tài sản góp vốn thuộc về chủ sở hữu hoặc
hội đồng thành viên các công ty trách nhiệm hữu hạn và đại hội đồng cổ
đông công ty cổ phần (theo nguyên tắc biểu quyết đa số của các cơ quan
này). Hơn thế nữa, riêng vấn đề thay đổi loại tài sản góp vốn đã cam kết góp
của thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, Điều 39
LDN 2005 còn yêu cầu áp dụng nguyên tắc nhất trí của các thành viên công
ty. Những quy định trên là hợp lý bởi vấn đề vốn góp quyết định đến quyền
và nghĩa vụ pháp lý của các chủ sở hữu tại công ty, quyết định đến hiệu quả
sử dụng tài sản, rủi ro và lợi nhuận của công ty.
Tuy nhiên, quy định tại Điều 4.4 LDN 2005 đang tạo ra hai cách hiểu
khác nhau, mà việc nghiêng về quan điểm nào cũng không thoả đáng:
- Cách hiểu thứ nhất, mọi loại tài sản được dùng để góp vốn vào
công ty đều phải được Điều lệ công ty quy định rõ, kể cả các loại tài sản
là tiền Việt Nam,

ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng

đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật.
- Cách hiểu thứ hai, những loại tài sản là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do
chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí
tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật đương nhiên được sử dụng là tài sản góp
vốn theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, những loại tài sản khác chưa
được liệt kê tại điều luật chỉ được công ty chấp nhận là tài sản góp vốn khi
Điều lệ công ty đã quy định.
Các công ty sẽ gặp vướng mắc và dễ nảy sinh tranh chấp nếu quy định
không rõ ràng của Điều 4.4 LDN 2005 được sao chép y nguyên vào Điều lệ


tài sản góp vốn được định giá cao hơn so với giá trị thực tế tại thời điểm góp
vốn thì các thành viên, cổđông sáng lập liên đới chịu trách nhiệm đối với
các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bằng số chênh lệch giữa
giá trịđược định và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc
định giá. “
Quy định tại Điều 30 trên đây có nhiều điểm chưa được rõ ràng, mâu
thuẫn với những quy định khác trong chính LDN 2005. Các văn bản hướng
dẫn chi tiết thi hành LDN 2005 và pháp luật về đầu tư đều không có hướng
dẫn bổ sung về vấn đề này.
Trước hết, Điều luật đã phân biệt hai thời điểm có sự kiện góp vốn
bằng tài sản phải định giá: (i) khi thành lập công ty, và (ii) khi công ty đã
được thành lập và đang hoạt động.
Vào thời điểm thành lập công ty, giá trị của tài sản góp
vốn được xác định theo nguyên tắc nhất trí giữa các sáng lập viên. Quy
định này là phù hợp vì mọi thoả thuận về thành lập công ty đều phải được
các sáng lập viên nhất trí theo nguyên tắc tự do hợp đồng.
Vào thời điểm công ty đã thành lập và đang hoạt động, giá trị
của tài sản góp vốn được xác định bởi sự thoả thuận giữ công ty và
người góp vốn. Về hình thức, áp dụng nguyên tắc thoả thuận giữa công ty và
người góp vốn khi xác định giá trị tài sản góp vốn là phù hợp.
Nhưng về phương diện quản trị công ty, điều luật lại không quy định rõ cơ
quan nào trong công ty trực tiếp có thẩm quyền quyết định giá làm cơ sở để
công ty thoả thuận với người góp vốn. Các cơ quan được nói đến gồm: đại
hội đồng cổđông, hội đồng quản trị của công ty cổ phần; hội đồng thành
viên, chủ sở hữu của công ty trách nhiệm hữu hạn, giám đốc (tổng giám đốc)
của công ty (các loại) hay người đại diện theo pháp luật của công ty (các
loại).



đồng chủ sở hữu khác đồng thời bị xâm phạm. Do vậy, cần phải xác định
trách nhiệm pháp lý, trước hết là trách nhiệm dân sự, cho những cá nhân trực
tiếp “thiết lập” các giao dịch góp vốn có tính chất man trá này.
II.Những ràng buộc về nghĩa vụ của người tham gia định giá.
Điều 30 LDN 2005 đã đề cập đến trách nhiệm dân sự liên đới của một
số cá nhân về nghĩa vụ trả nợ của công ty với mức trách nhiệm bằng giá trị
chênh lệch giữa giá trị thực và giá trị định giá ảo của tài sản góp vốn. Tuy
nhiên, trách nhiệm này mới chỉ hướng đến bảo vệ quyền lợi của chủ nợ, mà
chưa bảo vệ được quyền lợi của công ty và bảo vệ quyền lợi của các đồng
chủ sở hữu khác của công ty.
Chủ thể phải chịu trách nhiệm liên đới khi tài sản góp vốn được xác
định cao hơn so với giá trị thực vào thời điểm góp vốn, Điều 30 LDN 2005
xác định trách nhiệm thuộc về các sáng lập viên nếu việc góp vốn bằng tài
sản được thực hiện vào thời điểm thành lập công ty, và người đại diện theo
pháp luật của công ty, nếu việc góp vốn được thực hiện trong quá trình công
ty đang hoạt động. Trường hợp thứ hai xét thấy có nhiều điểm không hợp lý:
- Về logic, ai quyết định thì người đó phải chịu trách nhiệm. Phải chăng
có thể suy diễn, LDN 2005 đã dành quyền quyết định giá trị tài sản góp vốn
cho người đại diện theo pháp luật? Suy diễn này không phù hợp, ít nhất là


đối với giao dịch góp vốn thuộc các trường hợp là giao dịch tài sản có giá trị
lớn và giao dịch dễ phát sinh tư lợi.
- Để tránh rủi ro phải chịu toàn bộ trách nhiệm như quy định của pháp
luật hiện hành, người đại diện theo pháp luật khôn ngoan sẽ đơn phương từ
chối thực hiện tất cả các giao dịch góp vốn bằng tài sản phải định giá, không
cần phân biệt việc định giá có đúng hay không. Trong trường hợp này, phản
ứng của các chủ hữu khác chỉ có thể là quyết định thay đổi người đại diện
theo pháp luật sang người ít khôn ngoan hơn.
- Thực tế, người đại diện theo pháp luật chỉ có thẩm quyền về hình thức




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status